đào trung đạo

thi sĩ / thi ca

(51)

 

Kỳ 1, Kỳ 2, Kỳ 3, Kỳ 4, Kỳ 5, Kỳ 6, Kỳ 7, Kỳ 8, Kỳ 9, Kỳ 10, Kỳ 11, Kỳ 12, Kỳ 13, Kỳ 14, Kỳ 15, Kỳ 16, Kỳ 17, Kỳ 18, Kỳ 19, Kỳ 20, Kỳ 21, Kỳ 22, Kỳ 23, Kỳ 24, Kỳ 25, Kỳ 26, Kỳ 27, Kỳ 28, Kỳ 29, Kỳ 30, Kỳ 31, Kỳ 32, Kỳ 33, Kỳ 34, Kỳ 35, Kỳ 36, Kỳ 37, Kỳ 38, Kỳ 39, Kỳ 40, Kỳ 41, Kỳ 42, Kỳ 43, Kỳ 44, Kỳ 45, Kỳ 46, Kỳ 47, Kỳ 48, Kỳ 49, Kỳ 50, Kỳ 51,

 

RENÉ CHAR

Chương 3: Tập thơ Feuillets d’Hypnos/Sổ tay của Hypnos [70]

Tập thơ Feuillets d’Hypnos gồm 237 đoạn rời có một vị trí đặc biệt trong toàn bộ tác phẩm của  René Char nền cần được dành riêng một chương sách. Tập thơ này được Albert Camus khi đó là chủ biên tủ sách “L’Espoir” của nhà Gallimard xuất bản năm 1946 với lời đề từ như sau của tác giả: “Hypnos saisit l’hiver et le vêtit de granit. L’hiver se fit sommeil et Hypnos devint feu. La suite appartient aux hommes/Hypnos nắm lấy mùa đông và trang phục mùa đông bằng đá granit. Mùa đông biến thành giấc ngủ và Hypnos thành lửa. Cái ǵ tiếp theo tùy vào mọi người.” Sau đề từ này là khai từ: “Những ghi chú này không vay mượn chút ǵ từ t́nh yêu bản thân, từ truyện ngắn, châm ngôn, hay từ tiểu thuyết. Một ngọn lửa của cỏ khô rất có thể là người chủ biên của chúng. Cái nh́n thấy máu do bị tra tấn đă có lần làm mất đi mạch dẫn, thu giảm sự quan trọng của chúng đến mức không c̣n ǵ nữa. Chúng được viết ra trong sự căng thẳng, sự tức giận, sự sợ hăi, sự ganh đua, sự tởm lợm, thủ đoạn, thu góp thầm lén, ảo tưởng tương lai, t́nh bạn, t́nh yêu. Chính để muốn nói rằng chúng được h́nh thành bởi diễn biến. Sau đó thường được đọc lướt qua hơn là đọc lại.

Cuốn sổ tay này rất có thể không thuộc về ai khi ư nghĩa cuộc đời của một con người nằm phía  dưới những chuyển dịch đi lại của hắn, và thật khó có thể tách khỏi một sự ngụy trang đôi khi khác thường. Song le những khuynh hướng này đă bị đánh bại.

Những ghi chú này đánh dấu sự chống đối của một chủ nghĩa nhân bản ư thức được những nhiệm vụ của nó, thận trọng đối với phẩm hạnh của nó, mong muốn dành cái không thể tiếp cận rộng mở cho tưởng tượng phóng túng của những vầng thái dương của nó, và đă quyết tâm trả giá cho điều này.”[71]  Đặt tựa đề tập thơ là Sổ tay của Hypnos René Char có ư đồng hóa ḿnh với nhân vật thần thoại Hypnos v́ Char lănh tụ kháng chiến có cuộc sống luôn ẩn dấu, trong bóng tối.

Ngày 3 tháng 9, 1939 lệnh tổng động viên được ban hành và René Char bị động viên xung vào trung đoàn pháo binh nặng thứ 173 đóng ở Nîmes; tháng 4, 1940 Char được cử đi học Trường Pháo binh ở Poitiers nhưng đường đến Poitiers bị quân Đức chiếm đóng; Tháng 6 Char cùng đơn vị vượt sông Loire trên đường rút lui rồi sau đó được giải ngũ vào tháng 7; Char trở về quê nhà Isle-sur-Sorgue nhưng vào tháng 9 bị chính quyền sở tại tố cáo là đảng viên cộng sản căn cứ trên những hoạt động chính trị với nhóm Siêu thực trước đó nên bị theo dơi chặt chẽ. Ngày 20 tháng Chạp cảnh sát của chính quyền Vichy đến nhà Char lục soát nhưng nhờ sự can đảm của một viên cảnh sát trong toán đến lục soát nhà Char đă liều lĩnh báo động cho Char biết  sẽ bị bắt nên Char đến sống ần náu ở làng Céreste [72]. Trong sáu tháng kể từ tháng Giêng Char tham gia Đội quân Bí mật (A.S. Armée Secrète) và mang bí danh Captain Alexandre thủ lănh kháng chiến quân vùng Durance-Sud để chống lại quân quốc xă. Char tham gia Lực lượng Kháng chiến Pháp (Forces françaises combattantes) vào tháng 9, 1943 sau khi quân đội Đồng Minh đổ bộ ở Bắc Phi ngày 8 tháng 11, 1942 và quân đội Đức quốc xă tiến xuống chiếm đóng những vùng thuộc miền Nam nước Pháp trước đó đặt dưới quyền kiểm soát của chính quyền Vichy. Để tránh bị xung vào những đơn vị Cưỡng bách Lao động (Service du travail obligatoire) khá đông thanh niên t́m vào những mật khu kháng chiến (maquis) ở miền Nam nước Pháp. Những mật khu này đặt dưới sự lănh đạo của Văn pḥng Trung ương thuộc thuộc mặt trận Nước Pháp Tự do (France libre). Captaine Alexandre chỉ huy Vùng 2 (Basses-Alpes) phụ tá cho Pierre-Michel là tư lệnh vùng của S.A.P. Mật khu nơi René Char trú ngụ là khu làng nhỏ (với khoảng trên 600 cư dân phần lớn là nông dân và lao động nghèo khổ) Céreste phía Bắc có núi Vantoux án ngữ, phía Nam là rặng Luberon. Nhiệm vụ chính của mật khu do René Char chỉ huy là tiếp nhận, cất dấu và phân phối quân trang quân dụng do những máy bay bí mật bay thấp thả dù xuống vào ban đêm, thiết lập những trạm thu phát thanh bí mật, theo dơi sự di chuyển (nếu có thể sẽ phục kích) cùng những cuộc truy xét dân làng của địch cũng như đón nhận những kháng chiến quân từ các vùng khác tới gia nhập. Georges Louis Roux chiến hữu thân tín kể lại hoạt động của René Char: “Bắt đầu từ thời điểm này những hoạt động của René Char bị ràng buộc bởi những sự bó buộc của một lănh đạo mật khu của anh. Anh phải thiết lập, trong những điều kiện tạm bợ, cả một hạ tầng cơ sở; chẳng hạn tôi c̣n nhớ việc t́m kiếm những băi thả dù phải đáp ứng được những điều kiện an ninh nghiêm ngặt để cho những máy bay buộc phải bay thấp vào ban đêm; phải có những nơi cất dấu an toàn, lập những toán thả dù, tuyển mộ người khuân vác, thiết lập giao liên. Nay th́ chúng tôi rất hiếm khi gặp anh hơn bởi anh luôn luôn trên đường tới một địa điểm bí mật nào đó, bằng bất cứ phương tiện di chuyển nào.”[73]  Trong suốt thời gian phụ trách công việc của một lănh tụ kháng chiến René Char được dân chúng làng Céreste quí mến che chở, được những phụ tá và kháng chiến quân tin cẩn thương yêu và tuân lệnh. Tuy vậy Char không khỏi đau ḷng khi những chiến hữu bị địch bắt bớ lưu đầy hay giết chết v́ có sự phản bội của một tên chỉ điểm được Gestapo gài cắm. Tên chỉ điểm này bị lộ v́ sự thất bại của một cuộc thả dù vũ khí đạn dược vào đêm 27 rạng sáng 28 tháng Chạp 1943. Hắn là một người di cư 64 tuổi từ vùng Lorraine đến Céreste trú ngụ đă cung cấp thông tin về cuộc thả dù cho Gestapo. Ba tuần lễ sau đó René Char đă ra lệnh xử tử tên này tại sân nhà thờ Saint-Jean-Baptiste de l’Hospitalet trong làng. Trong những tháng trước khi Quân đội Đồng Minh đổ bộ khá nhiều chiến hữu của Char bị Gestapo bắt giữ, xử tử hoặc lưu đầy. Vào tháng 7, 1944 Bộ Tổng Tham Mưu Liên quân ở Bắc Phi gọi René Char sang Alger làm sĩ quan liên lạc của Tướng Cochet đồng thời giữ nhiệm vụ đặc phái viên quân sự của Trung Tâm Hành Quân Miền Nam (Opérations Sud). Tháng 8, 1944 Char quay trở lại Avignon và giữ nhiều chức vụ quan trọng cho đến khi giải ngũ vào năm 1945.[74]

Từ đầu năm 1943 René Char luôn giữ một quyển sổ tay Char đặt tên là “Carnet d’Hypnos” ghi chép những sự kiện, những biến cố, những ḍng nhật kư của một thi sĩ dấn thân hành động. Về lai lịch tập thơ Feuillets d’Hypnos Char cho biết: “Quyển sổ tay của Hypnos được dấu kín vào thánh Bảy 1944, vào lúc tôi lên đường đi Alger, trong bức tường phía trong của một căn nhà sắp sụp đổ ở Céreste. Khi trở về tôi t́m lại nó, và v́ những lư do cá nhân tôi hủy bỏ phần lớn những trang sổ. Một tờ được giữ lại như chứng cứ. Tác phẩm xuất hiện năm 1946 trong tủ sách Hy Vọng do Albert Camus chủ biên của nhà Gallimard. Gắn kết với t́nh bạn của chúng tôi là bài thơ Từ khoảnh khắc đến khoảnh khắc do Camus chọn khi chúng tôi tản bộ suốt Vaucluse, anh hỏi tôi xem có tể dùng bài thơ này để mở đầu cho quyển Hậu thế của mặt trời là một quyển sách được minh họa bằng những tấm ảnh của Henriette Grindat, nhưng quyển này chỉ được sau khi Camus từ trần.” [74]  Sau sáu tháng René Char biên tập lại phần Nhật kư và Ghi chú [một bản mẫu những ghi chú c̣n được lưu giữ] và do đề nghị của Albert Camus tập thơ được xuất bản vào năm 1946. Giles Plazy trong bài viết về nguyên ủy tâp thơ Feuillets d’Hynos chỉ ra con người thi sĩ và con người kháng chiến ở René Char là không thể tách rời, thi sĩ là kẻ ư thức được những bổn phận của ḿnh. Thế nên trong hoàn cảnh khắc nghiệt và sự sinh tử của các chiến hữu cũng như của chính bản thân trong kháng chiến thi sĩ đă quyết định “Remettre à plus tard la part imaginaire qui, elle aussi, est susceptible d’action/ Hăy để phần tưởng tượng cho sau này, nó cũng có khả năng hành động.” Giles Plazy cũng bênh vực René Char trước sự phiền trách rằng những ghi chú của Sổ tay của Hypnos bị biến cố tác động quá nhiều, nghĩa là quá tùy thuộc hoàn cảnh: “Thực vậy, kinh nghiệm hàng ngày của việc chiến đấu đă nuôi dưỡng những ghi chú này, chúng b́nh luận [những ghi chú này] và từ đó rút ra bài học – sự suy tưởng đoạn rời về những điều kiện của một giai đoạn thảm kịch, xem xét ư thức của một con người hành động, sự điều chỉnh của một con người có đôi chút ngạc nhiên về vận mệnh ḿnh và sau hết đặt nghi vấn về thi ca phải đối mặt với tất cả những ǵ từ chối nó: cái ǵ thấp hèn nhất nơi con người, cái ǵ tuyệt vọng nhất trong đời người. Hypnos là kẻ, trong sự tồi tệ của hiện tại, t́m ra những lư do để không thất vọng; niềm hy vọng hắn nói ra, thay v́ là phóng chiếu ảo tưởng, mọc rễ vững chắc ở hiện tại.[75]

Trích dịch một số đoạn rời của Feuillets d’Hypnos:

1

Autant que se peut, enseigne à devenir efficace, pour le but à atteindre mais pas au delà. Au delà est fumée. Où il ya fumée il y a changement.

Càng khả dĩ càng tốt, nên dạy bảo làm sao để trở thành hữu hiệu, cho mục tiêu đạt tới chứ không viển vông. Viển vông là khói mù. Nơi đâu có khói mù nơi đó có sự thay đổi.

2.

Ne t’attarde pas à l’ornière des résultats.

Đừng khề khà nơi rănh ṃn của những thành quả.

3.

Conduire le réel jusqu’à l’action comme une fleur glissée à la bouche acide des petits enfants. Connaissance ineffable du diamante désespéré (la vie).

Đưa thực tại tới tận hành động giống như một bông hoa được đẩy nhẹ vào cái miệng chua ḷm của những đứa trẻ. Nhận thức bất khả ngôn của kim cương vô vọng (đời sống.)

4.

Être stoïque, c’est se figer, avec les beaux yeux de Narcisse. Nous avons recensé toute la douleur qu’éventuellement le bourreau pouvait prélever sur chaque pouce de notre corps; puis le cœur serré, nous sommes allés et avons faire face.

Thành kẻ chịu đựng khắc kỷ, đó chính là tự đóng băng, với cặp mắt đẹp của chàng Narcisse. Chúng ta đă kết toán mọi sự khổ đau mà tên đồ tể có thể dứt ra từ mỗi mảnh của cơ thể chúng ta; rồi với trái tim se sắt, chúng ta bước đi và đến đối diện nó.

5.

Nous n’appartenons à personne sinon au point d’or de cette lampe inconnue de nous, inaccessible à nous qui tient éveillés le courage et le silence.

Chúng ta không thuộc về ai ngoại trừ thuộc về điểm vàng của cây đèn không được biết tới của chúng ta, không tiếp cận đến chúng ta, ánh sáng cây đèn này giữ cho ḷng can đảm và sự im lặng tỉnh thức.

6.

L’effort du poète vise à transformer vieux ennemis en loyaux adversaires, tout lendemain fertile étant fonction de la réussite de ce projet, surtout là où s’élance, s’élance, décline, est décimée toute la gamme des voiles où le vent des continents rend son cœur au vent des abîmes.

Nỗ lực của thi sĩ nhằm biến đổi những kẻ thù xưa thành những đối thủ trung kiên, tất cả ngày mai màu mỡ hay không tùy vào sự thành công của dự án này, trên hết ở nơi toàn thể nhất loạt những cánh buồm lao tới, lao tới, nghiêng ngả, bị tiêu hao ở chỗ gió của những lục địa trao nộp trái tim của nó cho gió của những vực thẳm.

………………….

18.

Remettre à plus tard la part imaginaire qui, elle aussi, est susceptible d’action

Hăy để phần tưởng tượng cho sau này, nó cũng có khả năng hành động.

 

19.

Le poète ne peut pas longtemps demeurer dans la stratosphere du Verbe. Il doit se lover dans de nouvelles larmes et pousser plus avant dans son ordre.

Thi sĩ không thể cứ ở măi trong tầng b́nh lưu của Lời. Hắn phải cuộn ḿnh trong những giọt lệ mới và đẩy ḿnh xa hơn nữa trong chính mệnh lệnh của hắn.

20.

Je songe à cette armée de fuyards aux appétits de dictature que reverront peut-être au pouvoir, dans cet oblieux pays, ceux qui surviront à ce temps d’algèbre damnée.

Tôi nghĩ tới đội quân những kẻ đào ngũ thèm muốn độc tài, trong cái xứ sở bị quên lăng, những kẻ sống sót trong cái thời gian đại số khốn kiếp này có thể sẽ lại thấy chúng lên nắm giữ quyền hành.

____________________________________________________________________

[70] Theo thần thoại Hy Lạp Hypnos là thần linh được nhân cách hóa như Thần Ngủ, con của mẹ Nyx (Đêm) và cha Erebus (Bóng tối) trú ngụ ở Erebos dưới địa ngục, xứ sở vĩnh vĩnh ch́m trong tối thẳm, ánh sáng và tiếng động không thể lọt vào được. Hypnos thường được nhắc tới cùng với người anh em song sinh Thenatos (Thần Chết).

[71] René Char, O.C trang 173: Ces notes n’empruntent rien à l’amour de soi, à la nouvelle, à la maxime ou au roman. Un feu d’herbes sèches eût tout aussi bien été leur éditeur. La vue du sang supplicié en a fait une fois perdre le fil, a réduit à néant leur importance. Elles furent écrites dans la tension, la colère, la peur, l’émulation, le degoût, la ruse, le receuillement furtif, l’illusion de l’avenir, l’amitié, l’amour. C’est dire combien elles sont affectées par l’événement. Ensuite plus souvent survolées que relues.

Ce carnet pourrait n’avoir appartenu à personne tant le sens de la vie d’un homme est sous-jacent à ses pérégrinations, et difficilement séparable d’un mimétisme parfois hallucinant. De telles tendances furent néamoins combattues.

Ces notes marquent la résistance d’un humanisme conscient de ses devoirs, discret sur ses vertus, désirant réserver l’inacessible champ libre à la fantasie de ses soleils, et décidé à payer le prix pour cela.

 

[72] Laurent Greilsamer trong phần René Char, un poète en armes in chung với Paul Veyne trong quyển René Char (nxb Culturefrance 2007) kể lại vụ lùng bắt René Char ở lâu đài Névrons do lệnh của Pḥng An ninh (Sûreté Générale) của chính quyền Vichy: Vào rạng sáng ngày 20 tháng Chạp lúc 6giờ 15 các thanh tra cảnh sát đến khám xét nhà René Char nhưng suốt 4 giờ chỉ tịch thu được một khẩu súng lục tự động cỡ 6,35 và sáu viên đạn. Vào lúc rút đi một trong những viên cảnh sát này nói thầm báo động cho Char biết “Partez pendant qu’il est temps. Nous reviendrons dans quelques jours vous arrêter/Chuồn đi khi c̣n kịp. Tụi tôi sẽ trở lại trong vài ngày nữa để bắt anh” như chính lời Char kể lại.

 

[73] Georges Louis Roux, René Char, Hôte de Céreste trong L’Herne: René Char trang 307: À partir de ce moment les activités de Char furent conditionnées par ses obligations de chef de réseau. Il lui fallut mettre sur pied, dans des conditions précaires, toute une infrastructure; je me souviens par example de la recherche de terrains de parachutages qui devaient répondre à des conditions strictes de sécurité pour les avions obligés de voler bas la nuit; il fallait des caches sûres, créer des équipes de parachutagistes, trouver des transporteurs, établir des liaisons. Nous le voyions maintenent beaucoup moins car il était toujours en route pour quelque mystérieuse destination, par toutes sortes de moyens de transports.

 

[74] René Char, Le Baton de rosier, O.C. trang 802: Le carnet d’Hypnos fut enfoui en juillet 1944, lors de mon départ pour Alger, dans le mur intérieur d’une maison à demie démolie. Je le retrouvai à mon retour, et en détruisis, pour des raisons personnelles, la plupart des pages. Un feuillet fut conservé comme témoin. L’ouvrage paru en 1946 dans la collection Espoir, dirigée chez Gallimard par Albert Camus. À notre amitié est attaché le poème “De moment en moment”, choisi par Camus alors que parcourant le Vaucluse tous deux, il me demanda d’ouvrir avec ce poème La Postérité du soleil, livre illustré de photographies de Henriette Grindat, mais qui ne devait paraître qu’après la mort de Camus.

[75] Giles Plazy, Hypnos Exégèse trong L’Herne René Char trang 222: En effet, l’expérience quotidienne du combat a nouri ces notes qui commentent et en tire la leçon – méditation fragmentaire sur les conditions d’une époque dramatique, examen de conscience d’un homme d’action, mis au point d’un homme qu’étonne quelque peu la tournure qu’a pris son destin et enfin mise en question de la poésie confrontée à tout ce qui semble la nier: ce qu’il y a de plus bas en l’homme, ce qu’il y a de plus désespéré dans la vie des hommes. Hypnos est celui qui, dans le pire des présents, trouve des raisons de ne pas désespérer; l’espoir qu’il dit, plutôt que projection utopique, s’enracine solidement dans le présent.

(c̣n tiếp)

đào trung đạo

        

http://www.gio-o.com/DaoTrungDao.html

 

 

© gio-o.com 2017