đào trung đạo

thi sĩ / thi ca

                  (56)

 

Kỳ 1, Kỳ 2, Kỳ 3, Kỳ 4, Kỳ 5, Kỳ 6, Kỳ 7, Kỳ 8, Kỳ 9, Kỳ 10, Kỳ 11, Kỳ 12, Kỳ 13, Kỳ 14, Kỳ 15, Kỳ 16, Kỳ 17, Kỳ 18, Kỳ 19, Kỳ 20, Kỳ 21, Kỳ 22, Kỳ 23, Kỳ 24, Kỳ 25, Kỳ 26, Kỳ 27, Kỳ 28, Kỳ 29, Kỳ 30, Kỳ 31, Kỳ 32, Kỳ 33, Kỳ 34, Kỳ 35, Kỳ 36, Kỳ 37, Kỳ 38, Kỳ 39, Kỳ 40, Kỳ 41, Kỳ 42, Kỳ 43, Kỳ 44, Kỳ 45, Kỳ 46, Kỳ 47, Kỳ 48, Kỳ 49, Kỳ 50, Kỳ 51, Kỳ 52, Kỳ 53, Kỳ 54, Kỳ 55, Kỳ 56,

 

RENÉ CHAR

 

 

Chuyến đi Alger đem lại cho René Char những buồn bă và bi quan về việc chính quyền lưu vong Pháp đối xử với những người đă tham gia kháng chiến. Trong những tháng đầu năm 1945 René Char chán nản v́ cánh tay chưa lành hẳn nên trở về tiếp tục sống ở lâu đài Névrons tuy vẫn cố gắng hoàn thành nhiệm vụ được chính quyền giao phó nhưng cảm thấy bị bó buộc và cảm thấy bị phản bội nên vào tháng 3, 1945 René Char đi Paris để lo việc xuất bản tập thơ Seuls demeurent ở nhà Gallimard cũng như việc tái bản tập thơ Marteau sans maître ở nhà José Corti. Trong bức thư gửi cho Gilbert Lély vào tháng 2, 1945 René Char loan báo “một quyển sách này mở ra, một quyển sách kia khép lại, quyển sách về sự bí mật” (Un livre s’ouvre, un autre se ferme, celui de la clandestinité). Tập Seuls demeurent được đón nhận nồng nhiệt và giới phê b́nh coi René Char là một trong những thi sĩ vĩ đại của Pháp và đài phát thanh phát một chương tŕnh đặc biệt về René Char. Ngày 29 tháng 5 sau ngày hiệp ước đ́nh chiến được kư kết những chiến sĩ kháng chiến bị tù đầy từ các trại giam được hồi hương. René Char đưa ra từ Isle-sur-Sorgue bản “Kêu gọi t́nh đoàn kết, biệt đăi những người bị lưu đầy chính trị.”

Bắt đầu từ tháng 7, 1945 René Char cật lực bắt tay biên soạn Feuillets d’Hypnos. Theo Jean-Claude Mathieu việc làm này của René Char dường như là sự đáp trả sự khó chịu về thể xác trong hai tháng 5 và 6 cũng như để đánh dấu sự khác biệt với một loạt những thứ văn thơ yêu nước mới được xuất bản. Khác biệt ở chỗ đưa ra chứng thực và kinh nghiệm về những ǵ đă xảy ra cho bản thân ḿnh cũng như cho các chiến hữu ở mật khu. Jean-Claude Mathieu được René Char cho biết bản thảo đánh máy lần đầu được tác giả hủy bỏ ngoại trừ một trang c̣n được giữ lại. Trang này cho thấy sổ tay ban đầu như thế nào:

“ – Món nợ với nhóm của Léon (trong những cây sồi): frs 113.50.

      Di chuyển Félix và những đôi giầy trận đi nơi khác: fr 100

                                          ______________

Em tới chúng tôi những kẻ [bước ngả nghiêng –trong phóng ảnh Char xóa bỏ từ này], mất thăng bằng do nắng gắt,

Em gái không khinh thị, ôi đêm tối!

                                          ______________

Đó là thời điểm những cánh cửa sổ trốn khỏi những căn nhà

để rực lên ở đầu thế giới nơi [điểm] sẽ tỏa ngời thế giới của chúng ta.

                                          ______________

Sửa: chú ư tới chỗ bày giầy để sửa của tiệm. Người ta nh́n thấy quá

nhiều giày quanh chỗ này.

                          [tiếp theo là bốn ḍng rưỡu chữ bị gạch xóa, không đọc được]

                                          ______________

Y sĩ Félix                                                                                         :frs          100

Mua lúa ḿ, 3 bao mỗi bao 80 kí                                                              :frs          3,250

Người phụ nữ mặc áo choàng phủ kín vai và ngực này muốn ǵ?” [95]

 

V́ René Char sau khi t́m lại được những tờ (feuillets) ghi chú thời ở mật khu, chép lại phần nhật kư và một số ghi chú rồi sau đó hủy hầu hết những tờ này và chỉ c̣n giữ lại tờ nêu trên nên việc t́m hiểu Char đă biên soạn bản văn Sổ tay của Hypnos ra sao cần được xem xét.[96]

René Char hoàn thành bản đánh máy tập thơ vào tháng 8, 1945 có viết tay một vài chỉnh sửa và thêm thắt một số bản văn như trong bức thư gửi cho G. Lély cho biết. Đến cuối năm tập thơ được hoàn tất và René Char nhấn mạnh “không có bản thảo quyển Sổ tay cũa Hypnos nào khác” ngoại trừ vài trang được chép lại để gửi cho tạp chí Fontaine. Cũng vào thời điểm này René Char được giải ngũ và quyết định đi Paris sau nhiều lần bị tŕ hoăn. Trong lần trở lại Paris này Char nối lại liên hệ với bạn bè cũ như Raymond Queneau, Paul Éluard, Albert Camus, Maurice Merleau-Ponty, Marcel Fourrier, Michel Leiris, Henri Parissot, …và gặp gỡ những thi sĩ trẻ vốn ngưỡng mộ Char bởi nhiệt t́nh và và sự nghiêm xác của tiếng thơ Char, trước nhất là Yves Battistini và sau đó là Jacques Charpier, Jacques Dupin chẳng hạn được Char viết bài Vào Tập (Avant-Propos) cho tập thơ À la droite de l’oiseau xuất bản năm sau đó. Yves Battistini viết bài Pour un climat autour de René Char đăng trong Les Cahiers de l’HERNE: René Char khá xuất sắc. Jean-Claude Mathieu đặc biệt nhắc đến mối liên hệ thân thiết của René Char với Yvonne Zervos. Mối liên hệ này giữ một vai tṛ quan trọng trong tác phẩm của René Char v́ nó tạo cơ hội cho Char quen biết những họa sĩ nổi tiếng chẳng hạn như Georges Braque, Henri Matisse, Victor Brauner…Trong thời gian này René Char cũng sáng tác nhiều bài thơ sau này được cho vào tập Le Poème pulvérisé. Thế nhưng vào tháng 2 René Char phải vội vàng rời Paris sau khi một chiến hữu thân thiết là Gabriel Besson bị ám sát ở nhà ga Manosque để trở lại sống ở L’Isle-sur-Sorgue rồi ở vùng bờ biển Trayas với Yvonne và chồng là Christian Zervos. Sau khi bị tŕ hoăn cuối cùng Feuillets de Hypnos được xuất bản trong tủ sách “Espoir” của nhà Gallimard do Camus chủ biên vào tháng 6 và René Char quay trở lại Paris nhân dịp này.

Công tŕnh đáng kể nhất của Jean-Claude Mathieu là phần phân giải căn kẽ văn tự của quyển Feuillets de Hypnos với các chủ đề: Phần I Những h́nh thức của viết: những ghi chú và những tờ sổ tay (Formes de l’Écrit: Notes et feuillets) được chia ra các tiểu mục: Tách rời/Le détachement, Sự hỗn độn của quyển sổ tay và trật tự của quyển sách/Le désordre du carnet et l’ordre du livre, Sắp chữ những ghi chú/Typologie des notes, Viết “mũi nhọn đối diện thời gian/Écrire, “la proue face au temps”; Phần II Những “thúc hối” của hiện tại và tiếng nói “tách bạch” (Les “instances” du présent et la langue “tranchée”) được chia ra các tiểu mục: Những giới hạn của viết: niềm im lặng và cái chết (Limites de l’écrit: le silence et la mort), “Sự căng thẳng” (“La tension”), Thắt lại: “Kim cương tuyệt vọng” (Le resserement: “Diamand désespéré), “Điều chỉnh tác phẩm của chúng ta”: tiếng nói của phân tích (“Régler notre ouvrage”: la langue de l’analyse), “Tôi viết vắn tắt”: sự hàm xúc (“J’écris brièvement”: le laconisme), Từ hiển nhiên đến chân lư: phân cực những phát biểu (De l’évidence à la vérité: la polarisation des énoncés); Phần III “Trái dất và lời thầm th́”: T́nh thân thiết của những sự vật và sức mạnh của nói (“Terre et murmure”: L’intimité des choses et le pouvoir de parler) gồm những tiểu mục: “Cảm giác và luân lư như hệ luận của nó” (La sensation et son corollaire la morale), cái tức thời và những dấu chỉ (L’immédiat et les signes), Trái đất (La terre), Cư ngụ đêm: Hypnos và sự mất ngủ (Habiter la nuit: Hypnos et l’insomnie), Lời cận kề: tin cậy, thầm th́ (Proches paroles: la confidence, le murmure), và sau hết là “Việc cất tiếng của những h́nh ảnh” (Le parler des images).

1.   NHỮNG H̀NH THỨC CỦA VIẾT: NHỮNG GHI CHÚ VÀ NHỮNG TỜ SỔ TAY.

Tách rời: Công việc biên tập Sổ tay của Hypnos để xuất bản của René Char không phải là việc kết nối những ǵ được viết trong cuốn sổ cũ nhưng lại là một việc tháo rời những ghi chép cũ, một hành vi ly tâm: “Con đường từ  “Sổ tay” được đóng thành tập, đánh dấu trang theo sự liên tục của những ngày và những đêm tới “Những tờ” rời, được tách ra, hoàn tất chuyển động ly tâm này, việc trút bỏ để gửi gấm cho gió này không phải những lời mà là cái viết. Hành vi đầu tiên: tháo sợi dây buộc những tờ rời, rải theo gió, giao chúng cho ḷ luyện kim rổn rảng của một ngọn lửa cỏ khô “rất có thể đă là người biên tập của chúng.” Dứt ra, lật các trang, bàn tay hay cái nh́n nhậm lẹ không để cho sự quá chú tâm chăm sóc yêu mến bản thân có thời gian để yên trí về sự chủ động trên những ghi chú ‘thường là được ngó sơ qua hơn là đọc lại’ này”.[97] Jean-Claude Mathieu dựa trên những bài thơ René Char viết trước cũng như sau Sổ tay để chỉ ra ư định của René Char khi viết Sổ tay của Hypnos như một phương tiện để dứt khoát với thời trẻ tuổi, với những “nhiệm vụ địa ngục” (devoirs infernaux), gieo rắc những mảnh vụn tuổi trẻ, là những đổ nát nhưng vẫn có khả năng của tương lai.

Jean-Claude Mathieu cho rằng hẳn sự trải khắp (éparpillement) này trước hết là kết quả của sự lọc lựa: khi cho xuất bản René Char đă bỏ đi những ghi chú quá riêng tư, những chi tiết chỉ có giá trị cho hành động tức thời lúc đó, và cũng xóa bỏ những ǵ lâu nay vẫn bị xiết chặt của “cuộc sống bị đe dọa”, trả lại cho gió “không sức nặng” cái ǵ đă được cảm nhận như một trọng lượng không thể chịu nổi, “kim tự tháp của những kẻ tử v́ đạo” (la “pyramide des martyrs”) ám ảnh trái đất “nơi thờ phượng những phế tích” (l’hôtel de décombres), sự hôn thụy của thôi miên như René viết ở đoạn rời 228 “Les êtres exemplaires sont de vapeur et de vent/Những con người điển h́nh làm bằng hơi và gió” như Roger Bernard chẳng hạn.

_______________________________

[95] Jean-Claude Mathieu, La Poésie de René Char t.II/Poésie de Résistance trang 212.

[96] Ở ghi chú #42 Jean-Claude Mathieu cho biết: Char dùng thứ giấy kẻ ô vuông của sổ tay (khổ 14x22), ở phía trên bên tay phải Char ghi bằng bút ch́ 1943. Bản chụp trang này được dùng làm b́a cho bản dịch sang Anh văn của Cid Corman (Grossman Publishers 1973). Ngoài tờ này ra cũng c̣n một tờ khác được lưu giữ mặt sau có những chỉ dẫn René Char viết bằng mực đỏ: “Trang của Sổ tay của Hypnos 1943-1944” và “Alger ngày 27 tháng 7, 1944” và ba bản văn viết bằng mực đen: “Cái chết không bao giờ ở ngoài, nhưng ở ngay kề bên.” (cf. bài Contre une maison sèche). “Chúng ta hoài công tin rằng một cái kèn clarion của Saint-Cyr được biến thành chiếc đại dương cầm clavecin của Diderot, một vị tướng biến thành Ganymède, ngay cả trong cặp mắt của những chứng nhân thấu thị. Nghệ thuật bất cần biết đến lịch sử nhưng sử dụng sự khủng bố của nó” (cf. bài Outrages, 1944-1967) và “Ôi sự thật, đứa trẻ máy móc, hăy ở trên mặt đất và thầm th́ giữa những tinh tú vô ngă” (cf. Hypnos, 204); ở trang đầu, là đoạn rời “la carte du soir/bản đồ buổi chiều” (Hypnos frag. 221). Ngoài ra c̣n có một tấm b́a mỏng, ghi tên Charles de Gaulle, được đóng khung bởi bản văn thứ nh́ kèm chỉ dẫn: “viết ở Alger tháng 7, 1944”. René Char gọi de Gaulle một cách mỉa mai là “Général de tombola/Tướng sổ số, tḥ ḷ.” Theo Jean-Claude Mathieu có lẽ René Char đă cho vào Sổ tay của Hypnos những suy nghĩ viết ở Alger hay đă dùng cùng một thứ giấy kẻ ô vuông ở Alger.

 

[97] Sđd trang 217: Le passage du “Carnet” broché, paginant la succession des jours et des nuits, aux “Feuillets” volants, détachés, accomplit ce mouvement de centrifuge, cet allègement qui confie au vent non les paroles mais l’écrit. Premier geste: dénouer le fil qui retient les feuilles, éparpiller au vent, les livrer à l’alchimie crépitante d’un feu d’herbes sèches qui “eût tout aussi bien été leur éditeur”. Effeuiler, feuilleter, la main ou le regard rapides ne laissent pas au narcicisme le temps d’assurer sa prise sur ces notes, “plus souvent survollées que relues”.

 

(c̣n tiếp)

đào trung đạo

 

 

http://www.gio-o.com/DaoTrungDao.html

 

 

© gio-o.com 2017