đào trung đạo

thi sĩ / thi ca

(94)

Kỳ 1, Kỳ 2, Kỳ 3, Kỳ 4, Kỳ 5, Kỳ 6, Kỳ 7, Kỳ 8, Kỳ 9, Kỳ 10, Kỳ 11, Kỳ 12, Kỳ 13, Kỳ 14, Kỳ 15, Kỳ 16, Kỳ 17, Kỳ 18, Kỳ 19, Kỳ 20, Kỳ 21, Kỳ 22, Kỳ 23, Kỳ 24, Kỳ 25, Kỳ 26, Kỳ 27, Kỳ 28, Kỳ 29, Kỳ 30, Kỳ 31, Kỳ 32, Kỳ 33, Kỳ 34, Kỳ 35, Kỳ 36, Kỳ 37, Kỳ 38, Kỳ 39, Kỳ 40, Kỳ 41, Kỳ 42, Kỳ 43, Kỳ 44, Kỳ 45, Kỳ 46, Kỳ 47, Kỳ 48, Kỳ 49, Kỳ 50, Kỳ 51, Kỳ 52, Kỳ 53, Kỳ 54, Kỳ 55, Kỳ 56, Kỳ 57, Kỳ 58, Kỳ 59, Kỳ 60, Kỳ 61, Kỳ 62, Kỳ 63, Kỳ 64, Kỳ 65, Kỳ 66, Kỳ 67, Kỳ 68, Kỳ 68,Kỳ 66, Kỳ 69, Kỳ 70, Kỳ 71, Kỳ 72, Kỳ 73, Kỳ 74, Kỳ 75, Kỳ 76, Kỳ 77, Kỳ 78, Kỳ 79, Kỳ 80, Kỳ 81, Kỳ 82, Kỳ 83, Kỳ 84, Kỳ 85, Kỳ 86, Kỳ 87, Kỳ 88, Kỳ 89, Kỳ 90, Kỳ 91, Kỳ 92, Kỳ 93, Kỳ 94,

 

GIUSEPPE UNGARETTI

Chương II

Thi pháp và Thi ca của Ungaretti

            THƠ (tiếp theo)

CAINO

Corre sopra le sabbie favolose

E il suo piede è leggero.

 

O pastore di lupi,

Hai i denti della luce breve

Che punge i nostri giorni.

 

Terrori, slanci,

Rantoro di foreste, quella mano

Che spezza come nulla vecchie querci,

Sei fatto a immagine del cuore.

 

E quando è l’ora molto buia,

Il corpo allegro

Sei tu fra gli alberi incantati?

 

E mentre scoppio di brama,

Cambia il tempo, t’aggiri ombroso,

Col mio passo mi fuggi.

 

Come una fonte nell’ombra, dormire!

 

Quando la mattina è ancora segreta,

Saresti accolta, anima,

Da un’onda riposata.

 

Anima, non saprò mai calmarti?

 

Mai non vedrò nella notte del sangue?

 

Figlia indiscreta delle noia,

Memoria, memoria incessante,

Le nuvole della tua polvere,

Non c’è vento che se le porti via?

 

Gli occhi mi tornerebbero innocenti,

Vedrei la primavera eterna

 

E, finalmente nuova,

O memoria, saresti onesta

                                                                               1928

 

CAÏN

 

Anh ta chạy băng ngang cát thần thoại

Và chân anh nhẹ tênh.

 

Kẻ chăn sói,

Ngươi có những móc câu của ánh sáng thoắt qua

Chọn những ngày của chúng ta.

 

Những khiếp đảm, những thúc hối,

Tiếng thở hấp hối của rừng, và bàn ta này

Đập nát những cây sồi già,

Ngươi được sinh ra theo hình ảnh trái tim.

 

Và khi thời gian hoàn toàn tăm tối đến,

Nỗi hân hoan của thân xác

Phải chăng ngươi giữa đám những cây cối mê say?

 

Và khi tôi bùng vỡ ham muốn,

Thời tiết thay đổi, ngươi lang thang trong bóng tối

Nghe tiếng bước chân tôi, ngươi lẩn trốn.

 

Ôi một giấc ngủ như suối trong bóng tối!

 

Khi sớm mai hãy còn chưa rạng tỏ,

Linh hồn, ngươi sẽ được chào đón,

Bởi nước lặng câm.

 

Linh hồn, phải chăng tôi sẽ chẳng thể làm ngươi dịu đau?

Cũng chẳng bao giờ nhìn trong máu tối tăm?

 

Thiếu nữ bất cẩn của buồn chán,

Ký ức, ký ức chẳng ngưng,

Những đám mây bụi của ngươi,

Có trận gió nào mang chúng đi?

 

Những con mắt sẽ lại hồn nhiên,

Tôi sẽ nhìn mùa xuân của vĩnh cửu.

 

Và, cuối cùng mới mẻ,

Hỡi ký ức, ngươi sẽ trung thành.

 

LA MORTE MEDITATA

                                                                               1932

Canto primo

 

O sorella dell’ombra,

Notturna quanto più la luce ha forza,

M’insegui, morte.

 

In un giardino puro

Alla luce ti diè l’ingenua brama

E la pace fu persa,

Pensosa morte,

Sulla tua bocca.

 

Da quel momento

Ti odo nel fluire della mente

Approfondire lontananze,

Emula sofferente dell’ eterno.

 

Madre velenosa degli evi

Nella paura del palpito

E della solitudine,

 

Bellezza punita e ridente,

 

Nell’assopirsi della carne

Sognatrice fuggente,

Atleta senza sonno

Della nostra grandezza,

 

Quando m’avrai domato, dimmi:

 

Nella malinconia dei vivi

Voletà a lungo la mia ombra?

 

CÁI CHẾT SUY NIỆM

 

Bài ca thứ nhất

 

Hỡi em tỉ muội của bóng hình,

Càng tối tăm hơn dù ánh sáng chói chang hơn,

Ôi cái chết, ngươi theo ta.

 

Trong một khu vườn ban sơ

Sự khao khát hồn nhiên đem ngươi ra ánh sáng

Và an bình,

Cái chết trầm tư,

Đã mất trên miệng ngươi.

 

Từ thời khắc này,

Ta nghe ngươi trong dòng chảy tinh thần

Đào sâu những khoảng cách

Sự đua tranh đớn đau của vĩnh cửu.

 

Mẹ độc ác của thời gian

Trong nỗi sợ của nhịp tim đập

Và sự cô đơn,

 

Cái đẹp bị trừng phạt, mỉm cười

 

Trong ngầy ngật của xác thịt

Kẻ nằm mơ phù du,

 

Lực sĩ không ngủ nghê

Của sự vĩ đại của chúng ta,

 

Khi nào ngươi đã khuất phục được ta, hãy nói cho ta biết:

 

Trong nỗi buồn của cuộc sống

Bóng hình ta có sẽ mãi bay bổng?

 

Canto secondo

 

Scava le intime vite

Della nostra infelice maschera

(Clausura d’infinito)

Con blandizia fanatica

La buia veglia dei padri.

 

Morte, muta parola,

Sabbia deposta come un letto

Dal sangue,

Ti odo cantare come una cicala

Nella rosa abbrunata dei riflessi.

 

Bài ca thứ nhì

 

Khoét sâu cuộc sống riêng tư

Của mặt nạ khổ đau của chúng ta

(Sự khép lại của vĩnh cửu)

Với sự mơn trớn kỳ quái

Lời kinh cầu trong đêm của tổ tiên chúng ta.

 

Cái chết, lời câm nín

Cát trải ra như một lòng sông

Bằng máu,

Ta nghe ngươi ca hát như một con ve sầu

Trong bông hồng tăm tối của những ánh phản chiếu.

 

Canto terzo

 

Incide le rughe segrete

Della nostra infelice maschera

La beffa infinita deu padri.

 

Tu, nella luce fonda,

O confuso silenzio,

Insisti come le cicale irose.

 

Mi pressero per mano nuvole.

 

Brucio sul colle spazio e tempo,

Come un tuo messagero,

Come in sogno, divina morte.

 

Bài ca thứ ba

 

Khắc sâu những nếp nhăn bí ẩn

Của mặt nạ khổ đau của chúng ta

Lời bông đùa không ngừng của tổ tiên.

 

Ngươi trong ánh sáng sâu thẳm,

Ôi niềm im lặng rối bời,

Dai dẳng như những con ve sầu phấn khích.

 

Canto quarto

 

Mi presero per mano nuvole.

 

Brucio sul colle spazio e tempo,

Come un tuo messagero,

Come il sogno, divina morte.

 

Bài ca thứ tư

 

Mây nắm lấy tay tôi.

 

Tôi đốt không gian và thời gian trên đồi,

Như một sứ giả,

Như giấc mơ, cái chết thiêng liêng.

 

Canto quinto

 

Hai chiuso gli occhi.

 

Nasce una notte

Piena di finte buche,

Di suoni morti

Come di sugheri

Di reti calate nell’acqua.

 

Le tue mani si fanno come un soffio

D’inviolabili lontananze,

Inafferrabili come le idee.

 

E l’equivoco della luna

E il dondolio, dolcissimi,

Se vuoi posarmele sugli occhi,

Toccano l’anima.

           

Sei la donna che passa

Come una foglia

 

E lasci agli alberi un fuoco d’autunno.

 

Bài ca thứ năm

 

Ngươi đã nhắm mắt lại.

 

Và một đêm chào đời

Đầy những hố sâu không có thực,

Của những âm thanh chết,

Như tiếng động nút chai,

Của lưới thả xuống nước.

 

Bàn tay ngươi biến thành hơi thở

Của những khoảng cách không thể xâm phạm

Không thể nắm lấy như những ý tưởng,

 

Và sự mờ ảo của trăng

Và sự lung linh, thật nhẹ nhàng,

Và nếu em muốn đặt chúng trên mắt tôi

Chạm vào linh hồn.

 

Em là người phụ nữ đi ngang qua

Như một chiếc lá

Và để lại cho cây cối một ngọn lửa của mùa thu.

 

Canto sesto

 

O bella preda,

Voce notturna,

Le tue movenze

Fomentato la febbre.

 

Solo tu, memoria demente,

La libertà potevi catturare.

 

Sulla tua carne inafferrabile

E vacillante dentro specchi torbidi,

Quali delitti, sogno,

Non m’insegnasti a consumare?

 

Con voi, fantasmi, no ho mai ritegno,

 

E dei vostri rimorsi ho pieno il cuore

Quando fa giorno.

 

Bài ca thứ sáu

 

Ôi mồi nhử đáng yêu,

Tiếng nói đêm,

Chuyển động của ngươi làm ta

Bừng bừng và kích động

 

Chỉ có ngươi, ký ức điên cuồng là,

Có thể cầm tù tự do.

 

Giấc mơ, lảng tránh và chao đảo

Trong những tấm gương mây phủ, tội lỗi nào

Ngươi không chỉ cho ta làm sao để

Chống lại xác thịt?

 

                               Những bóng ma, với các ngươi ta không chút dè dặt,

 

Và trái tim ta tràn đầy những hối hận của ngươi

Khi ngày tỏ rạng.

 _________________________________

 

Thi pháp và Thi ca (tiếp theo).

 

Trong bài nói ngắn của mình về Thi pháp ở Viện C.M.Lereci, đại học Upsala (Stockholm) Ungaretti có đề cập tới việc ông chịu ảnh hưởng của Pétrarque, Léopardi, Mallarmé, Appolinaire và ta có thể hiểu đó là những người được Ungaretti coi là “thầy” và Ungaretti cũng nhấn mạnh thêm: “ai cũng phải có thầy [...] nhưng ta phải có cách riêng của mình ngay cả khi đã chọn được thầy.” Ungaretti không nói rõ “cách riêng” của ông như thế nào. Ungaretti đã chịu ảnh hưởng các bậc thầy mình chọn về nội dung hay về hình thức thi ca?

 

Hugo Friedrich trong The Stucture of  Modern Poetry [8] cho rằng thi ca thế giới thế kỷ 20 được khai sinh ở Pháp từ giữa thế kỷ 19 như tiên đoán của Novalis và Edgar Allan Poe qua ảnh hưởng của ba tên tuổi lớn: Baudelaire, Rimbaud, và Mallarmé.  Về ảnh hưởng Hugo Friedrich cho rằng đó không hẳn là một diễn tiến thụ động nhưng là kết quả của một sự chọn lựa “sư phụ” đưa đến việc củng cố tài năng thi ca. “Nơi những thi sĩ thượng thừa ảnh hưởng không mấy chút là một diễn tiến thụ động như kết quả của một sự lôi cuốn chọn lựa đã đưa những thi sĩ này đến việc khảng định và tăng cường tài nghệ của chính họ như họ thấy có nơi một thi sĩ trước đó. Ngay cả khi không thấy có một ảnh hưởng nào chăng nữa, [thì] một sự tương tự về cấu trúc giữa một thi sĩ hiện đại với những tiền nhân kể trên có thể vẫn thấy rõ. Một sự giống nhau như thế chứng tỏ rằng –  điều này đúng một cách tổng quát – sự kiện một thứ coi như một sức ép/áp lực về văn phong và về cấu trúc trong một thời đại nào đó.”[9] Để xem xét ảnh hưởng này Hugo Friedrich thay vì tìm xem những ảnh hưởng khả dĩ có thể có như thế nào nhưng lại đưa ra phương pháp mô tả những dấu tích xác định phẩm chất (hallmarks) của một thực hành thi ca chung (common poetic practice). Hugo Friedrich đã dùng phương pháp này để xem xét ảnh hưởng của Mallarmé trên Ungaretti. Nhưng điều quan trọng khi nghiên cứu ảnh hưởng của các thi sĩ tiền bối ở thế kỷ trước trên các thi sĩ Âu châu hiện đại Hugo Friedrich không chú ý tới nội dung, mô típ hay đề tài thơ của họ mà chỉ chú tâm tới kỹ thuật, thi pháp họ sử dụng. “Một bài thơ của T.S. Eliot, St.-John Perse hay Ungaretti không thể nào được diễn giải một cách thỏa đáng dựa trên nội dung, mặc dù những bài thơ như vậy chắc chắn có “nội dung” của chúng, ngay cả nội dung này thuộc về một một bộ những đề tài rất nổi đối với mỗi tác gia. Nhưng khoảng cách giữa chủ đề và tài nghệ kỹ thuật ngôn ngữ lớn hơn hẳn trong thi ca trước đây. Đỉnh cao của một công trình và hiệu ứng nằm chính ở kỹ thuật này. Năng lượng hầu như hoàn toàn được ném vào văn phong. Văn phong là sự thực hành ngôn ngữ và, như thế, là sự bày tỏ tức khắc nhất của ẩn dụ của cái thực và cái bình thường.  Như vậy cái khác biệt với thi ca trước đây nằm ở sự kiện sự cân bằng giữa nội dung và hình thức bị phá hủy bởi sự phong phú của hình thức. Với tất cả sự băn khoăn, sự đứt đoạn, sự tha hóa của nó, văn phong không bình thường lôi kéo sự chú ý về chính nó. Người đọc không thể, như với thi ca cũ, tập trung trên cái được nói ra và bỏ qua cái được nói ra như thế nào. Sự không phù hợp của dấu chỉ với cái nó đại diện là một luật tắc của cả thi ca hiện đại lẫn nghệ thuật hiện đại.”[10]

 

Hugo Friedrich nhận xét thi ca hiện đại thù địch cấu trúc câu/lối nói (phrase) theo kiểu thông thường và sự thù địch chung này hiện rõ trong những bài thơ có nhiều câu mệnh danh (nominal phrases) trong nhiều dòng và – bằng một cách hầu như ngẫu nhiên vô tình đưa vào một động từ chủ ngữ (verbal predicate) như trong đoạn thơ trong bài O Notte/Ôi đêm tối của Ungaretti: “Với đầy khao khát rạng đông/Những cột buồm mở ra/Thức giấc đớn đau/Lá, chị em tôi/Tôi nghe chị em thở than.” Thi pháp đảo ngược cũng được Ungaretti sử dụng như khổ thơ sau đây trong bài Buồn chán: “Ngay cả đêm nay cũng sẽ qua đi/Cô đơn hoàn toàn vây quanh/bóng lưỡng lự của những đường dây xe điện/trên đường nhựa ướt sũng/Tôi quan sát những cái đầu của những người đánh xe ngựa nửa thức nửa ngủ/gật gù.”[11] Thái độ phản-cú pháp (antisyntactic attitude) của thơ hiện đại bằng cách làm cho động từ thành mất khả năng cũng được Ungaretti sử dụng. Phản-cú pháp có nghĩa những nội dung định danh của ý tưởng được hoàn toàn duy trì thay vì được cho xen vào thời gian hay dòng chảy những biến cố, và trong những trường hợp cực điểm những nội dung không có quan hệ gì với nhau tạo nên sự đoạn rời cũng như củng cố sự cô lập chúng. Danh từ có cường độ lớn hơn hẳn trong lối/câu nói thông thường. Phản-cú pháp cũng được thể hiện bằng cách cho những từ hiện ra lần lượt và chức năng của chúng không được làm rõ bằng những từ đặt quan hệ (relational words) chẳng hạn Eluard đặt tựa cho tập thơ của mình là L’Amour la poésie/Tình yêu thi ca khiến người đọc băn khoăn phải chăng tình yêu là động cơ chính của thi ca hay tình yêu và thi ca đồng đẳng, hay thi sĩ còn có ý nói một điều gì khác. Phản-cú pháp khởi đầu với Mallarmé và trở thành một qui luật trong việc làm những câu thơ không có chấm câu. Hugo Friedrich cũng đưa ra nhận xét kể từ tập Sentimento del tempo thi ca Ungaretti là tiếng nói trong hoàn cảnh không có niềm vui hay nỗi đau mà là tiếng nói rung lên trong trầm tư trung tính (neutral contemplation). Trong những bài ca của bài Cái Chết Suy Niệm cho thấy tình cảm thường tình đã bị loại bỏ, người phụ nữ yêu dấu “xa vời như trong một tấm gương,” tình yêu cho thấy cô đơn hướng nội mãi mãi là “một nấm mồ.”


______________________


[8] Hugo Friedrich, Die Strktur der modernen Lyrik, 1956, bản dịch Anh văn The Stucture of  Modern Poetry của Joachim Neugroschel, Northwestern University Press, Eanston 1970, trang 70; bản Pháp văn Structure de la Poésie Moderne, nxb Denoel, coll. Poche 1999.

[9] Sđd trang 107-108: In superior poets, literary influence is not so much a passive process as the result of an elective affinity that has led them to confirm and strengthen their own astistic talents as they find them in some earlier poet. Even in the absence of any influence, a structural similarity between a modern poet and the above-listed foerbears may be present. Such a likeness proves the – generally valid – fact that there is such a thing as a stylistic and structural pressure within a given era. In our case, the pressure is the one that has been shaping European poetry for nearly a hundred year. Thus, rather than go into possible influences, we shall employ a method thay we have already used – the method of depicting the hallmarks of a common poetic practice.

[10] Sđd trang 114: A poem by T.S. Eliot, St.-John Perse, or Ungaretti cannot be satisfactorily interpreted on the basis of content, although such poems certainly have their “contents,” which may even belong to a set of themes highly revealing for each author. But the distance between the subject matter and the technique of language artistry is considerably greater than in earlier poetry. The summit of work and affect lies in that very technique. The energies are thrust almost entirely into the style. The style is the linguistic execution and, as such, the most immediate manifestation of the great metamorphosis of the real and the normal. Thus, the difference with regard to earlier poetry lies in the fact that the balance between content and form is destoyed by the preponderance of the latter. With all its disquiet, its fragmentation, its alienation, the abnormal style draws attention to itself. The reader cannot, as he did with older poetry, concentrate on what is said and neglect how it is said. Incongruence of the sign with what it stands for is a law of both modern poetry and modern art.

[11] Sđd trang 118-119.

 

(còn tiếp)

đào trung đạo

 

http://www.gio-o.com/DaoTrungDao.html 

© gio-o.com 2018