đào trung đo

THI SĨ THI CA

(131)  

Kỳ 1, Kỳ 2, Kỳ 3, Kỳ 4, Kỳ 5, Kỳ 6, Kỳ 7, Kỳ 8, Kỳ 9, Kỳ 10, Kỳ 11, Kỳ 12, Kỳ 13, Kỳ 14, Kỳ 15, Kỳ 16, Kỳ 17, Kỳ 18, Kỳ 19, Kỳ 20, Kỳ 21, Kỳ 22, Kỳ 23, Kỳ 24, Kỳ 25, Kỳ 26, Kỳ 27, Kỳ 28, Kỳ 29, Kỳ 30, Kỳ 31, Kỳ 32, Kỳ 33, Kỳ 34, Kỳ 35, Kỳ 36, Kỳ 37, Kỳ 38, Kỳ 39, Kỳ 40, Kỳ 41, Kỳ 42, Kỳ 43, Kỳ 44, Kỳ 45, Kỳ 46, Kỳ 47, Kỳ 48, Kỳ 49, Kỳ 50, Kỳ 51, Kỳ 52, Kỳ 53, Kỳ 54, Kỳ 55, Kỳ 56, Kỳ 57, Kỳ 58, Kỳ 59, Kỳ 60, Kỳ 61, Kỳ 62, Kỳ 63, Kỳ 64, Kỳ 65, Kỳ 66, Kỳ 67, Kỳ 68, Kỳ 68,Kỳ 66, Kỳ 69, Kỳ 70, Kỳ 71, Kỳ 72, Kỳ 73, Kỳ 74, Kỳ 75, Kỳ 76, Kỳ 77, Kỳ 78, Kỳ 79, Kỳ 80, Kỳ 81, Kỳ 82, Kỳ 83, Kỳ 84, Kỳ 85, Kỳ 86, Kỳ 87, Kỳ 88, Kỳ 89, Kỳ 90, Kỳ 91, Kỳ 92, Kỳ 93, Kỳ 94, Kỳ 95, Kỳ 96, Kỳ 97, Kỳ 98, Kỳ 99, Kỳ 100, Kỳ 101, Kỳ 102, Kỳ 103, Kỳ 104, Kỳ 105, Kỳ 106, Kỳ 107, Kỳ 108, Kỳ 109, Kỳ 110, Kỳ 111, Kỳ 112, Kỳ 113, Kỳ 114, Kỳ 115, Kỳ 116, Kỳ 117, Kỳ 118, Kỳ 119, Kỳ 120, Kỳ 121, Kỳ 122, Kỳ 123, Kỳ 124, Kỳ 125, Kỳ 126, Kỳ 127, Kỳ 128, Kỳ 129, Kỳ 130, Kỳ 131,

Francis Ponge

NHẬP

(tiếp theo)

   Khởi đầu làm thơ, cũng như phần đông những người bắt đầu làm thơ, tất nhiên Ponge phải  tự hỏi đâu là “chỗ đứng” của mình. Trong thời đại của Ponge những bóng lớn Mallarmé, Valéry và Claudel  phủ chụp tiền trường thi ca cho nên việc tìm cho mình một chỗ đứng không phải là chuyện dễ. Thêm nữa còn có sự xuất hiện khá đình đám của những thi sĩ siêu thực đang nổi lên như một phong trào thi ca tiền phong càng làm cho Ponge cảm thấy “bi kịch của sự diễn tả” (drame de l’expression) và áp lực khi đối diện bi kịch này. Không chấp nhận ngôn ngữ đời thường cũng như ngôn ngữ của thi ca lãng mạn, tượng trưng, cũng không hẳn đồng ý với quan niệm về ngôn ngữ thi ca của Mallarmé  (tuy Ponge suốt đời ngưỡng mộ và coi Mallarmé  như bậc thầy) nên có thể nói Ponge ở trong một sự khủng hoảng về ngôn ngữ thi ca. Trong bài Notes d’un poème/Những ghi chú về một bài thơ (1926) Ponge viết: “Ngôn ngữ chỉ từ chối một thứ, đó chính là ít ồn ào hơn sự im lặng. [...] Mallarmé không phải là người trong những kẻ nghĩ tới việc đặt sự im lặng vào ngôn từ. Ông ta đánh giá cao khả năng của thi sĩ. Ông ấy phản bội tiếng động bằng tiếng động.”[9]  Làm sao tìm cho được một ngôn ngữ thi ca riêng mình? Như Ponge tiết lộ (1935) trong một thời gian khá dài Ponge cố tìm lý do để không viết gì hết. Thế nhưng “Thất vọng và ngờ vực, nhưng cả quyết” như Ponge viết trong Pour un Malherbe.[10]  Và sau đó Ponge có thái độ tích cực hơn, dần dần tìm thấy những lý do để sống hạnh phúc qua việc viết lách.

   Là người tận hiến cho ngôn ngữ  và sự vật cụ thể Ponge dị ứng với những ý niệm triết lý trừu tượng vì “Tư tưởng không phải là thế mạnh của tôi. Tôi không thao tác tư tửng dễ dàng. Chúng khiến tôi có một thứ bực bội hay buồn mửa. Tôi thực không thích bị ném vào giữa chúng.” Ponge nói như vậy vì bị cuốn hút vào bầu không khí trí thức Pháp thời hậu chiến điển hình như triết lý hiện sinh của Sartre, tư tưởng về phi lý của Camus, và sau đó là phong trào tân-tiểu-thuyết (nouveau roman). Đọc Grand Recueil chúng ta thấy rải rác những phản ứng của Ponge đối với tình cảnh này bằng cách đưa ra một thứ chống lý thuyết Ponge gọi là Méthodes của mình. Nhưng như chúng ta đã biết về mặt này tư tưởng của Ponge thiếu cơ sở. Tranh luận với Camus về “phi lý” khi Camus cho ra mắt quyển Mythe de Sysiphe/Huyền thoại Sysiphe Ponge đã đưa ra những phản biện ngoan cố khiến Camus tỏ ra bực bội và vì vậy hầu như đánh mất tình thân hữu với Camus có từ thời kháng chiến.

   Ponge đã đi qua mộ lộ trình tìm kiếm ngôn ngữ thi ca ra sao? Căn cứ trên thơ Ponge đã viết suốt hơn nửa thế kỷ ta thấy lộ trình này không hề đơn giản vì ngôn ngữ thi ca của Ponge biến thái liên tục. Vấn đề này sẽ được trình bày kỹ hơn khi nói về thi pháp của Ponge. Nhưng hãy bắt đầu từ khởi điểm do chính Ponge cho biết:

  Từ khi còn nhỏ Ponge đã ham đọc quyển tự điển Littré: “Khoảng mười bốn tuổi, tôi đã thường đọc quyển  Littré rồi (...) Trên môi chúng tôi, một vài nghĩa mơ hồ và tối tăm. Về độ dầy của từ, về chất liệu của từ, chúng tôi không biết đụng  tới. Chính là với chất liệu này nhà văn phải làm việc.”[11]  Từ  Littré  Ponge không những học được những định nghĩa hay những trích dẫn minh họa từ mà còn tìm thấy cái chìa khóa để thấu hiểu từ trong những bài viết của quyển tự điển này. Đặc biệt Littré còn chú trọng đến lịch sử ngôn ngữ, sự quan trọng của từ nguyên, từ cổ (archaïsme) và từ mới có (néologisme). Như vậy Littré không những là một dụng cụ làm việc đặc biệt mà cón chứa đựng những nguồn của việc diễn tả, làm trung gian để hướng về truyền thống và cũng còn là niềm an ủi Ponge trước “bi kịch của sự diễn tả.” Thế nhưng có Littré chưa đủ mà còn phải định bệnh sự khủng hoảng ngôn ngữ thi ca, nhất là sự nghèo nàn của dụng cụ ngôn ngữ. Ponge tuy “thất vọng và ngờ vực nhưng quyết tâm” như Ponge ghi lại trong Pour un Malherbe.[12]  Một thí dụ về ảnh hưởng của quyển Littré trên Ponge: Littré “Punch: On l’a d’abord fait féminin et écrit ponche.” Ponge trong bài La fenêtre: “Ô punchs/Ô punches/Ponches dont jour et nuit/flamboie la barbe bleue!”[13]

   Ponge cho chúng ta biết đã đọc – đúng ra là “học” – tự điển Littré ra sao với chỉ riêng một từ “oiseau/chim” thôi trong La Rage de l’Expression: “CHIM (không thể nào chép lại được, có ba cột chữ, toàn thể trang 813 của một phần quyển tự điển từ chữ I tới P và còn có khá nhiều dòng ở trang 814 nữa. Tôi chỉ chép lại những tên các chương thôi.) [tên 16 chương cả thảy] sau đó chép phần ETYMOLOGIE (Từ nguyên) do Littré đưa ra. Ý kiến của Ponge: “Trong chương về chim của Littré những thành ngữ đẹp nhất được nêu ra, mà tôi muốn giữ lại, là những thành ngữ sau: “Tất cả chim ham săn mồi đều có một tính chất riêng nổi bật thật khó đưa ra lý do giải thích: những con đực nhỏ thó hơn con cái khoảng một phần ba và không mạnh bằng con cái...” kế đó Ponge chép lại các chi tiết về khá nhiều loại chim]. Tuy học hỏi được những điều hay ho trong Littré nhưng Ponge vẫn chưa thỏa mãn vì nhận ra trong quyển tự điển này không thấy điều Ponge muốn nói tới.[11]  Ponge ca ngợi Littré trong bài thuyết trình Thực Hành Văn ChươngTechnische Hochschule ở Stuttgart (Đức) ngày 2 tháng Bảy 1956: “Chúng tôi có một quyển tự điển tiếng Pháp tuyệt vời, đó là quyển Littré. Littré là một triết gia theo chủ nghĩa thực chứng, nhưng tuyệt vời, nhạy cảm, một thi sĩ vĩ đại...”[13] Trong bài đàm thoại trên truyền thanh với Philippe de Saint-Robert năm 1981 Ponge cũng nói về điều học được từ quyển Littré: “Đi tới ý tưởng rộng nhất của từ cả trong sự tạo thành hay cấu trúc của nó cũng như trong trong việc dùng nó hay chức năng là mục đích. Ý này gián tiếp nói tới lịch sử, sự so sánh, ngữ/từ nguyên.”[14]

   Francis Ponge thực hành để tìm ra một ngôn ngữ riêng cho thơ của mình bằng cách “thao tác các từ để đẩy chúng ra khỏi cái vỏ ý nghĩa của chúng, để đi xuống tận gốc rễ của chúng” như Jean Tortel nhận xét.[15]  

________________________________

[9] Francis Ponge, Notes sur un poème/ Proêms trong TOME PREMIER trang 154: Le langage ne se refuse qu’à une chose, c’est à faire aussi peu de bruit que le silence, [...] Mallarmé n’est pas de ceux qui pensent mettre le silence aux paroles. Il a une haute idée du pouvoir du poète. Il trahit le bruit par la bruit.

[10] Đàm thoại với Jean Duché, Synthèses số 50, 1950 trang 124 (trích dẫn theo Bernard Beugnot, Poétique de Francis Ponge, nxb PUF trang 24): Vers l’âge de quatorze ans, je me suis mis à lire le Littré (...) Sur nos lèvres, quelques sens vagues et vaseux. Quand à l’épaisseur du mot, sa matière, nous ne savons pas la toucher. C’est avec ce matériau que doit travailler l’écrivain.

[11] Francis Ponge, Pour un Malherbe, Gallimard 1965 trang 191: Paris, 25 Février 1955: Désespéré et sceptique, mais résolu, il faut vivre.

[12] Francis Ponge, La Rage de l’Expression trong TOME PREMIER trang 280.

[13] Entretien avec Jean Duché, Synthèses, 50, 1950, p.224.

[14] Francis Ponge, La Pratique de la Litterature trong Méthodes trang 223.

[15] Jean Tortel, Ponge qui n’a de cesse trong Francis Ponge, Colloque de Cerisy trang 17-18: Ponge n’a point de cesse qu’il ne parle. C’est sa pratique, son affaire, il manie les mots pour les sortir de leur gangue sémantique, pour descendre à leur racines.

(còn tiếp)

francis ponge

thơ

QUẢ CAM

   Cũng như trong cái khăn bọt biển trong quả có cam biểu lộ sự ham thích lấy lại sức dung chứa sau khi đã chịu đựng thử thách của sự biểu lộ. Thế nhưng khăn lau luôn thành công, còn trái cam lại chẳng thể: bởi vì những tế bào của nó đã vỡ, những thớ của nó đã bị xé rách. Trong khi chỉ có vỏ lấy lại một cách dẻo dai được hình dạng nhờ  tính chất co dãn của nó, một chất lỏng màu hổ phách tràn ra, cùng với sự giải khát, mùi thơm phức, hẳn là như vậy rồi, – nhưng thường lại cũng mang theo một ý thức chua chát của một sự tống ra những hạt sớm quá.

   Phải đứng về phía nào giữa hai cách hậu thuẫn việc ép không tốt này? – Cái khăn bọt biển chỉ là cơ bắp và chứa đầy gió, nước sạch hoặc nước dơ tùy lúc: cuộc rèn tập này thật ghê tởm. Cam có sở thích khá hơn, nhưng lại quá thụ động, – và sự dâng hiến thơm tho...đó quả thực là đánh giá quá cao kẻ đàn áp.

   Nhưng thực ra nếu chỉ nói về quả cam như thế là chưa đủ vì đã chỉ nhắc đến cách đặc biệt làm thơm không khí và làm cho tên đồ tể của nó vui sướng. Phải nhấn mạnh về sắc màu sáng rỡ của chất lỏng tuôn ra từ đó, và về, chất lỏng đó khá hơn nước quả chanh, buộc cổ họng mở rộng ra để cho việc phát âm tên nó như thể để nuốt chất lỏng vào, mà không chút nhăn nhó than thở của việc đưa lên miệng mà không nổi gai ốc.

   Và người ta sững sờ không nói nên lời để thú nhận sự ngưỡng mộ vỏ bọc của trái cầu hình bầu dục, mềm mại và mảnh dẻ trong tấm giấy thấm dầy ướt át có da hết sức mỏng nhưng rất đượm màu, mùi vị chua này, và đủ sần sùi để bắt ánh sáng trên cái hình dạng hoàn hảo của trái cây.

   Thế nhưng sau một cứu xét ngắn ngủi, được thực hiện càng vắn tắt càng tốt,– đến lượt phải xét đến hạt. Cái hột này, có hình dạng một quả chanh nhỏ xíu, bên ngoài có màu gỗ trắng của cây chanh, bên trong có màu xanh hạt đậu hay của mầm mềm. Chính nơi nó, sau sự bùng vỡ giật gân của cái đèn cù của vị, màu và hương do chính quả banh trái cây tạo thành,– tính chất cứng tương đối và tính chất còn xanh (tuy không hoàn toàn nhạt nhẽo) của thân cây, của cành, của lá: tổng số hết sức nhỏ nhưng chắc thực của lý do hiện hữu chẳng thể nghi ngờ của trái cây.

 

L’ORANGE

   Comme dans l’éponge il y a dans l’orange une aspiration à reprendre contenance après avoir subi l’épreuve de l’expression. Mais où l’éponge réussit toujours, l’orange jamais: car ses cellules ont eclaté, ses tissus se sont déchirés. Tandis que l’écorce seule se rétablit mollement dans sa forme grâce à son elasticité, un liquide d’ambre s’est rependu, accompagné de refraichissement, de perfum suaves, certes, – mais souvent aussi de la conscience amère d’une expulsion prématurée de pepins.

   Faut il prendre parti entre ces deux manières de mal supporter l’oppression? L’éponge n’est que muscle et se remplit de vent, d’eau propre ou d’eau sale selon: cette gymnastique est ignoble. L’orange a meilleur goût, mais elle est trop passive, et ce sacrifice odorant...c’est faire à l’oppresseur trop bon compte vraiment.

   Mais ce n’est pas assez avoir dit de l’orange que d’avoir rappelé sa façon particulière de parfumer l’air et de réjouir son bourreau. Il faut mettre l’accent sur la colorisation glorieuse du liquide qui en résulte, et qui, mieux que le jus de citron, oblige le larynx à s’ouvrir largement pour la prononciation du mot comme pour l’ingestion du liquide, sans aucune moue apprehensive de l’avant-bouche dont il ne faut pas se herisser les papilles.

   Et l’on demeure au reste sans paroles pour avouer l’admiration que mérite l’enveloppe du tendre, fragile et rose ballon ovale dans cet épais tampon-buval humide dont l’épiderme extrêmement mince mais très pigmenté, acerbement sapide, est juste assez rugueux pour accrocher dignement la lumière sur la parfaite forme du fruit.

   Mais à la fin d’une trop courte étude, menée aussi rondement que possible, – il faut en venir au pépin. Ce grain, de la forme d’un minuscule citron, offre à l’éxtérieur la couleur du bois blanc de citronnier, à l’intérieur un vert de pois ou de germe tendre. C’est en lui que se retrouvent, après l’explosion sensationnelle de la lanterne venitienne de saveurs, couleurs et parfums que consitue le ballon fruité lui-même,– la dureté relative et la verdeur (non d’ailleurs entièrement insipide) du bois, de la branche, de la feuille: somme toute petite quoique avec certitude la raison d’être du fruit.

 (TOME PREMIER, trang 46-47)

 

(còn tiếp)

đào trung đo

http://www.gio-o.com/DaoTrungDao.html

 

© gio-o.com 2019