ĐÀO TRUNG ĐẠO

thi sĩ / thi ca

(8)

 

       Kỳ 1, Kỳ 2, Kỳ 3, Kỳ 4, Kỳ 5, Kỳ 6, Kỳ 7, Kỳ 8, 

                                                                  

Trước khi chuyển hẳn sang chủ đề thời điểm trong Thơ Celan Derrida đưa ra một số nhận định: Một lời nói ra luôn luôn được ghi thời điểm. Derrida mạo muội thử nói về thời điểm một cách tổng quát, để xem một tính chất tổng quát có thể nói và chối bỏ ǵ về thời điểm, về cái thước đo giờ giấc (gnomon) của Celan ra sao, và tất cả những điều này đến lượt nó cũng sẽ được ghi thời điểm. Trước hết Derrida cho rằng ghi thời điểm kết cục là kư tên, viết một thời điểm, ủy thác (consigner) cho thời điểm không chỉ là kư tên từ một năm, tháng, ngày, giờ mà c̣n là từ một nơi chốn. Cứ xem những bài thơ của Celan ghi là viết ở Zurich, Tübingen, Todtnauberg, Paris, Jérusalem, Lyon, Tel Aviv, Vienne…th́ đủ rơ. Khi ta bắt đầu hay kết thúc một bức thư thời điểm ghi là sự ủy thác thời điểm “lúc này” của lịch hay của đồng hồ cũng như bằng tên riêng của nơi chốn của một xứ sở, vùng, nhà nào. Nhưng bằng cách này nó cũng đánh dấu ở cái điểm của thước đo giờ giấc, nơi phát sinh (provenance), nguồn gốc của cái ǵ được đưa ra, được gửi đi dù có sẽ tới nơi hay không. “Nói ở thời điểm của nó (Parlant à sa date), điều mà một diễn ngôn tuyên bố về thời điểm một cách tổng quát, về khái niệm hay về ư nghĩa tổng quát của thời điểm, người ta sẽ không nói rằng nó đă được ghi thời điểm như khi người ta nói về một sự vật rằng nó ghi thời điểm để hiểu ngầm về tuổi của nó, nó đă cổ cũ đi hay không, vậy nên, không phải để tước quyền hay làm mất hiệu lực một diễn ngôn, nhưng để chỉ ra ư nghĩa rằng nó ít nhất đă được đánh dấu, kư tên, đánh dấu lại theo một cách riêng. Như thế cái được đánh dấu lại chính là khởi hành của nó, tất nhiên là cái nó thuộc về nhưng cũng là cái nó khởi hành từ đó để nói với người khác: đó là một sự chia phần nào đó.”(39) Liên quan tới “nói với người khác: đó là một sự chia phần nào đó” Derrida kể lại kư ức của ḿnh về một vài trao gửi có ghi thời điểm (envois datés) của Celan cho ḿnh.  Derrida và Celan là đồng nghiệp ở ENS (Trường Cao đẳng Sư phạm) nhưng phần v́ hai người dạy ở hai phân khoa khác nhau phần v́ v́ tính cách của Celan rất khép kín nên hai người không có dịp giao tiếp. Cho măi tới năm 1968 khi Peter Szondi [1929-1971, giáo sư Văn chương Tỷ giảo ở Đại học Tự do Berlin] một người bạn thân của Derrida và Celan giới thiệu hai người với nhau và trong những lần gặp gỡ ngắn ngủi tiếp theo cả hai phần lớn chỉ giữ im lặng, tṛ chuyện rất ít, kư tặng nhau những tác phẩm của ḿnh. Derrida cũng nhắc tới một lần khác hai người gặp nhau: thi sĩ Edmond Jabès nhà ở gần ENS mời Celan và Derrida ăn trưa tại nhà. Derrida nhận thấy Celan rất lặng lẽ trong suốt bữa ăn. Derrida không biết giải thích sự im lặng của Celan thế nào cho đúng nên nghĩ rằng sâu kín trong Celan có một thứ bí ẩn, thinh lặng, và tính chất chính xác khiến cho Celan thấy từ/lời là không cần thiết nhất là trong một bữa ăn trưa. Đồng thời nơi Celan có thể cũng có một cái ǵ đó tiêu cực và Derrida sau này biết được qua những người quen biết cả hai rằng Celan thường trầm cảm, tức giận hay không hạnh phúc bởi những ǵ vây bủa Celan ở Paris, kinh nghiệm của Celan với người Pháp trong giới hàn lâm, ngay cả với những người bạn thi sĩ và những người dịch thơ Celan. Derrida t́nh trạng của Celan là vô hy vọng. Thế nhưng Derrida cũng nhận thấy qua sự im lặng của Celan có một tính cảm trừu mến lớn với ḿnh qua biểu lộ trong việc Celan viết những lời đề tặng trên sách của ḿnh tặng cho Derrida. (Xem bài La langue  n’appatient pas/Ngôn ngữ không thuộc về ai Évelyne Grossman phỏng vấn Derrida đăng trong EUROPE Paul Celan 2001)).

Derrida muốn t́m ra những hệ quả triết học của câu hỏi “Qu’est qu’une date? Một thời điểm là ǵ?”, liệu người ta có quyền đặt một câu hỏi như thế không, h́nh thức của câu hỏi “là ǵ…?” không phải là không có cội nguồn (provenance) từ nơi chốn phát sinh và ngôn ngữ/tiếng nói của nó, nó ghi thời điểm và dù nó được ghi thời điểm th́ việc này cũng không làm nó mất giá trị. Đặt câu hỏi “Liệu người ta có lo lắng về câu hỏi “một thời điểm là ǵ?” không?” Derrida nhận thấy từ bạn (toi) được nói với trong câu nói của Celan Nirgends/fragt es nach dir – , không ở đâu có câu hỏi về bạn cả, không đâu có sự lo lắng về bạn, là một thời điểm, người ta có thể chắc chắn về điều này: tiên thiên. Từ bạn này (ce toi) phải là một tôi (un moi) như Celan vừa nói Er, als ein Ich. Từ bạn này luôn luôn h́nh dung cho một sự cá biệt không thể thay thế và chỉ có một sự riêng biệt khác cũng là  không thể thay thế có thể đi tới vị trí của nó mà không thay thế nó. “Từ bạn này người ta nói với như nói với một thời điểm, với nơi đây và lúc này của một cội nguồn thể tưởng nhớ.” Theo Derrida câu hỏi “cái ǵ là…?” Giả thiết hai điều: trước hết nó có một lịch sử, một cội nguồn, được kư, được cam kết, được điều khiển bởi một nơi chốn, một thời gian, một tiếng nói/ngôn ngữ hay một mạng tiếng nói, nói cách khác bởi “một thời điểm về yếu tính của thời điểm, câu hỏi này chỉ có một sức mạnh giới hạn, một quyền lực có giới hạn, nếu không muốn nói là một sự thích đáng có thể bị thách thức. Điều này không phải là không có tương quan với điều cuộc Hội thảo [Argumentum e Silentio: International Paul Celan Synposium, 1984] của chúng ta gọi là “những bao hàm triết lư trong tác phẩm của Celan.” Không nghĩ rằng triết lư khi tra vấn “cái này là ǵ?” nói được điều ǵ thiết yếu về những thời điểm trong tác phẩm Celan hay về Celan nói ǵ hay làm ǵ về thời điểm nhưng rất có thể đến lượt ḿnh Celan lại nói một điều ǵ đó về triết lư. Giả thiết thứ nh́ là, trong mô tả một thời điểm, trong hiện tượng rơ ràng và được mă số (phénomène explicit et codé) của việc ghi thời điểm, nhất thiết cái được ghi thời điểm song le phải không bị ghi thời điểm (il faut bien que ce qui est daté ne soit pas daté) bởi v́, thời điểm, có và không, như Celan đă hơn một lần nói “Nói/Nhưng đừng có tách rời Không khỏi Có./Hăy cho lời ngươi nói ư nghĩa:/ cho lời nói bóng tối./Cho nó đủ bóng tối,/ cho nó càng nhiều bóng tối/ rằng quanh ngươi ngươi biết rằng [bóng tối] trải rộng giữa/Nửa đêm Chính ngọ Nửa đêm.” (Sprich Auch Du).

Trong hiện tượng ghi thời điểm nhất thiết cái được ghi thời điểm song le phải không bị ghi thời điểm: Kinh tuyến. Tuy vậy việc ghi dấu cái người ta gọi là thời điểm lại phải được xóa-dấu tích (se dé-marquer) một cách riêng biệt bằng cách tách khỏi hay lẩn trốn chính nó, không c̣n để sự dính dáng tức thời của nó với sự kiện ở đây-lúc này, tách rời khỏi cái nó ghi thời điểm để có thể đọc được như một thời điểm. Nghĩa là trong việc ghi thời điểm cái không thể lặp lại (unwiederholdbar, từ Celan dùng) được lặp lại, tự xóa bỏ tính chất riêng biệt không thể thu giảm nó biểu thị, nó phải bằng một cách nào đó phân thân trong khi lặp lại cùng lúc để tự ghi số (se chiffre) hay tự mă số (se crypte). Theo Derrida, thời điểm cũng giống như physis phải tự xóa bỏ để trở thành có thể đọc được và tự biến thành không thể đọc được trong tính chất đọc được bởi nếu nó không đ́nh chỉ nét đặc biệt trong chính nó này – tính chất có liên hệ tới biến cố không chứng nhân – th́ nó tuy sẽ vẫn được giữ nguyên trạng nhưng lại tuyệt đối không thể giải mă. “Nó không c̣n là cái nó phải là, cái nó sẽ phải là, yếu tính và hướng đi tới của nó, nó không giữ lời hứa, lời hứa hẹn của một thời điểm.” (Elle n’est même plus ce qu’elle a à être, ce qu’elle aura dû être, son essence et sa destination, elle ne tient plus sa promesse, celle d’une date). Trở lại câu hỏi: “Một cái ǵ đó sau khi đă được ghi thời điểm trong khi tạo một thời điểm, lại không ghi thời điểm” Derrida cho rằng câu hỏi này không thể được lập ra theo cách này trong mọi ngôn ngữ, và chỉ suưt soát có thể dịch sang ngôn ngữ khác được. Lư do v́ một thời điểm luôn gắn kết với một cái tên riêng để chúng ta suy nghĩ, tưởng nhớ hay chúc phúc cũng như đan chéo trong sự có thể-không có thể phiên dịch. Cũng c̣n v́ động từ dater/ghi thời điểm trong tiếng Pháp hay tiếng Anh có thể dùng ở cả hai hai dạng thức nội động từ (verbe transitif) và ngoại động từ (verbe intransitif) chẳng hạn câu “je date un poème/tôi ghi thời điểm bài thơ” (transitif) c̣n “un poème date/một bài thơ ghi thời điểm” (intransitif) lại hàm nghĩa bài thơ có già đi, có một lịch sử và một tuổi thọ. Thế nhưng, câu hỏi “một thời điểm là ǵ?” không phải trước hết là hỏi về từ “thời điểm” nghĩa là ǵ cũng như không phải là khảo sát về từ nguyên dù rằng việc này cũng hữu ích và có thể dẫn tới việc suy nghĩ về tặng phẩm và tính chất đặc biệt của bản văn (litteralité), nghĩa là tặng phẩm của chữ (data littera), những chữ đầu của một công thức để chỉ thời điểm. Nó cũng sẽ có thể giúp chúng ta theo dơi từ đầu tiên của một bức thư cũng như từ đầu tiên của một tặng phẩm (un don) hay của một trao gửi (l’envoi). “Tặng phẩm hay trao gửi sẽ đưa chúng ta ra khỏi câu hỏi đặt dưới h́nh thức “cái này là ǵ?” bởi “một thời điểm không là ǵ cả, v́ nó thu rút để hiện ra, nhưng nếu không có bài thơ tuyệt đối – ngay cả khi nó không hiện hữu  –  th́ rất có thể vẫn có một cái ǵ đó của thời điểm như Celan nói.”(41)

Dựa trên giá trị của tặng phẩm và của tên riêng Derrida tạm thời liên kết ra ba giá trị thiết yếu khác: 1. Giá trị của trao gửi trong những giới hạn nghiêm nhặt của điều lệ thư từ (code épistolaire); 2. Việc đánh dấu lại (re-marque) của địa điểm và thời gian, ở vào nơi đây-lúc này và; 3. Chữ kư trên nguyên tắc có giá trị của một sự cam kết được kư nhận, một bó buộc, một hứa hẹn, một  thệ nguyện (sacramentum). Theo yếu tính của nó một chữ kư luôn luôn được ghi thời điểm, người kư tên ở đâu lúc này chứng nhận cho sự có mặt của ḿnh. Celan đă ghi thời điểm tất cả những bài thơ của ḿnh. Theo Derrida tuy nhiên đó chỉ là thời điểm bài thơ được bắt đầu viết ra và viết xong (thời điểm ngoại tại) v́ nó nằm ngoài bài thơ và chắc chắn người ta không có quyền đẩy tận cùng tới mức giới hạn sự phân biệt giữa việc ghi ngoại tại này với sự cho vào thiết yếu hơn hết cái thời điểm trong một bài thơ v́ nó là một thành phần của bài thơ, chính bài thơ.  Theo một cách nào đó bài thơ của Celan có khuynh hướng di chuyển, xóa bỏ biên giới này. Nhưng nếu để cho có sự sáng tỏ trong việc tŕnh bày chúng ta cứ giữ nguyên giả thiết tạm thời th́ chúng ta trước hết sẽ lưu ư tới một sự ghi thời điểm được ghi vào trong thân thể bài thơ (dans le corps du poème), trong một trong những phần bài thơ dưới một h́nh thức có thể nhận ra được theo thể lệ truyền thống (chẳng hạn “ngày 13 tháng Hai”) kế đến đến là một cách ghi thời điểm dưới h́nh thức không-theo qui ước (forme non-conventionelle), không theo lịch và hoàn toàn lẫn vào tổ chức của bản văn thi ca. Thí dụ trong câu thơ thơ thứ nh́ trong tập Schneepart/Snowpart  DU LIEGST im grossen Gelausche (42). Peter Szondi [bạn thân của Celan] cho biết ban đầu tập thơ này được Celan đặt tựa đề là “Berlin, tháng Chạp 22/23/1967 và thời điểm Celan viết những bài thơ này là đêm 22 tháng Chạp tức là giáp Giáng Sinh, bản văn bài thơ nói đến cả hai chi tiết này: Du liegst (“Ngươi nằm”) cho biết về giờ giấc (đêm) và der Tisch mit den Gaben (“bàn với những tặng phẩm”) cho thấy tiệc Giáng Sinh gần kề, nhưng sau đó chính Celan xóa bỏ cả hai chi tiết nơi chốn (Berlin) và thời điểm viết bài thơ trên bản thảo khi bài thơ được in trong tập Ausgewählte Gedichte. (43) Derrida cho rằng Szondi đă có schibboleth đặc quyền để khám phá ra bí ẩn của bài thơ. Tuy nhiên nếu để bài thơ không có nhân chứng th́ bài thơ vẫn nói lên (parlante) như Celan đă từng phát biểu “Nhưng bài thơ [vẫn, quả thực] nói” bên ngoài tính chất riêng biệt được ghi thời điểm của kinh nghiệm cá nhân thi sĩ. Theo Derrida chứng nhân (Szondi) vừa không thể không có (indispensable) vừa thiết yếu (essentiel) cho việc đọc bài thơ, cho việc chia phần (partage). Thế nhưng đến lượt nó việc đọc có chứng nhân này lại chỉ là phụ vào, không thiết yếu (supplémentaire, non essentielle), chỉ đảm bảo một thặng dư của tính chất có thể hiểu được bài thơ, không hẳn cần tới. Vừa thiết yếu vừa không thiết yếu (à la fois) chính là giả thiết Derrida nêu ra cho cấu trúc của thời điểm. Và việc Celan đă rút bỏ  thời điểm ngoại tại (date externe) cũng không phá hủy việc ghi thời điểm nội tại (datation interne) của bài thơ. Derrida muốn chứng minh chính ghi thời điểm nội tại này đến lượt nó lại chứa đựng một sự tự-xóa bỏ (auto-effacement) của chính cấu trúc ghi thời điểm. Bài thơ tuy có tính chất riêng biệt tuyệt đối (singularité absolue) những ghi dấu mă tự (marques codées) đồng thời cũng là sự xóa bỏ ghi dấu để cho sự tưởng nhớ trở lại như một bóng ma: thời điểm là một bóng ma (une date est un spectre) nó trở về trong ṿng kỷ niệm hàng năm như khả tính của sự lập lại không những của sự hồi tưởng mà c̣n của chính thời điểm nữa, chẳng hạn trong ṿng kỷ niệm hàng năm (anneau anniversaire) th́ ngày 13 tháng Hai 1962 cũng tương tự (analogue) như ngày 13 tháng Hai, 1936 mà thôi. Derrida dẫn chứng bài thơ sau đây của Celan:

                               MIT BRIEF UND UHR

                   Wachs,

                   Ungeschriebnes zu siegeln,

                   das deinen Namen

                   errier,

                   das deinen Namen

                   verschlüsselt.

 

                   Kommst du nun, schwimmendes Licht?

 

                   Finger, wächsern auch sie

                   durch fremde,

                   schmerzende Ringe gezogen.

                   Fortgeschmolzen die Kuppen.

 

                   Kommst du, schwimmendes Licht?

 

                   Zeitleer die Waben der Uhr,

                   bräutlich das Immentausend,

                   reisebereit.

 

                   Komm, schwimmendes Licht.

 

                   CHỮ VÀ ĐỒNG HỒ

 

                   Sáp

                   để phong kín cái không được viết ra

                   đoán tên ngươi,

                   đọc ra

                   tên ngươi.

 

                   Sẽ đến chăng, ánh sáng chuyển dịch?

 

                   Những ngón tay, cũng được thoa sáp

                   xuyên qua

                   những chiếc nhẫn lạ kỳ và đớn đau

                   Những đầu ngón tay tan đi.

 

                   Sẽ đến chăng, ánh sáng chuyển dịch?

 

                   Lỗ hổng tổ ong đồng hồ trống rỗng thời gian,

                   vô vàn ong kết bầy

                   sẵn sàng bay đi.

 

                   Tới, ánh sáng chuyển dịch.

 

                   LETTRE ET HORLOGE      

 

                   Cire

                   pour sceller l’inécrit

                   qui devina ton nom,

                   qui chiffre

                   ton nom.

 

                   Viendras-tu, mouvante lumière?

 

                   Doigts, de cire eux aussi,

                   passés en d’étranges,

                   douloureux anneaux,

                   et fondues leurs extrémités.

 

                   Viens-tu, mouvante lumière?

 

                   Vacantes de temps

                   les alvéoles de l’heure,

                   mille abeilles, essaim nuptial

                   prêt au voyage.

 

                   Viens, mouvante lumière.

                                          

(Bản Pháp văn của JeanPierre Burgart)

                                          

________________________________

(39)  Sđd, trang 30: Parlant à sa date, ce qu’un discours declare de la date en général, du concept ou du sens général de la date, on ne dira pas qu’il s’en trouve date comme on dit d’une chose qu’elle date pour sous-entendre son âge, qu’elle a veilli ou mal veilli, non pas donc, pour disqualifier ou périmer un discours, mais pour signifier qu’il s’en trouve au moins marqué, signé, re-marqué d’une singulière façon. Ce qui se remarque alors, c’est son départ, ce à quoi il appartient sans doute mais dont il se départit pour s’adresser à autre: un certain partage.

(40) Sđd, trang 31: Ce toi, on s’adresse à lui comme à une date, à l’ici et maintenant d’une provenance commémorable.

(41) Sđd, trang 33: Le don ou l’envoi nous emporteront au-delà de la question donnée dans la forme “qu’est-ce que?”. Une date n’est pas puisqu’elle se retire pour apparaître, mais s’il n’y a pas de poème absolu (Das absolute Gedicht-nein, das gibt es gewiss nicht, das kann es nicht geben!), dit Celan, peut-être y a-t-il (es gibt) de la date – et même si elle n’existe pas.

(42) Eden là tựa đề bài khảo luận của Peter Szondi về bài thơ đầu tiêng của tập thơ Schneepart trong Celan-Studien. Trong Paul Celan, Die Gedichte, Suhrkamp Verlag, Berlin 2003 tất cả những bài thơ trong tập này Celan không đặt tựa đề nhưng được đánh số thứ tự từng bài.

(43) Peter Szondi, Celan Sudies bản Anh văn của Susan Bernofsky và Harvey Mendelsohn, nxb Stanford 2003 trang 84.

(c̣n tiếp)

ĐÀO TRUNG ĐẠO               

 

http://www.gio-o.com/DaoTrungDao.html

 

 

© gio-o.com 2016