đào trung đạo

thi sĩ / thi ca

(33)

 

                       Kỳ 1, Kỳ 2, Kỳ 3, Kỳ 4, Kỳ 5, Kỳ 6, Kỳ 7, Kỳ 8, Kỳ 9, Kỳ 10, Kỳ 11, Kỳ 12, Kỳ 13, Kỳ 14, Kỳ 15, Kỳ 16, Kỳ 17, Kỳ 18, Kỳ 19, Kỳ 20, Kỳ 21, Kỳ 22, Kỳ 23, Kỳ 24, Kỳ 25, Kỳ 26, Kỳ 27, Kỳ 28, Kỳ 29, Kỳ 30, Kỳ 31, Kỳ 32, Kỳ 33,

 

          Hans-Jost Frey: Liên bản văn trong thi ca Celan

Câu trả lời cho vấn đề trên phải đặt căn bản trên những từ mở đầu bài thơ. “Die wahr-/ geblieben, wahr-/ geworden Zeile” là sự định tính chất (qualification) – một định tính vẫn c̣n phải hiểu rơ – cho trích dẫn tiếp theo. The H-JF “Trong mọi trường hợp, vẫn c̣n (Bleiben/remaining) và trở thành (Werden/becoming) là những yếu tố định nghĩa của chính diễn tŕnh ngôn ngữ trong tŕnh tự chúng được đặt tên. Trong việc chuyển từ wahr-geblieben sang wahr-geworden mọi thứ đều c̣n nguyên vẹn ngoại trừ yếu tố [b]lieb, yếu tố này trở thành từ. Chính nó qui chiếu trước tới phần 2, trong phần này những từ LieberWort xuất hiện, nhưng vẫn ẩn dấu khỏi cái nh́n theo đường thẳng tới và chỉ trở thành tiếp cận được khi phần 2 qui chiếu lại phần 1 để phần 1 trở thành có thể nhận biết được trong việc hướng tới phía trước của nó. Mối tương quan này không thể được thu vào vấn đề về âm thanh. Mặc dù sự biến đổi, trong việc chuyển từ wahr-geblieben sang wahr-geworden, ban đầu chỉ ở trong việc thay thế một chuỗi âm thanh bằng một chuỗi khác ([b]lieb-word) và một khi  mối tương quan với những từ LiebeWort xuất hiện th́ ư nghĩa của sự biến đổi này không c̣n thể không được lư tới. Vậy nên rơ ràng t́nh yêu trở thành lời/từ. Vấn đề đặt ra trước đây về ngôn ngữ xuất hiện thế nào phụ thuộc vào vấn đề về lặng tiếng. Cả hai diễn tiến đều không rơ ràng theo một cách vẫn cần phải được khai thác.”[196]  Hai câu thơ cuối “Die Liebe löscht ihren Namen: sie/schreibt sich dir zu” cho thấy hai thái độ ngôn ngữ đối chọi nhau: rằng khi t́nh yêu trở thành lời/từ trước hết có thể có nghĩa t́nh yêu được đặt tên, từ t́nh yêu là tên của t́nh yêu. Thế nhưng, t́nh yêu xóa bỏ cái tên này bởi t́nh yêu không nhận ra ḿnh trong cái tên đó, cái tên mà t́nh yêu trở thành được đặt tên là trống rỗng. “Đó là sự đông cứng của gịng chảy của đời sống vào trong tính chất tổng quát ư niệm. H́nh thức định nghĩa ngôn ngữ này do đó đưa đến sự đánh mất của cái ǵ nó muốn áp dụng, và là một thứ rơi vào im lặng. Chính v́ lư do này mà cái tên bị xóa bỏ và rằng một diễn ngôn khác được đưa ra để chống đối lại: “sie/ schreibt sich die du.” Từ Sie là cái tên bị xóa bỏ trong đại từ. Sie không đon giản dùng để chỉ t́nh yêu, nhưng đúng ra để chỉ cái tên bị xóa bỏ. V́ lư do này không thể quyết đoán nó chỉ cái ǵ, nếu quả thực nó hoàn toàn không chỉ cái ǵ hết. Giờ th́ không c̣n có cái ǵ đó (t́nh yêu) trở thành ngôn ngữ khi được đặt tên nữa, nhưng đúng ra là một cái ǵ đó xảy ra, tức là, chuyển vận hướng về Du. Gịng-ngắt, gịng này nhấn mạnh trên đại từ, dùng để tách rời schreibt sich die du như chuyển vận, chuyển vận này là mối quan tâm duy nhất của diễn ngôn này. Ở đây, cũng vậy, t́nh yêu trở thành lời/từ, thế nhưng lại chưa là cái ǵ được cho ra, như thể tuy nó cũng được đặt tên đấy, nhưng được đặt tên theo một cách rằng nó xảy ra như diễn ngôn của bài thơ tự nó viết ra hướng về kẻ khác.”[197]  Diễn giải như vậy cũng chưa hẳn là xác thực v́ bản văn tuy nói thế nhưng bản văn lại chưa làm tṛn điều này. T́nh yêu phải được đặt tên để người ta có thể nói rằng nó tự xóa tên. C̣n việc nói hướng về (das Sichzuschreiben) lại chỉ được nói tới chứ chưa thực sự được thực hiện. Và mặc dù trong sự chuyển từ danh từ sang đại từ việc xóa bỏ cái tên được tuyên bố tuy cũng thực sự xảy ra, nhưng bản văn như một toàn thể lại là việc đặt tên, nó tự đánh mất nó từ cái nó nói về chính trong múc độ nó nói về đặt tên. Nghịch lư nằm ở chỗ: để có thể là cái ǵ như nó hiểu th́ nó phải từ bỏ nói ra nó là cái ǵ, tự xóa bỏ như một cái tên trống rỗng, cái tên trống rỗng này tự tạo khi đặt tên sự xóa bỏ tên lại cũng trở thành một cái tên. Thế nên, hai thái độ ngôn ngữ trong bài thơ rơ ràng tiếp nối nhau này như thể có thể thay thế nhau nhưng thực ra lại không thể tách biệt. Lư do v́ mọi diễn ngôn t́m cách quay trở lại vào trong chuyển vận bằng cách làm tan loăng cái ǵ đă được làm cho vững bền đến lượt nó lại rơi vào sự đông cứng (congealement). H-JF cho rằng kết luận của bài thơ không thể nghi ngờ được đă cho thấy sự hàm hồ, không rơ nghĩa này là không thể tránh khỏi v́ cả hai mặt của diễn ngôn cùng bị gắn chặt trong sự mơ hồ của cụm từ sich zuschreiben: câu thơ “Sie/ schreibt sich dir zu” không chỉ có nghĩa chuyển động của bài thơ là hướng về một kẻ nó nói với, zuschreiben cũng c̣n có nghĩa qui cho (ascribe), gán một cái ǵ đó cho ai đó. “Trong chừng mực bài thơ không phải là cái nó nói, nhưng bởi nó nói nó là cái ǵ, nó chỉ gán cho hành vi nó nói với chính nó. Gán cho luôn luôn là không chắc chắn. Mối quan hệ của nó với cái nó nói vẫn c̣n là một lời tuyên nhận và là sự ghim chặt một cách độc đoán một cái ǵ đó rộng mở và không thể bị nắm bắt.”[198]

 

Giải thích mâu thuẫn nội tại của bài thơ H-JF cho rằng sự kết tinh (crystallization) của những từ Liebe (T́nh yêu) và Wort (Từ/Lời) khởi từ geblieben (đă c̣n lại) và geworden (đă thành từ/lời) đi cùng nhau cộng thêm sự xóa bỏ cái tên phá bỏ mâu thuẫn này, và câu cuối bài thơ một lần nữa phá bỏ cái đă tự nó tạo ra. V́ kết luận của bài thơ khuyến khích ư đồ giải quyết sự mơ hồ dựa trên phán đoán giá trị theo một chiều hướng nào đó căn cứ trên khả tính của việc nói với Du vốn tùy thuộc vào sự xóa bỏ cái tên, và rằng việc nói với này (Sichzuschreiben) đồng thời cũng là qui cho (Zuschreibung) không làm giảm giá trị của phán đoán giá trị, nhưng chỉ từ khả tính di chuyển ra ngoài sự củng cố một lần và cho măi măi. Thế nhưng, theo H-JF giải pháp này là bất khả v́ ngay thang giá trị cũng có sự mơ hồ, không rơ ràng. Điều này được chứng tỏ ngay trong câu thơ “Ich sehe das Gift blühn/Ta thấy độc dược nở hoa” là một phát biểu có tính chất giá trị v́ theo tự điển của Grimm “mối quan hệ gần gũi giữa blühen/nở hoa và blasen/thổi, thở, cả hai theo chữ viết và ư niệm, không thể nào bỏ qua, hoa nở và ra khỏi nụ như không khí thoát ra khỏi miệng.” Do đó nở có liên hệ với thở và Celan thường vẫn coi thở là diễn ngôn thơ. “Thế nhưng ở đây cái nở trong lời/từ “phát sinh như những bông hoa” là chất độc. Nó nở  ra trong hơi thở-pha lê, hay “Atemkristall”, trong h́nh dạng hơi thở đọng cứng trong đó. Đó là diễn tŕnh trong đó Liebe tự h́nh thành khởi từ geblieben, Wort từ geworden. Cái có nọc độc trong sự nở bung của lời/từ là sự đọng cứng vào ư niệm – chính cái này xuất hiện trong bài thơ như cái tên phải bị xóa bỏ.”[199]  Sự kết tinh của lời/từ dù cho có là tai họa chăng nữa nhưng lại cần thiết cho lời phát biểu có thể xảy ra. Cần thiết trong chừng mực hơi thở định h́nh trong lời/từ của ngôn ngữ sinh thành và nó chỉ có thể xảy ra như lời nói với người khác. V́ lư do này sự đọng cứng không chỉ là độc dược làm tắc nghẽn hơi thở nhưng nó cũng c̣n là tặng phẩm nữa. Theo ngữ nghĩa Tặng phẩm (Gift) là lời được nói ra trong sự nói ra của lời nên ở đây không thể nào thoát khỏi sự bất định. Có một lư luận ṿng quanh ở đây: Đọng cứng (solidification) và chuyển dịch (motion) cả hai vừa là tặng phẩm vừa là độc dược, độc dược luôn luôn trái nghịch với tặng phẩm. H-JF cho rằng sự cân bằng bị lật nhào trong cách sử dụng ngôn ngữ thông thường khi cho rằng độc dược có trọng lượng hơn tặng phẩm, nhưng cân bằng này được tái lập trên tầm mức toàn thể của bài thơ bởi phần/khổ đầu nhấn mạnh nhiều hơn đến mặt sáng c̣n khổ/phần thứ nh́ nhấn mạnh đến mặt tối của ngôn ngữ.

 

Sự mơ hồ của chuyển vận ngôn ngữ khi chuyển động này trở thành bền vững như một tặng phẩm của cái sẽ được nói ra. Nhưng trong chính chuyển vận này độc dược lại nở hoa, phát tán, và bằng cách phá hủy h́nh dạng của nó tuy đă đông đặc/cứng lại nhưng vẫn để ngỏ khả tính có h́nh dạng có thể đọc thấy trong việc qui chiếu về chuyển vận của bài thơ: trong phần/khổ 1 bài thơ rơi vào im lặng sau khi nói về sự thường hằng (permanence) của cái đă được nói ra; trong phần/khổ 2 khi bài thơ bắt đầu cất tiếng từ sự im lặng lại nói về việc rơi vào niềm im lặng. Đó là thể hiện của sự hàm hồ không rơ rệt của tiến tŕnh ngôn ngữ trong h́nh thái bài thơ “Zwölf Jahre.” Chính bởi mối tương quan giữa hai phần của bài thơ là dung tượng (representation) nằm ngay trong tính chất liên bản văn của nó nên H-JF cho rằng có thể áp dụng cách này để đọc mối tương quan của bài thơ này với những bản văn khác của Celan. Những bài thơ của Celan khi đó trở thành những loạt qui tụ thay thế và làm tan loăng nhau và cũng là những sự đọng cứng tạm thời được đem trở lại trong chuyển dịch của những ǵ tiếp theo. “Như vậy cái xảy ra trong mỗi bài thơ tự lập lại trên mức độ của những loạt các bài thơ. Trong “Zwölf Jahre.”  buớc chuyển từ tính chất liên bản văn bên trong bản văn sang tính chất liên bản văn của bản văn được tạo thành bằng trích dẫn. Bằng cách cho một câu của bài thơ “Auf Reisen” vào, bài thơ [Zwölf Jahre] tự nó rơ ràng đặt ḿnh trong mối tương quan với bài thơ khác này cần được đẩy xa sự suy xét hơn nữa.”[200]

 

Việc trích dẫn từ một bài thơ khác nêu lên một số vấn đề. Trước hết cái được trích dẫn có đó, ở đó và đóng góp vào việc làm vững chắc của bài thơ. Thế nhưng, câu được trích dẫn không chỉ ở đó nhưng nó c̣n trở thành thực sự. Nhưng cũng chính v́ thế nó đă thay đổi dù cho cách viết câu cú vẫn như vậy. Sự xếp đặt câu trích dẫn trong bài thơ “Zwölf Jahre” rơ ràng được chỉ ra như một gịng bị chia ra ba gịng chữ khác và bị phân làm hai bằng một dấu gạch ngang (–) Theo H-JF sự biến đổi một bản văn khi được trích dẫn phải trải qua có thể được rút ra từ những nhận định tổng quát. Người đọc không biết câu trích dẫn thuộc về bản văn nào. Nó là một bản văn được di chuyển vào một bản văn khác v́ vậy nó vừa thuộc về bản văn nó được trích ra vừa thuộc về bản văn nó được đưa vào. Nhưng v́ nó được đánh dấu như một trích dẫn nên nó chỉ được đưa vào bản văn trích dẫn nó một cách không trọn vẹn. Một mặt, nó tùy thuộc vào bản văn trích dẫn nó trong chừng mực nó phụ thuộc vào văn cảnh mới. Nhưng ở mặt khác nó lại không tùy thuộc vào bản văn trích dẫn nó trong chừng mực nó được nhận diện như một bản văn ngoại lai do đó nó qui chiếu về một bản văn có trước, bản văn có trước này không hiện diện. V́ vậy trong bản văn trích dẫn nó được ám chỉ như nguồn gốc khiếm diện của việc trích dẫn. Thế nên việc trích dẫn là một thứ nội bản văn (intertext). Nó nối liền bản văn nguồn với bản văn trích dẫn nó. Nó đồng thời thuộc về hai văn cảnh. “Một mặt điều này có nghĩa hai văn cảnh này phải được đọc cùng với nhau và rằng mối liên hệ giữa hai bản văn được nối kết bằng trích dẫn chính nó có thể được đọc như bản văn; song ở mặt khác, việc trích dẫn trở thành bị bứng gốc bằng việc có vị trí của nó trong hai văn cảnh khác nhau và ĺa khỏi mối tương quan an toàn với văn cảnh của nó khi nhập vào  sự cô lập, sự cộ lập đ̣i hỏi nó phải tự túc. Do đó, trích dẫn không những phải được đọc trong liên hệ với hai văn cảnh khác nhau mà c̣n trong sự kiện không phụ thuộc về văn cảnh nào của nó nữa – như một trích dẫn không có văn cảnh, việc này biểu trưng cho, ngay trong bài thơ [làm việc] trích dẫn, tính chất cách biệt của chính bài thơ đối với những bài thơ khác.”[201]

__________________________________________

[196] Sđd  trang 284: In any case, remaining (Blieben) and becoming (Werden) are the defining elements of the very linguistic process in the course of which they are named. In the transition from wahr-geblieben to wahr-geworden everything has remained except for the element [b]lieb, which has become word. This refers ahead to the second part, where the words Liebe and Wort appear, but remains hidden from the linear glance ahead and becomes accessible only retrospectively from the second section. It is only when the second part refers back to the first the first becomes recognizable in its pointing forward. This relationship cannot be reduced to a question of sound. Although the transformation, in the transition from wahr-geblieben to wahr-geworden, initially consists only in the substitution of the sound sequence for another ([b] lieb-word), once the relationship to the words Liebe and Wort appears the meaning of this transformation can no longer be ignored. It then becomes manifest that love becomes word. The question thus posed about how language arises is complementary to the one about falling silent. Both processes are ambivalent in a way that remains to be unfolded.

[197] Sđd  trang 285: It is the freezing of the flux of life into conceptual generality. This form of linguistic definition thus results in the loss of what it would like to appropriate, and is a kind of falling silent. It is for this reason that the name is erased and that a different discourse is opposed to it: “sie/ schreibt sich dir zu.” Sie is the noun erased in the pronoun. Sie does not simply stand for love, but rather for the erased name. For this reason it is impossible to decide what it stands for, if indeed it stands for anything at all. Now there is no longer something (love) that becomes language by being named., but rather something that takes place, namely, the movement (Sichzuschreiben) toward the Du. The line-break , which emphasizes the pronoun, serves to isolate schreibt sich die du as the movement which is the only concern of this discourse. Here, too, love becomes word, yet not as something given, which is then also named, but rather in such a way that it happens as the discourse of the poem writes itself toward the other.

[198] Sđd  trang 285: To the extent that the poem is not what it says, since it says what it is, it only attributes the gesture of address to itself. Attribution (die Zuschreibung) is always uncertain. Its relation to what it says remains one of claim and is the arbitrary pinning down of something that is open and cannot be grasped.

[199]: Sđd  trang 286: But here what blossoms in the words that “originate like flowers” is poison (Gift). It blossoms in breath-crystal, or “Atemkristall” (GW 2:31/P 231), in the shape into which breath solidifies. This is the process in the course of which Liebe shapes itself out of geblieben, Wort out of geworden, What is poisonous in the blossoming of words is the solidification into concept – which itself appears in this poem as the name that mus be deleted.

[200] Sđd  trang 287: Thus what happens inside each of the poems repeats itself on the level of the series of poems. In “Zwölf Jahre” the step from the intertextuality inside the text to the intertextuality of the text is made by way of a citation. By incorporating a line from “Auf Reisen,” the poem places itself explicitely in relation with another poem calls for further reflection.

[201] Sđd  trang 287: On the one hand this means that these two contexts must be read together and that the relationship between these two contexts connected by the citation can itself be read as text; on the other hand, however, the citation becomes uprooted by having its place in two different contexts and falls out of its secured relationship to its contexts into an isolation which requires that it be self-sufficient. Therefore, the citation must be read not only in connection with two different contexts, but also in its not belonging with either of them – as an excerpt without context, which represents, within the quoting poem, the poem’s separateness from other poems.

 

 (c̣n tiếp)

đào trung đạo

 

http://www.gio-o.com/DaoTrungDao.html

 

 

© gio-o.com 2016