đào trung đạo

thi sĩ / thi ca

(34)

 

                       Kỳ 1, Kỳ 2, Kỳ 3, Kỳ 4, Kỳ 5, Kỳ 6, Kỳ 7, Kỳ 8, Kỳ 9, Kỳ 10, Kỳ 11, Kỳ 12, Kỳ 13, Kỳ 14, Kỳ 15, Kỳ 16, Kỳ 17, Kỳ 18, Kỳ 19, Kỳ 20, Kỳ 21, Kỳ 22, Kỳ 23, Kỳ 24, Kỳ 25, Kỳ 26, Kỳ 27, Kỳ 28, Kỳ 29, Kỳ 30, Kỳ 31, Kỳ 32, Kỳ 33, Kỳ 34,

 

          Hans-Jost Frey: Liên bản văn trong thi ca Celan

    Ư nghĩa của câu văn/thơ khi được trích dẫn vẫn giữ nguyên hay sẽ thay đổi, và nếu có sự thay đổi th́ ư nghĩa đó sẽ thay đổi ra sao? Trong bài thơ Celan nói rằng gịng trích dẫn là đúng thực và trở thành đúng thực. Bởi gịng trích dẫn này lại không phải là như thế, nhưng chỉ đúng thực trong cách viết ra, sự thực của nó chỉ trong mức độ nó nói mà thôi. Thế nhưng, gịng này lại không nói cùng một điều nó thường nói nên chỉ được coi là chỉ đúng thực theo nghĩa nó tuyên nhận một chân lư cố định, có giá trị măi măi, đúng ra trong cái nghĩa cái ǵ đă xảy ra đồng thời cũng đă làm cho cách viết nó ra tuy vẫn như cũ nhưng lại làm cho cách viết khi trích dẫn thêm phong phú, có một ư nghĩa khác. H-JF lư giải: “Gịng trích dẫn vẫn đúng thực chính trong cái nghĩa nó không c̣n bị ràng buộc vào ư nghĩa trước đây nó có ư nói, nhưng giờ th́ mở ra những khả hữu mới về ư nghĩa. Nó vẫn đúng thực bởi nó đă trở thành đúng thực. Bài thơ ở đây cung cấp một công thức cho tính chất lịch sử của những bản văn với một sự xúc tích lớn nhất. Chúng vẫn vậy, chúng tự biến đổi, khi được đọc – và điều này cũng như thế khi được trích dẫn. Việc trích dẫn là một khoảnh khắc trong lịch sử của bản văn và được quan nhận như vậy trong bài thơ “Zwölf Jahre.” [202]  Gịng trích dẫn vẫn đúng thực, trong trường hợp đặc biệt này, do có thể qui chiếu vào tiểu sử của Celan. Trong bài thơ “Auf Reisen” gịng được trích dẫn là một phần của cả câu thơ “Es ist Stunde, die macht dir…/dein Haus in Paris zur Opferstatt Hände.” Và v́ Celan viết bài thơ “Auf Reisen” trước khi dời sang Paris sống cho nên người ta có thể hiểu câu này một cách hồi ức như một lời tiên đaón đă trở thành sự thực. Nh́n trong viễn tượng này th́ thấy rằng trong trích dẫn không nói rơ thời gian là có lư bởi v́ đồng thời điều câu thơ gán cho thời khắc được tiên đoán đă thực sự xảy ra. “Điều vẫn đúng thực không phải là câu thơ như một tiên đoán đă quá thời, nhưng gịng chữ nêu danh điều đă được tiên đoán, và điều này vẫn c̣n đúng thực khi điều đă được tiên đoán trở thành đúng thực. Sự chặt chẽ về cú pháp của câu thơ ră ra khi gịng [trích dẫn] bị tách ra khỏi câu thơ.  Những hậu quả của việc này đối với bản văn trở thành có ư nghĩa từ điểm nh́n của hoàn cảnh đă thay đổi. Trước tiên, tiền tố zu trở thành không thể hiểu được, bởi v́ không có một động từ th́ không thể nói được rằng căn nhà thay đổi thành ra một nơi chốn của sự hy sinh. Cái vạch ngang (–) trong trích dẫn phân gịng chữ làm hai dường như để chỉ ra rằng sự liên kết giữa căn nhà và nơi chốn hy sinh bị phá hủy đi và rằng hai nửa [câu thơ] phải được đọc tách biệt. Song le, do mối liên hệ của chúng, chúng đă trở thành một: trong khi theo lời tiên đoán th́ căn nhà sẽ trở thành một nơi chốn hy sinh, sau khi lời tiên đoán đă hoàn thành th́ nó đă trở thành sự thực. Giờ th́ căn nhà nơi hy sinh, và “zur/ Opferstatt deiner Hände” nói lên tên của căn nhà như một tấm bảng quán trọ.”[203]

    Giải thích câu “căn nhà ở Paris của anh” đă trở thành “nơi chốn hy sính của hai bản tay anh” H-JF cho rằng từ “hy sinh/Opfer” có gốc gác nơi hai từ La tinh operariofferre có nghĩa công việc/tŕnh và tặng phẩm. Thế nên nơi chốn của hai bàn tay là xưởng thủ công (workshop for the handiwork) và thủ công là bàn tay tự cung cấp [die sich selbst gibt] cũng c̣n có nghĩa bàn tay đưa ra để bắt tay như trong bức thư Celan viết ngày 18 tháng Năm, 1960 “Nur wahre Hände schreiben wahre Gedichte. Ich sehe keinen prinzipiellen Unterschied zwischen Händedruck und Gedichte/ Chỉ những bàn tay đích thực viết những bài thơ đích thực. Tôi không thấy có sự khác biệt căn bản nào giữa một cái bắt tay và một bài thơ.” Như vậy cho thấy việc trích dẫn có yếu tố tiểu sử và thi luận, gắn kết việc sáng tác thơ với nơi chốn làm thơ. Sự gắn kết hết sức riêng tư này có xuất xứ từ sự kiện căn nhà ở Paris đă trở thành nơi Celan cư ngụ, Paris là thành phố nơi chốn Celan sáng tác. Nhưng sự trùng hợp này không có nghĩa ở thời điểm bài “Auf Reisen” được sáng tác nhưng chỉ xuất phát sau này từ cuộc sống của Celan ở Paris. “Sự tăng thêm về ư nghĩa là do những hoàn cảnh sống bị thay đổi có một cái ǵ đó chưa thỏa về sự thay đổi này. Để có thể làm một cái ǵ đó với cái tên “Paris” người ta phải quay trở lại thông tin ngoại vi chính bài thơ không cung cấp ngả tiếp cận. Bản văn dường như vẫn cứ không thể hiểu thấu mà không có sự hiểu biết ngoài bản văn này.”[204] Tuy là đệ tử của Jacques Derrida nhưng H-JF vẫn đưa vào diễn giải yếu tố ngoại bản văn – vốn là một thứ “phụ đính nguy hiểm (dangereux supplement) theo Derrida – và đưa ra tư biện: “Song le cứ như cách nó xuất hiện trong bài “Zwölf Jahre” th́ gịng [trích dẫn] không chỉ gợi ra một cái ǵ đó bản văn không cung cấp ngả tiếp cận, nhưng cũng với tư cách trích dẫn, nó tự qui chiếu như một bản văn và tới bản văn từ đó nó được trích dẫn. Việc nhấn mạnh trên tính chất bản văn riêng biệt đối với sự trích dẫn này là một ngầm chỉ tới sự kiện rằng việc liên kết sự có đấy của gịng [trích dẫn] và trở thành đúng thực đối với những biến cố ngoại bản văn là không đủ, nhưng những từ được trích dẫn cũng thay đổi ư nghĩa của chúng trong những bản văn khác đă xảy ra giữa “Auf Reisen” và “Zwölf Jahre” ảnh hưởng tới phạm vi từ nghĩa của trích dẫn. Một số những bản văn này làm cho việc đọc gịng trích dẫn này khả dĩ trong một cách thế nó không chỉ qui chiếu về một cái ǵ đó hoàn toàn riêng tư, nhưng cũng biện chính cho sự có mặt của cái riêng tư và riêng biệt trong bài thơ. Điều này trở thành rơ rệt nếu người ta xét đến mối liên hệ Celan thiết lập đâu đó giữa những bàn tay và cái riêng biệt không thể thu giảm.”[205]

    Sau khi chỉ ra tính chất liên bản trong hai bài thơ “Zwölf Jahre” và “Auf Reisen” H-JF sử dụng bức thư Celan viết cho Hans Bender và bài thuyết tŕnh “Der Meridian” để tiếp tục chứng minh tính chất liên bản văn trong thi ca của Celan. Cũng trong bức tư viết cho Hans Bender bài thơ được Celan coi như một cái bắt tay: “Handwerk – das ist Sache der Hände. Und die Hände wiederum gehören nur einem Menschen, d.h. einem einmaligen und sterblichen Seelenwesen, das mit seiner Stimme und seiner Stummheit einen Weg sucht/ Công tŕnh thủ công – đó là công việc của bàn tay. Và những bàn tay đến lượt chúng chỉ thuộc về một người, nghĩa là một hữu độc nhất và tử sinh kiếm t́m một đường đi với tiếng nói và niềm im lặng của hắn ta.” Nói cho gọn: công tŕnh thủ công của thi ca chỉ khả hữu từ một người với những bàn tay thuộc về hắn. Luận điểm về mối tương quan giữa bàn tay và nghệ thuật này của Celan rơ ràng chịu ảnh hưởng của Heidegger. Heidegger cho rằng chỉ có con người là “có tay” nên những công tŕnh nghệ thuật là do bàn tay mà ra. Quan niệm này của Heidegger bị Derrida phản bác một cách khá mỉa mai trong loạt bài Geschlecht.

Mối tương quan này cũng được Celan nói tới trong bài “Der Meridian” khi Celan trích dẫn những câu thơ trong tập Sprachgitter: “Stimmen vom Nesselweg her:/ Komm auf den Händen zu uns./ Wer mit der Lampe allein ist,/ hat nur die Hand, draus zu lesen/ Nhưng tiếng nói từ đường-lưới:/ Đến với chúng tôi trên những bàn tay ngươi./ Hắn kẻ một ḿnh với cây đèn/ chỉ có bàn tay để đọc từ đó.” Trích dẫn này được Celan nối kết với nhân vật Lenz của Büchner và sự ham muốn đi bộ bằng cái đầu của hắn. Theo H-JF, đi ngược đầu đâm xuống đất tức là phải chống bằng hai tay và điều này đạt được toàn thể ư nghĩa Celan gán cho tính chất cá nhân và riêng tư được ghi dấu trong bài thơ như một thời điểm (Datum) là ngày 20 tháng Giêng. “Ở đây Celan đọc bài thơ của ḷng bàn tay ḿnh. Nối kết với việc đọc bản văn của Büchner của ông ta, những bàn tay xuất hiện trong đó có nghĩa một cái ǵ đó hơn nữa và khác với những ǵ những bàn tay đă làm trước đây. Từ nay trở đi chúng có thể được đọc ứng hợp với “thời điểm,” tính chất khả hữu này có những phản hồi đối với bài “Zwölf Jahre” và có một cái ǵ đó liên hệ với “việc trở thành đúng thực” của gịng [trích dẫn], bởi nó không hiện hữu vào thời điểm của bài “Auf Reisen” và sự thay đối ư nghĩa của việc viết ra đă không thay đổi. Việc trích dẫn trong bài ““Zwölf Jahre” qui chiếu về, trong tính chất không thể thấu đạt cơ bản của gốc gác cá nhân của nó, một thời điểm, một ngày 20 tháng Giêng. Nhưng bởi v́ những bàn tay xuất hiện trong đó, nên trích dẫn này chợt bắt gặp kinh tuyến Celan vạch ra trong bài “Der Meridian” qua bản văn riêng của ông ta và bản văn của Büchner, và hơn thế nữa trở thành dấu hiệu cho tính chất bất khả tiếp cận của cái thời điểm được đặt tên trong đó. Như thế về mặt thi luận gịng được trích dẫn thuộc về sự biện chính cho thời điểm cá nhân mờ ảo trong bài thơ.”[206]  H-JF biện minh cho việc sử dụng những bản văn khác nhau của Celan không phải là sự cầu viện không có suy tính về những đoạn văn thơ song song để giải thích một bài thơ mà là một nỗ lực đi theo những chỉ dẫn diễn giải do bài “Zwölf Jahre” đưa ra thông qua cách bài thơ này đặt vấn đề về chính tính chất liên bản văn của nó, không chỉ bằng gịng trích dẫn nhưng c̣n qua cách nó được mô tả. Và nếu như gịng [trích dẫn] vẫn là đúng thực như cái đă trở thành đúng thực th́ chính bởi, giữa những thứ khác, nó đă đặt nó dưới sự phù chú của những bản văn như bức thư viết cho Hans Bender hay bài thuyết tŕnh “Der  Meridian,” và nó đă được cho những ư nghĩa và những chú giải trước đây nó không có. Thế nhưng, trong trường hợp của bài “Der Meridian” mối tương quan này c̣n đi xa hơn nữa bởi điều được chứng minh trong đoạn văn liên hệ cũng cùng là một diễn tiến tương tự của việc trở thành đúng thực của một bản văn theo cách biến đổi văn cảnh của nó được biểu lộ trong bài “Zwölf Jahre.” H-JF viết: “Trong cả hai trường hợp, chúng ta xử trí với với một tự-trích dẫn được diễn giải. Một bài thơ trước được tái-diễn giải trong ánh sáng của những văn cảnh mới mà nó đi vào, và trở thành đúng thực theo một cách mới. Bản văn trước đó – bởi nó đă trở thành đúng thực – tự chứng tỏ một cách hồi cố là có tính chất tiên đoán. Celan gọi điều này là tính chất tiên đoán hậu nghiệm (tự đưa ḿnh đi trước ḿnh) của bài thơ. Như vậy bản văn được trích dẫn và làm công việc trích dẫn đứng trong một mối quan hệ hoán dụ với nhau.”[207]

 

        Quan hệ hoán dụ giữa những bản văn được t́m thấy trong cả bài thuyết tŕnh “Der Meridian” lẫn trong bài thơ “Zwölf Jahre”, và v́ cả hai bản văn này đều sản xuất quan hệ phúng dụ bằng cách trích dẫn nên giữa hai bản văn có mối quan hệ ẩn dụ. Tính chất liên bản văn trong chuyển vận phúng dụ-ẩn dụ cho thấy ư nghĩa biến đổi, trở thành không bền vững. Ngoài ra, theo H-JF “Meridian” cũng c̣n là trung chuyển từ “Auf Reisen” sang “Zwölf Jahre”. Sự kiện những bàn tay được đọc ở đây theo một cách riêng biệt có sự gắn kết với Büchner nên con đường đi qua Sprachgitter hiện ra một cách hồi cố như sự tiên đoán của câu trích dẫn từ “Auf Reisen” được đưa vào “Zwölf Jahre” tạo thành mối liên hệ hoán dụ. “Điều này có nghĩa mối quan hệ giữa “Zwölf Jahre” và “Meridian” lập lại quan hệ bản văn với những bản văn khác được sản xuất bên trong hai bản văn này. Khi được đọc cùng với nhau, hai bản văn này là ẩn dụ của mối quan hệ của chúng”[208]  Sự kiện câu thơ được trích dẫn từ “Auf Reisen” đă chịu sự biến đổi qua sự gặp gỡ với kinh tuyến là một khả hữu để “trở thành đúng thực”. Từ đó ta có thể nhận ra ngôn ngữ trong bài thơ này là thành phần của một sự hiểu biết ngôn ngữ theo đó không có những ư nghĩa cố định: Ư nghĩa sản sinh nhưng không bao giờ bền vững, diễn tiến trở thành đúng thực dường như không hề biết tới việc trở thành bền vững, nó là lịch sử bản văn liên tục thay đổi. Thế nhưng, “trở thành đúng thực” cũng thuộc về việc “rơi vào thinh lặng” được đặt đối nghịch với “trở thành đúng thực” trong phần/khổ 2 bài “Zwölf Jahre” không cùng đi với nhau trong chuyển vận cô lập mà đi theo một cách thế cả hai đều cùng là một diễn tiến nên H-JF cho rằng hai nhận xét về trích dẫn có thể giải thích được qua ngả nào “trở thành đúng thực” và “rơi vào thinh lặng” vừa đồng thời và vừa không thể tách rời nhau.

 

    Trong việc diễn giải bản văn th́ khi một bản văn trở thành đúng thực luôn theo một cách thế mới, nhưng mỗi biến đổi đều có giới hạn. Lư do v́ biến đổi chỉ xảy ra theo cách diễn giải khi diễn giải chỉ chú trọng một mối tương quan văn mạch (contextual relation) nào đó mà bỏ qua những tương quan văn mạch khác. Theo H-JF diễn tiến trở thành đúng thực là một lịch sử của những ư nghĩa thiết yếu tiến hành theo một cách thức sao cho những ư nghĩa thay thế nhau, ư nghĩa này “rơi vào im lặng” để cho ư nghĩa kia lên tiếng. Mọi diễn giải bản văn mới đều được đặt cơ sở trên việc bỏ qua một số liên hệ nào đó và việc nhấn mạnh một số liên hệ khác vốn không được chú ư nay được khám phá ra như những liên hệ làm bản văn biến đổi. Trong khi thay thế nhau những ư nghĩa cũng luôn át tiếng nhau. Tuy nhiên có một sự im lặng nằm sâu hơn trong bản văn. Và khi nó trở thành đúng thực th́ người ta chỉ chăm chú tới điều đă được nói ra. Chức năng thông giao của ngôn ngữ như một diễn tiến nơi tiền trường (foreground) làm nổi bật ư nghĩa nào đó và làm lu mờ những ư nghĩa khác. Khi việc trở thành đúng thực như một chuyển vận thường hằng th́ người ta trở lại bản văn, coi bản văn như một h́nh dạng ngôn ngữ bền vững được đảm bảo, bằng không sẽ không phải là bản văn này có thể trở thành đúng thực như vẫn đúng thực. “Song le mỗi khi một ư nghĩa được sản xuất bản văn có chiều hướng rơi vào im lặng như diễn tiến ngôn ngữ nó qui chiếu vào. Cái rơi vào im lặng trong bài thơ chỉ được đọc cho ư nghĩa của nó là câu thơ. Việc ngắt rời gịng chữ trong trích dẫn là sự phá hủy câu thơ từ bài “Auf Reisen.”  Cái được gọi là một “gịng” được làm cho rời ra và phân thành ba gịng không có sự nhất quán về nhịp điệu. Đồng thời, câu thơ tuy vậy vẫn được duy tŕ, không chỉ bởi sự trích dẫn được chỉ định như một gịng và như thế như là một đơn vị, nhưng cũng qua việc in chữ nghiêng, như thế đặt những đoạn rời lại với nhau. Điều này có nghĩa ở đây câu thơ không chỉ đơn giản bị phá hủy, nhưng thật ra xuất hiện trong bài thơ như đă bị phá hủy. Việc xếp đặt in ấn có nghĩa sự rơi vào im lặng của câu thơ. Gịng trích dẫn không chỉ trở thành đúng thực; cùng lúc nó cũng đă rơi vào im lặng như một câu thơ trong chừng mực khi nội dung của nó đă đạt thế thượng thủ. Nhưng một lần nữa, một cách chính xác, điều này không phải là trường hợp trong bài “Zwölf Jahre,” bởi câu thơ được nhớ lại, đặt tên, và tŕnh bày ra như đang rơi vào im lặng. Đồ thị của bài thơ ngăn trước sự nguy hiểm tiềm tàng việc đọc chỉ chú tâm tới nội dung xảy ra. Nó sửa sai sự tan ră của câu thơ, điều nó làm cho thấy rơ, chính bởi việc tŕnh bày nó và như thế bảo toàn câu thơ đă mất đi như sự mất mát. Gịng chữ, do không c̣n là một câu thơ, đă rơi vào im lặng và trở thành quá khứ là “cái đă trở thành ‘đă là’.[209]

   

    Hans-Jost Frey kết luận bài viết bằng cách đưa ra nhận xét chung về trích dẫn. Trước hết theo định nghĩa trích dẫn có nghĩa lập lại cách đặt/dùng từ (wording).. Kế đến một bản văn phải giữ nguyên không thay đổi để thay đổi ư nghĩa. Gịng trích dẫn chỉ thể trở thành đúng thực v́ nó vẫn là gịng đó. Điều này đúng với cả viết lẫn nói. Từ luôn luôn được giữ nguyên nhưng khi từ muốn nói một điều ǵ mới nó phải được nhận ra vẫn là cùng một từ và chỉ thay đổi nghĩa trong cách dùng. Sự kiện này đặt vấn đề về mối gắn kết bền chặt giữa cách dùng từ và ư nghĩa của từ. Theo H-JF khi cách dùng từ khi không c̣n gắn kết với ư nghĩa th́ nó phải được cứu xét độc lập. Hiện tượng cực điểm xảy ra như trong việc lập lại lời người khác (echolalia) khiến các từ mất hết ư nghĩa và tính chất ngôn ngữ. Trong hành vi trích dẫn cũng có hiện tượng tương tự như thế. Khi chuyển nghĩa cái trở thành đúng thực đ̣i hỏi trút bỏ những từ được dùng hay ít nhất phải treo lửng mối liên hệ của nó với một ư nghĩa riêng biệt: Việc dùng từ phải im tiếng để chỉ ra ư nghĩa, ư nghĩa này rất có thể là mới bởi nó chẳng nói ra cái ǵ, nó tự làm mới bằng cách tạm thời ngừng chỉ nghĩa. Chính sự tháo lỏng mối gắn kết giữa dùng từ và ư nghĩa làm cho việc chuyển nghĩa trong những bản văn khả dĩ. Dùng từ một cách lặng câm (mute wording) cho ra những nghĩa khác nhau trong văn cảnh mới như trong trường hợp trích dẫn câu thơ trong “Auf Reisen” trong bài “Zwölf Jahre”. H-JF cho rằng để đọc hai bài thơ trong mối liên hệ của chúng với nhau người ta phải tách ḿnh khỏi sự ham muốn duy tŕ chúng như những bài thơ cá biệt. Thay v́ chúng không nối kết nhau, thật ra chúng thuộc về nhau như hai phần/khổ cùa bài thơ “Zwölf Jahre”. “Bằng cách trích dẫn một gịng từ bài thơ trước, và bằng cách cho nó tính chất như vẫn thế và trở thành đúng thực, bài thơ sau đặt vấn đề về mối quan hệ giữa những bản văn trên cấp độ dùng từ, việc dùng từ này bắt đầu lại chỉ nghĩa trong một cách mới thông qua sự thay đổi trong ngữ cảnh của nó. Thông qua trích dẫn, hai bài thơ trở thành văn cảnh của nhau. Do vậy hẳn phải có thể tŕnh ra việc dùng từ của bài này được tái diễn giải thông qua văn cảnh của bài kia.”[210]  Áp dụng qui tŕnh nêu trên vào phần/khổ 2 bài “Zwölf Jahre”: “Es wird stumm, es wird taub/ hinter den Augen/Câm và điếc dựng đứng/ đằng sau mắt” H-JF cho rằng một trong những cách đọc khả dĩ câu thơ này là hăy quay trở lại câu thơ mở đầu bài “Auf Reisen”: “Es ist eine Stunde, die macht dir den Staub zum Gefolge/ Chỉ một giờ thôi là bụi hộ tống ngươi” th́ thấy ở đây h́nh ảnh hiển nhiên là chiếc xe xới tung bụi. Trong bài thơ “Psalme” Celan nói rằng chúng ta trở thành bụi và “chẳng ai bàn căi” về việc này cũng có ư nghĩa ở đây. Cả trong hai trường hợp bụi là dấu vết của cái c̣n lại sau khi cái ǵ đó đă biến mất. H-JF cho rằng trong bài “Zwölf Jahre” dấu vết này có thể là cuộc du hành của cặp mắt đọc trong bản văn và phía sau hai con mắt này bản văn “thành câm và điếc.” Song le trở thành câm điếc (das Stumm- und Taubwerden) có liên hệ tới bụi (Staub) theo nhiều cách khác nhau. Bụi được nêu ra trong “Auf Reisen” trở thành thấy được trong “Zwölf Jahre”như gịng trống rỗng gồm hạt bụi của gịng này là cái con mắt đọc vừa để lại đằng sau. Nhưng gịng trống rỗng đứng thay cho không có lời nói, cũng như bụi đứng thay cho cỗ xe mất dạng. Như thế bụi trong bài “Auf Reisen” có thể trở thành một cách hồi cố một ẩn dụ cho việc rơi vào im lặng.”[211] Ẩn dụ hóa bụi trong liên bản văn c̣n thấy không những trong bài “Zwölf Jahre” mà c̣n cả trong bài “Auf Reisen, nhất là ở câu thơ mở đầu. Câu này rơi vào im lặng không phải chỉ v́ cặp mắt đọc để lại nó phía sau, nhưng c̣n v́ việc tái diễn giải được chỉ ra trước đây. H-JF nhận xét từ Staub có hai từ ẩn “stumm” và “taub” dưới h́nh tượng thanh âm và cho chúng đi vào bài “Zwölf Jahre”. Nhưng để có thể làm vậy việc dùng từ phải được cách ly và ư nghĩa của chúng phải bị treo lửng. Chỉ khi từ Staub không c̣n thông giao ư nghĩa nữa th́ những ư nghĩa tiềm ẩn của stummtaub bên trong từ này mới được phục hồi và kết tinh thành những từ. “Tuy những từ này không chỉ không nói lên ǵ, nhưng một cách chính xác, cái đă tự  tŕnh ra thông qua mối liên hệ liên bản văn để thành ư nghĩa có tính ẩn dụ của bụi. Như vậy câu “Es wird stumm, es wird taub/ hinter den Augen” là phiên dịch của ư nghĩa có tính ẩn dụ của gịng đầu bài “Auf Reisen”, tuy nhiên một ư nghĩa có tính ẩn dụ chỉ có thể xảy ra qua phiên dịch này mà thôi. Từ Staub không chỉ có nghĩa bụi, mà cũng c̣n qui chiếu, như thanh âm, đến hai từ nói đến việc rơi vào im lặng trong bài “Zwölf Jahre,” và do đó phơi mở ư nghĩa có tính ẩn dụ của bụi như một dấu chỉ cho tính chất câm nín. Điều này đúng cho những hạt bụi trong gịng trống rỗng trong bài “Zwölf Jahre” cũng như cho từ Staub và bụi nó chỉ định trong bài “Auf Reisen. Việc ẩn dụ hóa bụi là một diễn tiến tương ứng một cách chính xác với điều bài thơ gọi là “trở thành đúng thực.” Trở thành đúng thực khả hữu bởi không có sự nhất quán trong ư nghĩa của những bản văn.”[212]  V́ luôn luôn xảy ra sự chao đảo của mối lên hệ giữa dùng từ và ư nghĩa. Để kết luận H-JF đưa ra  nhận xét: điều khác thường – phải chăng đây là điều khác thường? – về bài “Zwölf Jahre” là nó kéo dài cuộc chơi giữa những từ và ư nghĩa ra khỏi bài thơ riêng biệt để đi vào mối quan hệ liên bản văn. Như vậy cũng có nghĩa nếu coi bài thơ như một h́nh dạng chung kết, như một kết quả để đi đến ngơi nghỉ và ổn định th́ kết quả này bị đặt thành vấn đề và chỗ đứng của nó trong vô tận những bản văn được giả định là không bắt đầu mà cũng chẳng kết thúc, nhưng thật ra bị vướng vào sự biến đổi không ngừng, và khi nó tiếp diễn nó luôn xóa bỏ đi cái ǵ nó đặt vào. Hai bài thơ này là một bản văn tự tái diễn giải bằng cách tự mở rộng, nhưng sự tự mở rộng này chỉ thu hoạch được sự khả hữu của việc tái diễn giải bằng cách tự gián đoạn, và như vậy làm cho việc quay trở lại với chính nó bằng cách lập lại là khả hữu trong việc đọc qua bụi của gịng trống không và qua thời gian.

_____________________________________

[202]  Sđd trang 288: The line has remained true precisely  in the sense that it has not remained tied to what it once meant, but is now open to new possibilities of meaning. It has remained true because it has become true. The poem offers here with the greatest concision a formula for the historicity of texts. They remain, transforming themselves, in being read – and that also means in being quoted. The citation is a moment in the history of the text and is perceived as such in the poem “Zwölf Jahre.”

[203] Sđd trang 288: What has remained true is not the sentence, which as prediction is out of date, but the line that names what has been predicted, and which still remains true when what has been predicted becomes true. The syntactical coherence of the sentence falls apart when the line is detached from it. The consequences of this for the text becomes meaningful from the point of view of the changed situation. First of all, the particle zu becomes incomprehensible, since without a verb it cannot be said that the house changes into a place of sacrifice [zur Opferstatt wird]. The dash that in the citation divides the line into two seems to indicate that the connection between the house and the place of sacrifice is destroyed and that the two halves shoud be read each in isolation. The relationship, however, has only become a different one: while according to the prophesy the house will become a place of sacrifice, after the fulfillment of the prophesy it has become one. The house is now the place of sacrifice, and “zur/ Opferstatt deiner Hände” announces the name of the house like an inn sign.

[204] Sđd trang 289: This increase in meaning due to changed life circumstances has something unsatisfying about it. In order to be able to do something with the name “Paris” one must recur to outside information to which the poem itself provides no access. The text seems to remain impenetrable without this extra-textual knowledge.

[205] Sđd trang 289: given the way it appears in “Zwölf Jahre,” however, the line not only evokes something to which the text provides no access, but also, as citation, refers to itself as text and to the text from which it is quoted. This emphasis on textuality peculiar to the citation is a hint to the fact that it is not enough to relate the line’s remaining and becoming true to extra-textual events, but that the quoted words also change their meaning in that other texts have occurred between “Auf Reisen” and “Zwölf Jahre” which influence the quotation’s semantic field. Certain of these texts make it possible to read the quoted line in such a way that it not only refers to something entirely personal, but also justifies the presence of the personal an singular in the poem. This becomes clear if one takes into account the connection Celan establishes elsewhere between the hands and the irreducibly singular.

[206] Sđd trang 289-290: Here Celan reads his own poem’s palm. In connection with his reading of Büchner’s text, the hands that appear in it mean something more and other than they did before. From now on they can be read in terms of the “date.” This possibility has repercussions for “Zwölf Jahre” and has something to do with the “becoming true” of the line, since it did not exist at the time of “Auf Reisen” and changes the meaning of the unchanged wording. The citation in “Zwölf Jahre” refers, in the ultimate impernetrability of its personal background, to a date, a January 20. But because the hands appear in it, this citation comes upon the meridian which Celan traces in “The Meridian” through his own and Büchner’s text, and moreover becomes the sign for the inaccessibility of the date that is named in it. Thus to the poetological side of the quoted line belongs the justification of the opaque personal date in the poem.

[207] Sđd trang 290: On both occasions, we are dealing with a commented self-citation. An earlier poem is reinterpreted in the light of the new contexts into which it enters, and becomes true in a new way. The earlier text – since it has become true – proves itself retrospectively to be predictive. Celan called this a posteriori prophetic quality of the poem the “Sichvoraussschicken zu sich selbst” (“sending oneself ahead to oneself”) (GW 3:201). Thus the quoted and the quoting text stand in a metonymical relationship to one another.

[208] Sđd trang 290: This means that the relationship between “Zwölf Jahre” and the “Meridian” repeats the textual relationship with other texts that is produced inside these two texts. When read together, these two texts are the metaphore of their relationship.

[209] Sđd trang 291-292: In the becoming true as a constant movement of transformation, the return to the text as a stable linguistic shape is secured, since otherwise it would not be this text that could become true as remaining true; every time a meaning is produced, however, the text tends to fall silent as linguistic process in that to which it refers. What falls silent in the poem that is only read for its meaning is the verse. The breaking-up of the line in the citation is the destruction of the verse from “Auf Reisen.” What is called a line (Zeile) is dismembered and divided into three lines that have no rhythmic consistency. At the same time, the verse is nonetheless preserved, not only because the citation is designated as a line and therefore as a unit, but also through the italics, which put the fragments back together. This means the verse here is not simply destroyed, but rather appears in the poem as destroyed. The typographical arrangement means the falling silent of the verse. The quoted line has not only become true; it has also at the same time fallen silent as verse insofar as its content has gained the upper hand. But this is again precisely not the case in “Zwölf Jahre,” since the verse is remembered, named, and represented as having fallen silent. The graphics of the poem prevents the inherent danger of content-focused reading from taking place. It corrects the disintegration of the verse, which it make visible, precisely by representing it and thus preserving the lost verse as lost. The line that, by no longer being a verse, has fallen silent and becomes past is the war-geworden, “the one that has become ‘war’”.

[210] Sđd trang 292: By quoting a line from the earlier poem, and by qualifying it as having remained and become true, the later poem thematizes the relationship between texts on the level of the wording, which starts to mean again in a new way through the change in its context. Through the citation, the two poems become each other’s context. It must therefore be possible to show how the wording of each is reinterpreted through the context of the other.

[211] Sđd trang 293: The becoming deaf and dumb (das Stumm- und Taubwerden), however, has to do with dust becomes visible in “Zwölf Jahre” as the empty line whose dust specks are what the reading eyes have just left behind. But the empty line stands for the lack of speech, just as the dust stands for the missing carriage. Thus the dust in “Auf Reisen” can retrospectively become a metaphor for the lapse into silence.

[212] These words do not mean just anything, however, but precisely what has shown itself through the intertextual relationship to be the metaphorical meaning of the dust. Thus Es wird stumm, es wird taub/ hinter den Augen” is the translation of the metaphorical meaning of the first line of “Auf Reisen,” a metaphorical meaning which, however, can only come about through this translation. The word Staub not only designates the dust, but also refers, as sound, to the two words which say the falling silent (das Verstummen) in “Zwölf Jahre,” and thereby reveal the metaphorical meaning of the dust as a sign for dumbness (das Verstummtstein). This is true of the dust specks in the empty line in “Zwölf Jahre” as well as of the word Staub and the dust it designates in “Auf Reisen.” The metaphorization of the dust is a process that corresponds exactly to what the poem calls the “becoming true.” The becoming true is possible because there is no consistency in the meaning of texts.

 

Kỳ tới: RENÉ CHAR

đào trung đạo

 

http://www.gio-o.com/DaoTrungDao.html

 

 

© gio-o.com 2016