THI SĨ THI CA

(136)

 

Kỳ 1, Kỳ 2, Kỳ 3, Kỳ 4, Kỳ 5, Kỳ 6, Kỳ 7, Kỳ 8, Kỳ 9, Kỳ 10, Kỳ 11, Kỳ 12, Kỳ 13, Kỳ 14, Kỳ 15, Kỳ 16, Kỳ 17, Kỳ 18, Kỳ 19, Kỳ 20, Kỳ 21, Kỳ 22, Kỳ 23, Kỳ 24, Kỳ 25, Kỳ 26, Kỳ 27, Kỳ 28, Kỳ 29, Kỳ 30, Kỳ 31, Kỳ 32, Kỳ 33, Kỳ 34, Kỳ 35, Kỳ 36, Kỳ 37, Kỳ 38, Kỳ 39, Kỳ 40, Kỳ 41, Kỳ 42, Kỳ 43, Kỳ 44, Kỳ 45, Kỳ 46, Kỳ 47, Kỳ 48, Kỳ 49, Kỳ 50, Kỳ 51, Kỳ 52, Kỳ 53, Kỳ 54, Kỳ 55, Kỳ 56, Kỳ 57, Kỳ 58, Kỳ 59, Kỳ 60, Kỳ 61, Kỳ 62, Kỳ 63, Kỳ 64, Kỳ 65, Kỳ 66, Kỳ 67, Kỳ 68, Kỳ 68,Kỳ 66, Kỳ 69, Kỳ 70, Kỳ 71, Kỳ 72, Kỳ 73, Kỳ 74, Kỳ 75, Kỳ 76, Kỳ 77, Kỳ 78, Kỳ 79, Kỳ 80, Kỳ 81, Kỳ 82, Kỳ 83, Kỳ 84, Kỳ 85, Kỳ 86, Kỳ 87, Kỳ 88, Kỳ 89, Kỳ 90, Kỳ 91, Kỳ 92, Kỳ 93, Kỳ 94, Kỳ 95, Kỳ 96, Kỳ 97, Kỳ 98, Kỳ 99, Kỳ 100, Kỳ 101, Kỳ 102, Kỳ 103, Kỳ 104, Kỳ 105, Kỳ 106, Kỳ 107, Kỳ 108, Kỳ 109, Kỳ 110, Kỳ 111, Kỳ 112, Kỳ 113, Kỳ 114, Kỳ 115, Kỳ 116, Kỳ 117, Kỳ 118, Kỳ 119, Kỳ 120, Kỳ 121, Kỳ 122, Kỳ 123, Kỳ 124, Kỳ 125, Kỳ 126, Kỳ 127, Kỳ 128, Kỳ 129, Kỳ 130, Kỳ 131, Kỳ 132, Kỳ 133, Kỳ 134, Kỳ 135, Kỳ 136,

Francis Ponge

Chương 1

Francis Ponge Thi sĩ của Đối Vật

   Đến với sự vật nhưng con người lại chạm mặt thách thức lớn lao nhất: sự im lặng của sự vật. Ponge chấp nhận và giải quyết thách thức này cho nên thi ca của Ponge đặt trên nền tảng sự câm nín kép (double mutisme) của ngôn ngữ và của sự vật. Một thí dụ về thế giới câm nín của sự vật: thế giới thực vật: “Thực vật chỉ thể biểu lộ bằng tạo dáng/ điệu.” Khác với con người có nhận thức về ngã và hiểu được mình nói về cái gì trong khi sự vật không có khả năng này. Thế nên để nhận ra được sự có mặt của sự vật – có mặt, hiện diện (présence) hiểu theo nghĩa hẹp thì sự vật phải là hữu đi trước bản ngã. Thế nhưng sự vật lại không hiện hữu theo cách này nên Ponge đề nghị  nhìn sự vật bằng“cái nhìn-như-thể-người ta-nói-với-sự vật” (le regard-de-telle-sorte-qu’on-le-parle). Như thế, theo Ponge, kinh qua những khoảnh khắc câm nín của cả sự vật lẫn ngôn ngữ đưa tới khám phá ra được một đáp trả. Ở điểm ngày người ta phản biện rằng quan niệm của Ponge chỉ là sản phẩm của tưởng tượng có tính cách nhân học (anthropomorphique) vì đã cho sự vật tính người. Ponge trong bài Faune et Flore đáp lại: Nếu như “người ta không thể ra khỏi cái cây bằng những phương tiện của cây” thì người ta cũng chẳng thể đi vào/nhập thể cây bằng những phương tiện của con người. [39] Nhưng thực ra ở đây vấn đề không phải là xuất/nhập bởi vì con người vốn đã hiện hữu chung cùng với sự vật trong thế giới hay nói như Heidegger con người hiện hữu là hiện hữu trong thế giới. Jean Tortel trong bài tham luận Ponge qui n’a de cesse đọc tại buổi Hội thảo Cerisy cho rằng: “Sự chạm mặt này, mà Ponge đã nhận biết sự khẩn thiết ngay khi ông ta cắt mảnh lời nói ra, ông ta đã tự điều khiển trong những điều kiện triệt để nhất để nâng cao thách thức này. Tuy vậy, đứng về phía sự vật cứu xét những từ, đó có thể là thao tác thi ca đã được xác định một cách riêng.”

   Hiện hữu cũng có nghĩa nói, tức thực hành ngôn ngữ, nhất là tiếng mẹ đẻ. Với Ponge, đó là tiếng Pháp: “Khả năng biểu đạt một cách nguyên ủy và thông giao trong tiếng này, đó là cách thế hiện hữu của chúng ta…cách thế để chúng ta chứng tỏ sự hiện hữu đặc thù cùa chúng ta.”[40] Điểm khá đặc biệt là Ponge hiểu “tiếng nói/ngôn ngữ” theo nghĩa ngôn ngữ khởi nguyên. Trong phần Tranh Luận tiếp sau bài thuyết trình nói trên Francis Ponge phát biểu: “Đặc tính của ngôn ngữ, đó vừa nội giới lẫn ngoại giới, đó chính là phẩm chất của nó. Tôi nghĩ rằng mọi người lầm, và hiện nay lầm hơn bao giờ hết, khi quên rằng chúng ta hoàn toàn bị giam kín trong từ, trong ngôn ngữ, rằng chúng ta chẳng thể ra khỏi, rằng nếu như chúng ta thử nói ngược lại, thì chúng ta lại vẫn cứ ở trong ngôn ngữ, và không chỉ ở trong ngôn ngữ nói chung mà thôi, nhưng cả ở trong tiếng Pháp bởi chúng ta dùng tiếng Pháp, và từ những nguồn gốc của nó đến từ tiếng mẹ, chẳng hạn như tiếng La tinh là một phần rất quan trọng của những nguồn gốc của tiếng Pháp…”[42] Vì quan niệm sử dụng ngôn ngữ là một cách thế hiện hữu cho nên hình thức con người khi nói đặt ra cho thế giới tùy thuộc vào hình thức nội giới của ngôn ngữ sử dụng. Nghĩa là mối tương quan của con người với thế giới phản ánh trong ngôn ngữ cũng ngầm chứa đựng một cách thế được xác định về hành xử với bản thân. Ponge viết: “Điều này chỉ là phần đầu tính cách của tôi. Phần thứ nhì chính là sự tiêm nhiễm di truyền, dòng giống của chúng ta, sự hiểu biết và sự tùy thuộc của chúng ta vào dữ kiện con người, của dữ kiện người Pháp, của dữ kiện văn chương Pháp.”[43] Vì ngôn ngữ có mặt trong các tác phẩm văn chương nên vấn đề về mối tương quan giữa ngôn ngữ và văn chương được đặt ra. Giữa tác phẩm văn chương vốn là một công trình ngôn ngữ đối với ngôn ngữ đã được sử dụng có một sự độc lập tương đối và sự độc lập này do chính ngôn ngữ chứ không phải do chủ đề cung cấp. Ponge xác quyết vấn đề này như sau: “Vấn đề không phải là đưa ra những ý kiến, cũng không phải là đưa ra những thị hiếu, mà là đưa ra bất kỳ cái gì khác theo chính mình.”[44] Cũng vì  ngôn ngữ lại chính là cách thế sống ở đời tùy nơi ta nên văn chương có thể đưa ra những kiểu mẫu, những thí dụ sống. Nhưng văn chương chính nó lại được khai mở từ sức mạnh của ngôn ngữ nhằm vượt lên trên những gì đã được sử dụng để tạo hiệu ứng nên người viết khi dự phần vào năng lượng nội tại của ngôn ngữ chỉ là nhà văn khi vận dụng được khả năng này của mình để biểu đạt được thứ “lời nói ở trạng thái phát sinh” (langage à l’état naissant) như Ponge quan niệm. Trước yêu cầu giải thích “lời nói ở trạng thái phát sinh” là gì của một tham dự viên sau khi nghe Jean Tortel thuyết trình Jean Tortel trả lời: “Thật rất khó. Lời nói ở trạng thái phát sinh này chính là một sự gạn lọc, một sự kết tủa, một sự run rẩy, một sự vui thú.”[45]  Philippe Bonnefis (cũng là một thuyết trình viên) đóng góp ý kiến về “lời nói ở trang thái phát sinh” nhắc đến Henri Maldiney trong quyển sách viết về Francis Ponge có đề nghị một giải đáp, cho rằng “lời nói ở trạng thái phát sinh này đưa nhà văn trở lại khoảnh khắc huyền bí trong đó lời nói lần đầu tiên gặp mặt sự vật, và cùng lúc, khi gặp gỡ sự vật, nhận biết và biểu lộ.” Francis Ponge đóng góp về vấn đề này trong phần Tham Luận cho rằng đây là vấn đề của việc xuất hiện cùng lúc của cả sự vật lẫn lời nói, trong khoảnh khắc cần bày tỏ một tình cảm, rất có thể là nỗi kinh sợ hay một tình cảm xuất ngã (sentiment extatique). Như thế, khi một sự vật hiện ra, nó hiện ra vì ta phân biệt nó trong mớ hỗn mang (chaos), một tình cảm mãnh liệt buộc ta phải nói, bày tỏ tình cảm khiếp sợ, hay cũng có thể là một tình cảm hạnh phúc, ta nói lên tên sự vật. Ponge cho rằng đó cũng có thể là một tiếng kêu như một biểu lộ tình cảm đồng thời cũng là việc gọi tên (nomination), chỉ định, phân biệt sự vật. Nghĩa là đặt một tấm lưới ngôn ngữ lên trên hỗn mang và cùng lúc thông giao với người khác. Ponge đưa thí dụ con người thời hang động, hắn đứng trước cửa hang trong khi gia đình hắn đang ở trong hang và hắn thấy một con cọp xuất hiện nên hắn kinh sợ kêu lên, nghĩa là hắn biểu lộ một tình cảm, đồng thời tiếng kêu này nói lên một sự cần thiết để báo động cho gia đình trong hang biết “đừng có ra ngoài, có cọp”. Trong tiếng kêu này “Có tất cả những yếu tố của lời nói ở trạng thái phát sinh: sự phân biệt, chỉ định/dấu, gọi tên sự vật, bằng cùng một cách, hắn sáng tạo, bởi hắn phân biệt sự vật trong cõi hỗn mang, bởi hắn đặt tấm lưới này trên hỗn mang. Khởi thủy là Động từ.” Ponge cho rằng hắn sáng tạo sự vật trước đây không hiện hữu, chưa được chỉ định. Hắn biểu lộ một tình cảm, và hắn thông giao một mệnh lệnh, một thông điệp. Một vấn đề khá gai góc được một thuyết trình viên khác là Maurice de Gandillac nêu ra: dù rằng Ponge có lý khi nói rằng đó là một tiếng kêu nhưng lại cũng còn là một cái gì khác bởi nó đã có ý nghĩa. Thế nhưng việc đi từ tiếng kêu sang ý nghĩa có đi qua khái niệm “vật chất” không? Câu trả lời của Pỏng: Có. Đó là vì sự khác biệt giữa con người và các sinh vật khác ngay từ khởi thủy về mặt ngôn ngữ biểu đạt (langage articulé). Tuy nhiên không vì vậy mà cho rằng con người đẳng cấp hơn súc vật. Pong3e cũng nhấn mạnh khi mình nói đến ý nghĩa (signification) thì đó không phải là ý nghịa mà là về sự định (désignation), về biểu lộ (expression) và về thông giao (communication). Khi Maurice de Gandillac bắt bẻ cho rằng đó vẩn cứ là con đường đi tới ý nghĩa Ponge trả lời “Đúng thế, ngôn ngữ ở trạng thái phát sinh triệt hủy những ý nghĩa. Đặc điểm của thi sĩ chính là đặt mình lại vào lúc những ý nghĩa những ý nghĩa không là những ý nghĩa, lúc anh ta nói hơn một lần, anh ta tìm cách nói lần nữa, như người đầu tiên đã nói, nghĩa là hắn lầm lộn từ, bởi những từ của ngôn ngữ thông thường, với những ý nghĩa đã đóng bang của nó, đúng là không thích ứng với hắn.[48]

____________

[39] Francis Ponge, Faune et Flore, TOME PREMIER trang 92.

[40] Jean Tortel, Ponge qui n’a de cesse trong Franccis Ponge, Colloque de Cerisy trang 24: Cette confrontation, dont Ponge a reconnu l’urgence dès qu’il entama la parole, il se la commande à lui-même dans les conditions les plus extrêmes à relever de défi. Cependant que, prendre le parti pris des choses compte tenu des mots, c’est peut-être l’opération poétique qui est proprement definie.

[41] Francis Ponge, Pour un Malherbe trang 78.

[42] Franccis Ponge, Colloque de Cerisy trang 37: Le propre du langage, c’est d’être à la fois intérieur et extérieur, c’est sa vertu. Je pense que tout le monde se trompe, et actuellement autant que jamais, en oubliant que nous sommes entièrement enfermés dans les mots, dans le langage, que nous ne pouvons en sortir, que si nous essayons de dire le contraire, nous sommes encore à l’intérieur de la langue, et non seulement de la langue générale, mais de la langue française puisque nous employons la langue française, et de ses racines qui lui viennent de sa mère, mettons le latin pour la plus importante part des sources du française…

[43] Francis Ponge, Pour un Malherbe trang 78: Cela n’est que la première partie de ma personnalité. La seconde c’est notre imprégnation héréditaire, notre filiation, notre connaissance et dépendence du donné humain, du donné français, du donné littéraire français.

 [44]  Sđd trang 78: Il ne s’agit tant de formuler des opinions, ni même des goûts, que de formuler n’importe quoi moi-même.

[45] Jean Tortel, Ponge qui n’a de cesse trong Franccis Ponge, Colloque de Cerisy trang 35: C’est très difficile. Cette parole à l’état naissant, c’est une effervercense, c’est une floculation, c’est un tremblement, c’est une joie.

[46] Sđd trang 35: Je crois me souvenir qu’Henri Maldiney, dans son livre sur Francis Ponge, propose une réponse à la question que vous venez de formuler, rappelant que cette parole à l’état naissant renverrait l’écrivain à ce moment mythique où la parole pour la première fois rencontre la chose, et du même coup, rencontrant la chose, se rencontre et s’exprimer.

[47] Franccis Ponge, Colloque de Cerisy trang 36: DISCUSSION Francis Ponge: Il y a tous les éléments de la parole à l’état naissant: la distinction, la désignation, la nomination de la chose que, de cette façon même, il crée, parce qu’il la distingue du chaos, parce qu’il pose cette grille sur le chaos. Au commencement était le Verbe.

[48] Sđd, trang 38: Justement. Le langage à l’état naissant supprime les significations. Le propre du poète c’est juqstement de se replacer au moment où les significations ne sont pas des significations, où il parle à nouveau, il cherche à parler à nouveau, comme a parlé le premier homme, c’est-à-dire qu’il se trompe de mot, parce que les mots du langage courant, avec leur significations figées, ne lui sont pas convenables, justement.

 

 

Francis Ponge

T

BÀN VỀ NƯỚC

 

Ở dưới thấp hơn tôi nhiều, luôn ở dưới tôi nhiều, có nước ở đó. Luôn luôn hạ thấp tầm mắt tôi nhìn nước. Như mặt đất, như một phần mặt đất, như một sự biến đổi mặt đất.

Nước trắng và sáng, không hình dạng và trong trẻo, thụ động và ngoan cố trong thói xấu của nó; trọng lực, sẵn sàng dung những phương tiện ngoại hạng để thỏa mãn thói xấu này: xoáy vòng, xuyên qua, xói mòn, lọc,

   Ngay chính trong nước thói xấu này cũng dở trò: nước không ngừng đổ xập xuống, từ chối bất kỳ hình thức nào từng hồi, chỉ có ý hướng tự làm nhục, nằm xấp trên mặt đất, gần như một xác chết, giống như những thầy tu theo một thứ hạng nào đó. Luôn luôn thấp nữa, đó dường như là phương châm của nó: cái đối nghịch với vươn cao lên.

   Người ta hầu như có thể nói rằng nước là điên rồ, bởi cái nhu cầu cuồng loạn chỉ vâng lời trọng lượng của nó, trọng lượng này sở hữu nó như một định kiến.

   Chắc vậy, ai cũng biết nhu cầu này, nhu cầu luôn luôn và khắp chốn phải được thỏa mãn. Cái tủ này, chẳng hạn, tỏ ra thật cứng đầu trong sự ham thích dính chặt xuống đất, và nếu như một ngày nào đó nó ở trong sự mất cân bằng, thì nó thà chịu chìm nghỉm hơn là làm ngược lại. Thế nhưng rút cục, trong một chiều kích nào đó, nó đùa rỡn với trọng lực, nó thách thức trọng lực: nó không đổ xụp trong mọi bộ phận của nó, cái gờ của nó, những cái khung của nó không tuân hành. Trong nó có một sức chống trả thiên về tình cách và hình thức của nó.

   CHẤT LỎNG theo định nghĩa là cái ưa vâng lời trọng lực, hơn là duy trì hình thức của nó, nó từ chối mọi hình thức khả dĩ để vâng lời trọng lực của nó.  Và nó từ chối là do cái định kiến này, sự thận trọng bệnh hoạn này. Do tật xấu này, làm cho nó nhanh, hối hả hay ù lì; không hình dạng hay tàn bạo, không hình dạng và tàn bạo, tàn bạo đục lỗ, chẳng hạn thế; mưu mẹo, thẩm nhập, quanh co; dù cho người ta có thể muốn làm nó ra sao tùy thích, và đưa nước vào những cái ống để rồi làm cho nó phọt thẳng ra chỉ để thích thú về cách nó trút xuống như mưa: một kẻ nô lệ thực sự.

 Thế nhưng mặt trời và mặt trăng lại ghen tức về cái ảnh hưởng độc quyền này, và chúng cố tạo ảnh hương trên nước khi nước tràn lan trên những vùng rộng lớn, nhất là khi nước khi ở đó trong trạng thái không mấy kháng cự, bị tản mát ra thành những vũng mỏng. Mặt trời khi đó trích xuất một phần cống nộp thật lớn. Mặt trời buộc nó chạy vòng vòng hoài hủy, đối xứ với nó như với một con sóc trong lồng.

 

   Nước chạy trốn tôi…chảy giữa những ngón tay tôi. Và lại nữa! Thật cũng chẳng sạch mấy (không như một con thằn lằn hay một con cóc): nó lưu lại trên bàn tay tôi những vết, những đốm, lau khô tương đối cũng lâu hay phải chùi đi. Nước chạy trốn tôi và lại đánh dấu tôi, tôi chẳng thể làm gì được.

   Cũng vậy đối với ý thức hệ: nó chạy trốn tôi, chạy trốn khỏi mọi định nghĩa, nhưng lưu lại trong đầu óc tôi và nhất là trên tờ giấy này những vết, những vết không hình thù.

   Sự âu lo của nước: nhạy cảm với sự thay đổi độ dốc chút xíu. Nhảy xuống thang cả hai chân cùng lúc. Đùa nghịch, sự vâng lời thơ dại, lập tức quay trở lại khi người ta nhắc nhở nó đổi sang dốc phía này.

 

DE L’EAU

 Plus bas que moi, toujours plus bas que moi se trouve l’eau. C’est toujours les yeux baissés que je la regarde. Comme le sol, comme une partie du sol, comme une modification du sol.

Elle est blanche et brillante, informe et fraîche, passive et obstinée dans son seul vice: la pesanteur, disposant des moyens exceptionnels pour satifaire ce vice: contournant, transperçant, érodant, filtant.

À l’interieur d’elle-même ce vice aussi joue: elle s’effronde sans cesse, renonce à chaque instant à toute forme, ne tend qu’à s’humilier, se couche à plat ventre sur le sol, quasi cadavre, comme les moines de certain ordres. Toujours plus bas: telle semble être sa devise: le contraire d’excelsior.

 

On pourrait presque dire que l’eau est folle, à cause de cet hystérique besoin de n’obéir qu’à sa pesanteur, qui la possède omme une idée fixe.

Certes, tout au monde connaît ce besoin, qui toujours et en tous lieux doit être satisfait. Cette armoire, par exemple, se monstre fort têtue dans son désir d’adhérer au sol, et si elle se trouve un jour en équilible instable, elle prefèrera s’abîmer plutôt que d’y contrevenir. Mais enfin, dans une certaine mesure, elle joue avec la pesanteur, elle la défie: elle ne s’effrondre pas dans toutes ses parties, sa corniche, ses moulures ne s’y conforment pas. Il existe en elle une résistance au profit de sa personnalité et de sa forme.

LIQUIDE est par définition ce qui préfère obéir à la pesanteur, plutôt que maintenir sa forme, ce qui refuse toute forme pour obéir à sa pesanteur. Et qui refuse tenue à cause de cette idée fixe, de ce scrupule maladif. De ce vice, qui le rend rapide, precipitié ou stagnant; amorphe et féroce, féroce térébrant, par exemple; rusé, filtrant, contournant, si bien que l’on peut faire de lui ce que l’on veut, et conduire l’eau dans des tuyaux pout la faire ensuite jaillir verticalement afin de jouir enfin de sa façon de s’abîmer en pluie: une véritable esclave.

…Cependant le soleil et la lune sont jaloux de cette influence exclusive, et ils essayent de s’exercer sur elle lorsqu’elle se trouve offrir la prise de grandes étendues, surtout si elle y est en état de moindre résistance, dispercée en flaques minces. Le soleil alors prélève un plus grand tribute. Il la force à un cyclisme perpétuel, à la traite comme un écureuil dans sa roue.

 

L’eau m’échappe…me file entre les doigts. Et encore! Ce n’est même pas si net (qu’un lizard ou une grenouille): il m’en reste aux mains des traces, des taches, relativement longues à sècher ou qu’il faut essuyer. Elle m’échappe et cependant me marque, sans que j’y puisse grande chose.   Idéologiquement c’est la même chose: elle m’échappe, échappe à toute définition, mais laisse dans mon esprit et sur ce papier des traces, des taches informes.

 

Inquiétude de l’eau sensible au moindre changement de la declvité. Sautant les escaliers les deux pieds à la fois. Joueuse, puérile d’obéissance, revenant tout de suite lorqu’on la rappelled en changeant la pente de ce côté-ci

 

(còn tiếp)

đào trung đo

http://www.gio-o.com/DaoTrungDao.html

 

© gio-o.com 2019