đào trung đạo

thi sĩ / thi ca

(53)

 

Kỳ 1, Kỳ 2, Kỳ 3, Kỳ 4, Kỳ 5, Kỳ 6, Kỳ 7, Kỳ 8, Kỳ 9, Kỳ 10, Kỳ 11, Kỳ 12, Kỳ 13, Kỳ 14, Kỳ 15, Kỳ 16, Kỳ 17, Kỳ 18, Kỳ 19, Kỳ 20, Kỳ 21, Kỳ 22, Kỳ 23, Kỳ 24, Kỳ 25, Kỳ 26, Kỳ 27, Kỳ 28, Kỳ 29, Kỳ 30, Kỳ 31, Kỳ 32, Kỳ 33, Kỳ 34, Kỳ 35, Kỳ 36, Kỳ 37, Kỳ 38, Kỳ 39, Kỳ 40, Kỳ 41, Kỳ 42, Kỳ 43, Kỳ 44, Kỳ 45, Kỳ 46, Kỳ 47, Kỳ 48, Kỳ 49, Kỳ 50, Kỳ 51, Kỳ 52, Kỳ 53,

 

RENÉ CHAR

      

       (Trích dịch Feuillets d’Hypnos tiếp và hết)

 

                              129..

Nous sommes pareils à ces crapauds qui dans l’austère nuit des marais s’appellent et ne se voient pas, ployant à leur cri d’amour toute la fatalité de l’univers.

Chúng tôi giống như những con cóc gọi nhau mà không nh́n thấy nhau trong đêm trang nghiêm của những đồng lầy, bẻ gập tất cả vận mệnh của vũ trụ cho tiếng gọi của t́nh yêu của chúng.

131.

À tous les repas pris en commun, nous invitons la liberté à s’assoir. La place demeure vide mais le couvert reste mis.

Trong tất cả những bữa ăn chung, chúng tôi mời tự do ngồi xuống cùng ăn. Cái ghế vẫn trống nhưng chỗ ngồi đó vẫn được dành riêng.

 

132.

Il semble que l’imagination qui hante à des degrés divers l’esprit de toute créature soit pressée de se séparer d’elle quand celle-ci ne lui propose que “l’impossible” et “l’inaccessible” pour extrême mission. Il faut admettre que la poésie n’est pas partout souveraine.

Dường như trí tưởng tượng ở những mức độ khác nhau ám ảnh đầu óc của mọi sinh vật bị hối thúc hăy rời xa nó khi trí tưởng tượng chỉ đưa ra “cái bất khả” và “cái bất khả tiếp cận” cho sứ mệnh tối thượng. Phải thừa nhận rằng không phải ở đâu thi ca cũng là toàn năng.

 

138.

Horrible jopurnée! J’ai assisté, distant de quelque cent mètres, à l’exécution de B. Je n’ai qu’à presser la détente du fusil-milltraileur et il pouvait être sauvé! Nous étions sur les hauteurs dominant Céreste, des armes à faire craquer les buissions et au moins égaux en nombre aux SS. Eux ignorant que nous étions là. Aux yeux qui imploraient partout autour de moi le signal d’ouvrir le feu, j’ai répondu non de la tête…Le soleil de juin glissait un froid polaire de mes os.

Il eut tombé comme s’il ne distinguait pas ses bourraux et si léger, il m’a semblé, que le moins souffle de vent eût dû le soulever la terre.

Je n’ai pas donné le signal parce que ce village devrait être épargné à tout pris. Qu’est qu’un village? Un village pareil à un autre? Peut-être l’a-t-il su, lui, à cet ultime instant?

Một ngày khủng khiếp! Tôi đă chứng kiến, cách chừng vài trăm thước, vụ xử tử B. Tôi chỉ cần ấn chốt c̣ hăm khẩu đại liên xuống và nó sẽ được cứu sống! Chúng tôi đang ở trên cao điểm chế ngự Céreste, có đủ vũ khí để phá toang những bụi rậm và ít ra có quân số tương đương với bọn SS. Chúng không biết chúng tôi có mặt ở đây.  Để trả lời những cặp mắt khẩn cầu quanh tôi ở khắp nơi một dấu hiệu cho khai hỏa, tôi đă trả lời bằng cái lắc đầu…Mặt trời tháng sáu truyền xuống xương tôi một ḍng điện giá buốt…

B. gục xuống như thể nó không cả nh́n thấy những tên hành h́nh nó và, dường như với tôi, dù làn gió thoảng nhẹ mấy chăng nữa cũng đủ nhấc bổng nó khỏi mặt đất.

Tôi đă không ra dấu hiệu bởi v́ cái làng này phải được tránh thoát bằng mọi giá. Một cái làng là ǵ nhỉ? Một cái làng như một cái làng khác sao? Có thể nào B, chính nó, đă hiểu được điều này vào thời khắc tối thượng đó không?

[Trong Recherche de la base et du sommet (O.C trang 646) René Char viết về Roger Barnard (B. tên viết tắt trong bài thơ.) thật cảm động: “Roger Bernard sinh ở Pertuis, Vaucluse ngày 11 tháng 5, 1921, học nghề in trong nhà in của cha, nhưng thi ca – toàn thể thi ca – thôi thúc anh ta từ khi c̣n rất trẻ. Ham học hỏi, tự hoàn thiện, khi trưởng thành, với những đêm thức khuya gập ḿnh trên những quyển sách, trong niềm thân thiết với sự Bất Khuất Phục […] Anh ta tham gia kháng chiến trong thung lũng Calavon […] Lucienne người vợ trẻ của anh chia sẻ số phần tạm bợ của anh. Giữa hai lần đóng móng ngựa anh ta đọc cho tôi nghe những bài thơ của anh và tṛ chuyện với tôi về những dự tính của anh. S.A.P. của tôi đón nhận anh. Chính trong một lần tới P.C. (Nhà Chỉ huy) ở Céreste, với nhiệm vụ liên lạc viên, anh lọt vào tay bọn Đức, ngày 22 tháng 6, 1944. Anh ta chỉ kịp cuộn lại và nuốt chửng tin nhắn anh là người chuyển giao. Anh bị bắn chết không lâu sau đó ngay trên lộ, khi anh từ chối trả lời những câu hỏi đặt ra cho anh.]

 

143.

ÈVE-DES-MONTAIGNES. Cette jeune femme dont la vie insécable avait l’exacte dimension du cœur de notre nuit.

PHỤ NỮ NGUYÊN THỦY CỦA NÚI NON. Người phụ nữ trẻ trung này mà cuộc đời không thể chia ra từng phần có kích thước chính xác của trái tim đêm tối của chúng tôi.

 

148.

“Le voilà”. Il est deux heures du matin. L’avion a vu nos signaux et réduit son altitude. La brise ne gênera pas la descente en parachute du visiteur que nous attendons. La lune est d’étain vif et de sauge. “L’école des poètes du tympan”, chuchote Léon qui a toujours le mot de situation.

“Nó đây rồi”. Hai giờ sáng. Chiếc máy bay đă thấy tín hiệu của chúng tôi và giảm cao độ của nó. Gió nhẹ thổi không làm khó việc đáp dù của người khách chúng tôi chờ đợi. Trăng màu thiếc óng ả và xanh tía. “Trường học của thi sĩ màng tai”, Léon th́ thào, hắn là kẻ luôn có lời lẽ thích hợp cho hoàn cảnh.

 

153.

Je m’explique mieux aujourd’hui ce besoin de simplifier, de faire entrer tout dans un, à l’instant de décider si telle chose doit avoir lieu ou non. L’homme s’éloigne à regret de son labyrinthe. Les mythes millénaires le pressent de ne pas partir.

Nay th́ tôi hiểu rơ hơn nhu cầu phải đơn giản, gộp tất cả vào một, vào lúc quyết định một điều nào đó phải xảy ra hay không. Con người tiếc nuối rời xa mê cung của hắn. Những huyền thoại ngàn năm thúc hối hắn đừng rời đi.

 

155.

J’aime ces êtres tellement épris de ce que leur cœur imagine la liberté qu’ils s’immolent pour éviter un peu de liberté de mourir. Merveilleux mérite du people. (Le libre arbitre n’existerait pas.) L’être se définirait par rapport à ses cellules, à son hérédité, la course brève ou prolongé de son destin…Cependant il existe entre tout cela et l’Homme une enclave d’inattendus et de métaphores dont il faut défendre l’accès et assurer le maintien.

Tôi yêu mến những người đă say mê điều trái tim của họ nghĩ là sự tự do họ hy sinh thân ḿnh để tránh chút tự do của sự chết. Sự xứng đáng tuyệt vời của dân chúng. (Không có việc tự làm trọng tài). Con người được định nghĩa trong tương quan với những tế bào ḿnh, với di truyền của ḿnh, với con đường ngắn hay dài của số mệnh ḿnh…Song le giữa tất cả những thứ đó và Con Người có vùng cấm địa của những thứ không chờ đợi và những ẩn dụ hắn phải ngăn không cho ai đi vào và bảo đảm duy cấm địa này.

 

162.

Voici l’époque où le poète sent se dresser en lui cette méridienne force d’ascension.

Đây là thời đại trong đó thi sĩ cảm thấy dâng lên nơi hắn sức mạnh kinh tuyến của hướng thượng.

 

165.

Le fruit est aveugle. C’est l’arbre qui voir.

Trái th́ đui mù. Chính cây là kẻ nh́n thấy.

 

168.

Résistance n’est qu’espérance. Telle la lune d’Hypnos, pleine cette nuit de tous quartiers, demain vision sur le passage des poèmes.

Kháng chiến chỉ là kỳ vọng. Giống như vầng trăng của Hypnos, đêm nay tỏa sáng khắp nơi, ngày mai sẽ là kiến thị trên đường đi tới của những bài thơ.

 

 

171.

Les cendres du froid sont dans le feu qui chante le refus.

Tro của giá buốt nằm trong lửa ca hát sự chối từ.

 

173.

Il en va de certaines femmes comme des vagues de la mer. En s’élançant de toute leur jeunesse elles franchisent un rocher trop élevé pour leur retour. Cette flaque désormais croupira là, prisonnière, belle par éclair, à cause des cristaux de sel qu’elle renferme et qui lentement se substituent à son vivant.

Có sự tương tự giữa một số phụ nữ với sóng biển. Khi tung toàn thể tuổi trẻ của ḿnh lên cao họ vượt qua một mỏm đá quá cao cho việc trở lại của họ. Vũng nước này từ nay đọng úng ở đó, tù nhân, đẹp đẽ nhờ ánh chiếu rọi, do những khối muối kết tinh nó chứa đựng và dần dần thay thế cho sự sinh động của nó.

 

175.

Le peuple des prés m’enchante. La beauté frêle et dépourvue de venin, je ne me lasse pas de me la reciter. Le campagnol, la taupe, sombres enfants perdus dans la chimère de l’herbe, l’orvet, fils du verre, le grillon, moutonier comme pas un, la sauterelle qui claque et compte son linge, la papillon qui simule l’ivresse et agace les fleurs de ses hoquets silencieux, les fourmis assagies par la grande étendue verte, et immédiatement au-dessus les metéores hirondelles…

Prairie, vous être le boîtier du jour.

Dân số của những cánh đồng cỏ làm tôi say mê. Vẻ đẹp ẻo lả và không nọc độc, tôi ngâm ngợi nó không hề mỏi mệt. Con chuột đồng, con chuột chũi, những đứa trẻ mờ tối mất dạng trong huyễn ảnh của cỏ, con rắn thủy tinh, con trai của thủy tinh, con dế, bắt chước nhau bất kỳ kể, con bọ ngựa vỗ cánh và đếm tấm áo của nó, con bướm làm bộ say sưa và khiêu khích những bông hoa bằng những cái nấc cục lặng lẽ của nó, kiến được sự trải rộng rộng màu lá mạ làm cho khôn ngoan hơn, và lập tức phía trên là những con nhạn sao băng…

Đồng cỏ, ngươi là hộp đựng ngày.

 

180.

C’est l’heure où les fenêtres s’échappent des maisons pour s’allumer au bout du monde où va poindre notre monde.

Đó là thời khắc khi những cửa sổ bỏ trốn những căn nhà để thắp sáng nơi cuối thế giới ở đó thế giới của chúng ta rạng đông.

 

184.

Guérir le pain. Attabler le vin.

Chữa lành bánh ḿ. Đặt rượu vang lên bàn ăn.

 

192.

Je vois l’espoir, veine d’un fluvial lendemain, décliner dans le geste des êtres qui m’entourent. Les visages que j’aime dépérissent dans les mailles d’une attente qui les ronge comme un acide. Ah, que nous sommes peu aidés et mal encouragés! La mer et son rivage, ce pas visible, sont un tout scellé par l’ennemi, gisant au fond de la même pensée, moule d’une matière où entrent, à part égale, la rumeur du désespoir et la solitude de résurrection.

Tôi nh́n thấy niềm hy vọng, mạch của ngày mai xuôi chảy, sa sút trong cử chỉ của những người quanh tôi. Những khuôn mặt tôi hằng mến yêu tàn tạ trong mạng lưới của một sự đợi chờ ăn ṃn họ dần dần như chất cường toan. À, mà quả thực chúng tôi chẳng mấy được trợ giúp và khuyến khích! Biển và bờ của nó, cái bậc lên xuống nh́n thấy được này, tất tật bị kẻ thù bít kín, nằm bất động tận đáy của cùng một ư tưởng, khuôn đúc của một chất liệu ở đó đi vào, với phần ngang nhau, tiếng thầm th́ của sự tuyệt vọng và sự chắc chắn của phục sinh.

 

198.

Si la vie pouvait n’être que du sommeil désappointé…

Phải chi cuộc đời có thể nào chỉ là giấc ngủ không hài ḷng…

 

199.

Il y a deux âges pour le poète: l’âge lequel la poésie, à tous égards, le maltraite, et celui où elle se laisse follement embrasser. Mais aucun n’est entièrement défini. Et le second n’est pas souverain.

Có hai thời kỳ cho thi sĩ: thời kỳ khi thi ca, về mọi mặt, đối xử tệ hại với hắn, và thời kỳ thi ca cho phép hắn ôm ấp một cách điên cuồng. Thế nhưng không thời kỳ nào được định rơ hoàn toàn. Và thời kỳ thứ nh́ không phải là toàn năng.

 

202.

La présence du désir comme celle du dieu ignore le philosophe. En revanche, le philosophe châtie.

Sự có mặt của ham muốn giống như sự có mặt của vị thần linh phớt lờ triết gia. Để trả đũa, triết gia trừng phạt.

 

J’ai vécu aujourd’hui la minute du pouvoir et de l’invulnérabilité absolus. J’étais une ruche qui s’envolait aux sources de l’altitude avec tout son miel et toutes ses abeilles.

Bữa nay tôi đă sống trải phút giây của quyền lực và sự không thể bị tổn thương tuyệt đối. Tôi là một cái tổ ong bay lên những nguồn cội của độ cao với toàn thể mật và những con ong của nó.

 

212.

Enfonce-toi dans l’inconnu qui creuse. Oblige-toi à tournoyer.

Ngươi hăy nhấn sâu ḿnh vào trong cái chưa biết nó đào sâu. Ngươi hăy buộc ḿnh quay ṿng ṿng.

 

219.

Brusquement tu te souviens que tu as un visage. Les traits qui en formaient le modelé n’étaient pas tous les traits chagrins, jadis. Vers ce multiple paysage se levaient des êtres doués de bonté. La fatigue n’y charmait pas que les naufrages. La solitude des amants y respirait. Regarde. Ton miroir s’est changé en feu. Insensiblement tu reprends conscience de ton âge (qui avait sauté du calendrier), de ce surcroît d’existence dont tes efforts vont faire un pont. Recule à l’intérieur du miroir. Si tu n’en consumes pas l’austérité du moins la fertilité n’en est pas tarie.

Đột nhiên ngươi nhớ ra rằng ngươi có một bộ mặt. Trước đây, những nét tạo h́nh bộ mặt không phải tất cả đều là những nét buồn bă. Hướng về cái cảnh quan vô vàn này dâng trào những con người vốn có thiện căn. Ở đó sự mệt mỏi [của họ] quyến rũ hơn tàu đắm. Nỗi cô đơn của những người t́nh hít thở ở đó. Hăy nh́n xem. Cái gương của nguơi đă biến thành lửa. Vô t́nh ngươi bỗng lại ư thức về tuổi tác của ngươi (tuổi đă nhảy khỏi quyển lịch), ư thức về sự thừa thăi của hiện hữu mà những cố gắng của ngươi sẽ bắc một cây cầu. Hăy lùi vào bên trong tấm gương. Nếu ngươi không tiêu hao sự khắc khổ của nó th́ ít ra sự màu mỡ của nó cũng chẳng cằn cỗi đi.

                                                                               224.

Autrefois au moment de me mettre au lit, l’idée d’une mort temporaire au sein du sommeil me rassérénait, aujourd’hui je m’endors pour vivre quelques heures.

Trước đây lúc tôi đi ngủ, ư tưởng về một cái chết tạm thời ngay trong giấc ngủ làm tôi yên tâm, giờ đây tôi ngủ để sống vài giờ.

 

227.

L’homme est capable de faire ce qu’il est incapable d’imaginer. Sa tête sillonne la galaxie de l’absurde.

Con người có thể làm cái mà hắn không thể tưởng tượng ra được. Cái đầu của hắn băng qua khắp giải ngân hà của sự phi lư.

 

230.

Toute la vertu du ciel d’août, de notre angoisse confidente, dans la voix d’or du météore.

Tất cả phẩm hạnh của bầu trời tháng tám, của nỗi xao xuyến ẩn mật của chúng tôi, trong tiếng nói vàng của sao băng.

 

235.

L’angoisse, squelette et cœur, cité et forêt, ordure et magie, intègre désert, illusoirement vaincue, victorieuse, muette, maîtresse de la parole, femme de tout homme, ensemble, et Homme.

Nỗi xao xuyến, bộ xương và trái tim, thành thị và rừng rú, rác rưởi và ma thuật, sa mạc không suy xụp, bị chế ngự một cách ảo tưởng, chiến thắng, câm nín, người t́nh của lời nói, phụ nữ chung của mọi người, và Con Người.

 

236.

“Mon corps était plus immense que la terre et je n’en connaissais qu’une toute petite parcelle. J’acceuille des promesses de félicité si innombrables, du fond de mon âme, que je supplie de garder pour nous seuls ton nom.”

“Thân xác tôi bao la hơn trái đất và tôi chỉ biết có một mảnh thật nhỏ của nó. Tận đáy ḷng, tôi đón chào vô số những lời hứa hẹn của vĩnh phúc, tôi nguyện giữ kín tên người chỉ cho chúng tôi thôi.”

 

237.

Dans nos ténèbres, il n’y a pas une place pour la Beauté. Toute la place est pour la Beauté.

Trong những vùng bóng tối của chúng tôi, không có một chỗ nào cho Cái Đẹp. Khắp chốn là để dành cho Cái Đẹp.

 

LA ROSE DE CHÊNE

Chacune des lettres qui composent ton nom, ô Beauté, au tableau d’honneur des supplices, épouse la plane simplicité du soleil, s’inscrit dans la phrase géante qui barre le ciel, et s’associe à l’homme acharné à tromper son destin avec son contraire indomptable: l’espérance.

BÔNG HỒNG CỦA CÂY SỒI

Mỗi chữ ghép thành tên em, ôi Cái Đẹp, trên bảng danh dự của những h́nh dịch, kết hôn sự đơn giản phẳng của mặt trời, được viết vào đó câu văn khổng lồ chắn ngang bầu trời, và liên kết với kẻ oằn ḿnh đánh lừa số phận hắn với cái trái nghịch không thể khuất phục được của nó: kỳ vọng.

(c̣n tiếp)  

đào trung đạo

 

http://www.gio-o.com/DaoTrungDao.html

 

 

© gio-o.com 2017