đào trung đạo

thi sĩ / thi ca

(81)

 

                   RENÉ CHAR

 

Kỳ 1, Kỳ 2, Kỳ 3, Kỳ 4, Kỳ 5, Kỳ 6, Kỳ 7, Kỳ 8, Kỳ 9, Kỳ 10, Kỳ 11, Kỳ 12, Kỳ 13, Kỳ 14, Kỳ 15, Kỳ 16, Kỳ 17, Kỳ 18, Kỳ 19, Kỳ 20, Kỳ 21, Kỳ 22, Kỳ 23, Kỳ 24, Kỳ 25, Kỳ 26, Kỳ 27, Kỳ 28, Kỳ 29, Kỳ 30, Kỳ 31, Kỳ 32, Kỳ 33, Kỳ 34, Kỳ 35, Kỳ 36, Kỳ 37, Kỳ 38, Kỳ 39, Kỳ 40, Kỳ 41, Kỳ 42, Kỳ 43, Kỳ 44, Kỳ 45, Kỳ 46, Kỳ 47, Kỳ 48, Kỳ 49, Kỳ 50, Kỳ 51, Kỳ 52, Kỳ 53, Kỳ 54, Kỳ 55, Kỳ 56, Kỳ 57, Kỳ 58, Kỳ 59, Kỳ 60, Kỳ 61, Kỳ 62, Kỳ 63, Kỳ 64, Kỳ 65, Kỳ 66, Kỳ 67, Kỳ 68, Kỳ 68,Kỳ 66, Kỳ 69, Kỳ 70, Kỳ 71, Kỳ 72, Kỳ 73, Kỳ 74, Kỳ 75, Kỳ 76, Kỳ 77, Kỳ 78, Kỳ 79, Kỳ 80, Kỳ 81,

Một vài vấn đề văn chương quanh René Char

Kư ức văn chương theo Char có trung tâm là tính chất cội nguồn (originalité), thời gian của kư ức thi ca phải được quan niệm theo biến sự/cố. Thời gian văn chương xoay quanh những thi sĩ của khởi đầu (poètes du commencement) và thời gian này tái tạo thời gian lịch sử của những khởi đầu. Chính v́ lư do này Char bị quyến rũ bi thời gian tiền lịch sử (le temps préhistorique), nguyên sơ (primitif) và những nền văn minh cố cũ, những truyền thống b́nh minh như trong bài Arthur Rimbaud (đoạn thứ 5) Char viết “Với Arthur Rimbaud thi ca không c̣n là một loại h́nh văn chương, một sự đua tranh nữa. Trước ông ta, Héraclite và một họa sĩ, Georges de La Tour, hai người này đă xây dựng và chỉ ra Căn nhà nào trong mọi căn nhà con người phải cư ngụ: ở đó vừa để hít thở vùa để suy tưởng. Baudelaire là thiên tài có tính chất người nhất của cả nền văn minh ky-tô. Bài ca của ông ta nhập thể nền văn minh này trong ư thức, trong vinh quang, trong những hối hận, trong hành động độc ác của ông ta, vào lúc hạ thủ, khinh miệt, khải huyền của ông ta. “Thi sĩ, như Hölderlin đă viết, phần lớn xuất hiện vào lúc khởi đầu hay vào kết thúc một thời kỳ. Chính do những bài ca mà những dân tộc rời bỏ khung trời tuổi thơ của họ để đi vảo đời sống hoạt động, vào sự trị v́ của văn minh. Chính do những bài ca mà họ quay trở về đời sống nguyên thủy. Nghệ thuật là sự chuyển đối của tự nhiên sang văn minh, và từ văn minh sang tự nhiên. Rimbaud là thi sĩ đầu tiên của một nền văn minh vẫn chưa xuât hiện, nền văn minh mà những chân trời và những vách ngăn chỉ là những bó rơm cuồng nộ. Nói như Maurice Blanchot, đó là một kinh nghiệm về toàn thể tính, được xây dưng trong tương lai, hết hạn kỳ trong hiện tại, kinh nghiệm này không có quyền năng nào khác ngoài quyền năng của chính nó. Thế nhưng nếu như tôi biết được với tôi Rimbaud là ǵ, tôi cũng sẽ biết được thi ca là trước mặt tôi, và tôi sẽ chẳng cần phải viết lách ǵ nữa...”[291]  Ở phần trên Char cho rằng Héraclite “khép lại chu kỳ hiện đại” (ferme le cycle de la modernité) và “bước đi của ông ta đưa tới giai đoạn tối thẳm và soi rọi cho những ngày tháng của chúng ta.”Tuy nhiên, khoảnh khắc nguồn cội lại được Char cho vừa là sự xuất hiện thiêng liêng (épiphanie) vừa là tai họa (catastrophe). Thế nên lịch sử phải được diễn giải như  hủy phá sự sáng tạo do những chủ nghĩa toàn trị và những hậu quả của tiến bộ kỹ thuật. Char trong bài thơ Commune Présence viết: “Celle [la vie] qui t’est refusée chaque jour par les êtres et par les choses/Dont tu obtiens péniblement de-ci de-là quelques fragments décharnés/Au bout de combats sans merci/Cái đời sống những con người và những sự vật từ chối ngươi hàng ngày/Mà ngươi thu lượm được một cách khổ cực từ đó một vài mảnh vụn mỏng manh/Sau những cuộc chiến đấu không khoan nhượng.” Ở một mặt khác, tai họa lại cũng là nguyên lư của thi ca, nó biến thi ca thành những đoạn rời, bị đứt đoạn. Tuy tai họa lịch sử và tai họa thi ca bất dung chấp nhau nhưng sự tự trị (autonomie) mạnh mẽ của thi ca đối với lịch sử và những h́nh thức diễn ngôn khác là mạnh mẽ, nhưng Char không loại trừ khả năng thi ca quay trở lại với thực tại v́ “Rimbaud là thi sĩ đầu tiên của một nền văn minh hăy c̣n chưa xuất hiện.” Tra vấn mối quan hệ của thi ca với lịch sử đưa đến câu hỏi vị thế của thi sĩ trong lịch sử. Tuy thi ca là tự trị nhưng thi sĩ có thể nào thoát khỏi lịch sử một cách thuần túy không? Trong bài Moulin premier Char đưa ra nhận định: “Thi sĩ thành ra thất bại trong suốt những cuộc  t́m kiếm trên một bờ bến nơi anh ta chỉ được chờ đợi rất lâu sau đó, sau sự hư hoại của anh ta. Không quan tâm tới sự thù nghịch của đám đông chậm lụt quanh ḿnh, thi sĩ sắp đặt, hạ thấp sự mănh liệt của ḿnh, phân mảnh hạn kỳ, buộc chặt đầu đôi cánh..”[292] Đây chính là thái độ tiến về phía trước (en avant) của thi sĩ. Tương tự ư này Char trích dẫn lời Rimbaud làm đề từ cho bài Réponses interrogatives à une question de Martin Heidegger viết năm 1966 [293]: “La poésie ne rythmera plus l’action. Elle sera en avant./Thi ca sẽ không dẫn nhịp cho hành động. Thi ca sẽ tiến về phía trước.” Trong bài này Char đưa ra “những câu trả lời” cho chủ đề Thi ca và Hành động: thi ca tự đặt ḿnh trước hành động, thi ca là năo bộ của hành động, thi ca là một bài ca khởi hành (un chant de départ), hành động đi theo thi ca bằng một sinh mệnh tuyệt vời (admirable fatalité), thi ca vốn từ lời nói luôn được tư tưởng đi trước hành động, mối liên hệ hành động-thi ca tương tự mối quan hệ mẹ-con: con thi ca dẫn dắt mẹ hành động, tính chất dẫn đường của thi ca dường như là một xác định tự do, thi ca là một hữu hành động (un être action) đi trước hành động, thi ca là luật tắc (loi) trong khi hành động là hiện tượng (phénomène), thi ca là chuyển động thuần túy dẫn dắt chuyển động nói chung, thi ca không dẫn nhịp cho hành động mà đi phía trước để chỉ đường di chuyển  cho hành động, thi ca là cái tôi (le moi) đi trước tự ngă (en soi), thi ca là “tư tưng hát ca” (la pensée chantée), thi ca là bộ óc t́m kiếm trong khi hành động là thân thể của thi ca, và sau hết theo nhăn quan của Rimbaud và của Công xă (la Commune) thi ca không phục vụ hay phụ họa giới trưởng giả, nó là chủ nhân của chính nó. Những ư kiến trên của Char cũng được t́m thấy trong một số đoạn rời trong tập thơ Feuillets d’Hypnos. V́ Char đưa ra “những” câu trả lời có tính tra vấn cho nên có thể nói Char rất trăn trở, phân vân về mối tương quan giữa thi ca và hành động. Như Didier Alexandre nhận định, ở trung tâm cuộc tranh luận này chính là “sự biến mất, xóa bỏ” (évanouissement) hay sự “hủy hoại” (anéantissement), cái chết của thi sĩ. Sự phân vân giữa một đằng thi ca như một đáp lời cho chính thi ca, hoàn toàn khép kín trong sự tách rời triệt để với lịch sử, hứng chịu chính tai họa và cái chết, tái thẩm định “ở vào một thời điểm khác” trong tương lai được quan niệm “theo cung cách của sự hoài niệm hay của sự ham muốn” (conçue “sur le mode de la nostalgie ou celui de désir”). Nói thế khác dường như Char có ư chấp nhận những hậu quả của tai họa lịch sử của thế kỷ XX không bằng cách đem vào trong những bài thơ của ḿnh một trả lời lịch sử trong khi giả thiết rằng bài thơ vốn thiết yếu tách rời khỏi thi sĩ và cũng cho phép sự chia phần một kinh nghiệm thực sự và một đạo đức đặt nền tảng trên tự do. Như vậy thơ của René Char tạo ra một chủ thể của nguồn cội (sujet de l’origine) nhưng chủ thể này lại vừa dị ứng (atopique) vừa không tưởng (utopique) như Char viết trong đoạn văn sau đây: “Trong thi ca người ta chỉ cư ngụ ở nơi chốn người ta bỏ đi, người ta chỉ sáng tạo tác phẩm mà người ta ĺa xa, người ta chỉ đạt được gịng chảy thời gian bằng cách phá hủy thời gian. Thế nhưng tất cả những ǵ người ta đạt được bởi sự đứt rời, tách khỏi, và phủ nhận, người ta chỉ đạt được cho tha nhân. Cánh cửa nhà tù lập tức khép lại trên kẻ trốn chạy. Người cho đi tự do chỉ tự do trong kẻ khác. Thi sĩ chỉ thưởng thức tự do của người khác.”[294]  Và sau hết sự lưu chuyển kư ức văn chương cho phép tạo nên một cộng đồng thi ca. Thi ca trở thành điểm qui chiếu đến những cuộc sống, chính v́ vậy thi ca lưu tồn. Cái chết của thi sĩ không phải là sự thất bại của thi ca.    

__________________________________________

[291] René Char, Arthur Rimbaud in O.C. trang 731: Avec Rimbaud la poésie a cessé d’être un genre littéraire, une compétition. Avant lui, Héraclite et un peintre, Georges de La Tour, avaient construit et montré quelle Maison entre toutes devait habiter l’homme: à la fois demeure pour le souffle  et la méditation.  Baudelaire est le génie le plus humain de toute la civilisation chrétienne. Son chant incarne cette dernière dans sa conscience, dans sa gloire, dans son remords, dans sa malédiction, à l’instant de sa décollation, de sa détestation, de son apocalypse. “Les poètes,.écrit Hölderlin, se révèlent pour la plupart au début ou à la fin d’une ère. C’est par des chants que les peuples quittent le ciel de leur enfance pour entrer dans la vie active, dans le règne de la civilisation. L’art est la transition de la nature à la civilisation, et de la civilisation à la nature.[Traduction de Denise Naville]. Rimbaud est le premier poète d’une civilisation non encore apparue, civilisation dont les horizons et les parois ne sont que des pailles furieures. Pour paraphraser Maurice Blanchot, voici une expérience de la totalité, fondée dans le futur, expiée dans le présent, qui n’a d’autre autorité que la sienne. Mais si je savais ce qu’est Rimbaud pour moi, je saurais ce qu’est la poésie devant moi, et je n’aurais plus à écrire...

[292] Sđd trang 71: Il advient au poète d’échouer au cours de ses recherches sur un rivage où il n’était attendu que beaucoup plus tard, après son anéantissement. Insensible à l’hostilité de son entourage arriéré le poète s’organise, abat sa vigueur, morcelle le terme, agrafe les sommets des ailes. (Moulin premier, frag.XXXVII).

[293] Sđd trang 734.

[294] En poésie, on n’habite que le lieu que l’on quitte, on ne crée que l’œuvre dont on se détache, on n’obtient la durée qu’en détruisant le temps. Mais tout ce qu’on obtient par rupture, détachement et négation, on ne l’obtient que pour autrui. La prison se referme aussitôt sur l’évadé. Le donneur de liberté n’est libre que dans les autres. Le poète ne jouit que de la liberté des autres.

(c̣n tiếp)

đào trung đạo

http://www.gio-o.com/DaoTrungDao.html 

© gio-o.com 2017