đào trung đo

THI SĨ THI CA

(129)

 

Kỳ 1, Kỳ 2, Kỳ 3, Kỳ 4, Kỳ 5, Kỳ 6, Kỳ 7, Kỳ 8, Kỳ 9, Kỳ 10, Kỳ 11, Kỳ 12, Kỳ 13, Kỳ 14, Kỳ 15, Kỳ 16, Kỳ 17, Kỳ 18, Kỳ 19, Kỳ 20, Kỳ 21, Kỳ 22, Kỳ 23, Kỳ 24, Kỳ 25, Kỳ 26, Kỳ 27, Kỳ 28, Kỳ 29, Kỳ 30, Kỳ 31, Kỳ 32, Kỳ 33, Kỳ 34, Kỳ 35, Kỳ 36, Kỳ 37, Kỳ 38, Kỳ 39, Kỳ 40, Kỳ 41, Kỳ 42, Kỳ 43, Kỳ 44, Kỳ 45, Kỳ 46, Kỳ 47, Kỳ 48, Kỳ 49, Kỳ 50, Kỳ 51, Kỳ 52, Kỳ 53, Kỳ 54, Kỳ 55, Kỳ 56, Kỳ 57, Kỳ 58, Kỳ 59, Kỳ 60, Kỳ 61, Kỳ 62, Kỳ 63, Kỳ 64, Kỳ 65, Kỳ 66, Kỳ 67, Kỳ 68, Kỳ 68,Kỳ 66, Kỳ 69, Kỳ 70, Kỳ 71, Kỳ 72, Kỳ 73, Kỳ 74, Kỳ 75, Kỳ 76, Kỳ 77, Kỳ 78, Kỳ 79, Kỳ 80, Kỳ 81, Kỳ 82, Kỳ 83, Kỳ 84, Kỳ 85, Kỳ 86, Kỳ 87, Kỳ 88, Kỳ 89, Kỳ 90, Kỳ 91, Kỳ 92, Kỳ 93, Kỳ 94, Kỳ 95, Kỳ 96, Kỳ 97, Kỳ 98, Kỳ 99, Kỳ 100, Kỳ 101, Kỳ 102, Kỳ 103, Kỳ 104, Kỳ 105, Kỳ 106, Kỳ 107, Kỳ 108, Kỳ 109, Kỳ 110, Kỳ 111, Kỳ 112, Kỳ 113, Kỳ 114, Kỳ 115, Kỳ 116, Kỳ 117, Kỳ 118, Kỳ 119, Kỳ 120, Kỳ 121, Kỳ 122, Kỳ 123, Kỳ 124, Kỳ 125, Kỳ 126, Kỳ 127, Kỳ 128, Kỳ 129,

 

Francis Ponge

Phân tích bài thơ PLUIE: Ponge đặt bài này đầu tập Le Parti pris des Choses/Đứng về Sự vật (hay Theo phe Sự vật) (xuất bản năm 1942) hẳn có nhiều lý do. Đây là bài thơ viết trong khoảng 1935-1936 cho thấy không phải là bài thơ đầu tiên trong loạt những bài viết thời trẻ tuổi khác in trong tập Pièces (xuất bản năm 1961, quyển thứ ba trong toàn tập Grand Recueil). Cũng có thể Ponge cho đây là bài thơ xuất sắc hơn cả và được ngưỡng mộ cũng như được nói đến nhiều hơn so với các bài khác trong tập. Ngoài ra bài thơ này cũng có thể được coi như chiếc chìa khóa để mở vào những bài thơ khác như phần sau sẽ nói tới.

Dựa trên Ngữ học, Ký hiệu học (Sémiotique) và quan niệm của Roman Jacobson về thi ca hóa hoán dụ (poétisation de la métonymie) Inès Oseki Dépré [4]  đưa ra một phân tích bài Pluie khá thú vị và cũng cho thấy tại sao Francis Ponge được người đời ngưỡng mộ, coi là thi sĩ tiền phong của thi ca Pháp hậu bán thế kỷ 20. Khi tác giả đặt tựa bài viết là Les Plaisirs de la Pluie hẳn có ý nhắc phân biệt của Roland Barthes giữa Plasir du textText de plaisir và hy vọng sau khi đọc bài phân tích này người đọc bài thơ Pluie/Mưa của Ponge sẽ tìm được những sướng khoái Lược bỏ bớt những chi tiết chuyên môn của các môn Ngữ học và Ký hiệu học, sau đây là tóm tắt bài viết của Inès Oseki Dépré.

Trước hết, tác giả coi Pluie như một đối tượng ký hiệu học (objet sémiotique) với những ký hiệu (codes) và cách Ponge sử dụng ký hiệu (codage), rút những thành tố lấy từ bản văn về việc Cho/Chỉ nghĩa (Signification), nghĩa là cách thế chỉ/cho nghĩa theo ngữ nghĩa liên bản văn (signifiance sémantique intertextuel). Inès Oseki Dépré trước hết đưa ra phân tích thuần ngữ học để tìm những cấp độ (niveaux và những yếu tố cấu thành (les constituants) của bản văn Pluie, sau đó xét bản văn này như một đối tượng ngữ học (Objet linguistique) trong tác động qua lại (interaction) với đối tượng thi ca (Objet poétique), sau hết tìm Cấu trúc và Chỉ nghĩa (Structure et Signification) theo viễn tượng Ký hiệu học:

Nhận xét đầu tiên của Inès Oseki Dépré về cách sắp chữ trình bày bài Pluie cho thấy bản văn này gồm 3 phần có độ dài ngắn khác nhau: Phần 1 (La pluie... très diverses) chặt chẽ  gồm 7 câu: câu 1 “La pluie...très diverses), câu 2 “Au centre...méteore pur”, câu 3 “À peu...individuées), câu 4 “Ici...d’une bille), câu 5 “Sur des...berlingots convexes”, câu 6 “Selon...la couvrrture”, và câu 7 “De la gouttière... aiguillettes btillantes”. Tất cả những câu thơ trong phần đầu nói về không gian,  nơi chốn cho thấy có sự đối nghịch (thứ nhất) với những phần kia. Phần 3 nói về thời gian chỉ ra một dạng đối nghịch thứ nhì. Căn cứ vào đó ta có thể phân biệt ba phần của bản văn là riêng biệt và đứng tương đối độc lập: So sánh các phần thì thấy Phần 1 “La pluie [...] btillantes” dài nhất, Phần 2 “Chacune [...]  non sans délicatesse “ ngắn hơn, và Phần 3 “Lorsque le ressort [...] il a plu.” thật ngắn, có tính cách kết thúc và có chức năng lập lại từ đầu (da capo) như ta thấy ở phần lớn những bài thơ trong Le Parti pris des Choses. Vì tất cả những câu trong Phần 1 được đưa vào bằng những kiện từ chỉ nơi chốn (circonstants de lieu) vì thế ta có thể đối nghịch phần này với những phần kế tiếp. Trong Phần 3 có khá nhiều những yếu tố chỉ thời gian cũng như những hình thức lời nói trọn vẹn (formes verbales perfectives) có thể được coi là những dấu chỉ phân biệt và chỉ thị (les marques distinctives et indicielles) của một đối nghịch nữa. Chính do căn cứ vào những đối nghịch này ta có thể phân chia bản văn thành ba phần tuy tính cách tự lập (autonomie) và tính chất riêng biệt (speficité) chỉ tương đối mà thôi.

Inès Oseki Dépré đặt cho mỗi thành tố tạo cú pháp (constituant syntacmatique) bằng một chữ như sau: chữ A để chỉ kiện từ nơi chốn, chữ B chỉ tổ hợp chủ từ (sujet)+ chỉ định (déterminant) +động từ (verbe) +bổ từ , chữ C: những mệnh đề tương quan (propositions relatives), chữ D: mệnh đề phụ chỉ thời gian (subordonnées temporelles), và chữ E: những từ để so sánh (comparatifs) thì ta có giản đồ cấu thành như sau:

Phần 1 gồm A : dans le cour, au centre, à peu de distance, ici/là/ailleurs, sur les tringles/sur les accoudoirs, sur la face intérieureee, selon la surface, de la goutièrre/jusqu’au sol) + B : la pluie descend, c’est un rideau, tombent des gouttes, elles semblent, la pluie court, elle se suspend, elle ruisselle, elle choit) + C : où je regarde, tandis que, que le regard surplombe, où elle coule, ou elle se brise et jaillit),

Phần 2: gồm B; chacune de ses formes a une allure/ il y repond un bruit, le tout vit avec intensité, la sonnerie, le glou-glou...se multiplent et resonnent + C: dont le ressort est +E: comme un mécanisme/ aussi précis que/ comme une horlogerie

Phần 3: gồm B: certains rouages continuent à fonctionner, tout s’efface, +D: lorsque le ressort/puis toute la machine, alors (si le soleil) bientôt.

Ta có thể hình dung những tương quan giữa những thành tố tạo lập (constituants) đã được dẫn ra bằng cách dùng → và dấu chấm (.) để chỉ sự phối hơp (coordination.)  Thí dụ: Phần 1 đi từ A ← (C→ (B) ), Phần 2 đi từ A→(B.B.B,B), Phần 3 từ A→ (               B) v.v...Biểu đồ làm theo cách này cho thấy ba đối nghịch về cú pháp tổng quát (triple opposition syntaxique générale) phủ lên đối nghịch thứ nhì. Như vậy những Phần 1 và 2 có những mệnh đề tương quan (propositions relatives) (C) nhưng trong khi ba trong 4 C của Phần 1 (được đưa vào bằng những từ que) thì Phần 2 được đưa vào bằng chỉ một từ dont. Thế nên có thể thấy nơi cấp độ (niveau) này có những song hành/tương đương (paralléismes) như “où je regarde” với “que le regard surplombe (tương nghĩa nhưng bất tương hình thức cú pháp), “où elle coule” với “où elle se brise et jaillit”. Tuy nhiên cần chú ý Phần 3 không được cấu tạo theo kiểu này. Ta cũng thấy Phần 1 và 2 chứa những mệnh đề phối hợp (propositions coordonnées) bở từ et (se brise et jaillit, se multiplent et  résonnent). Trong cả hai trường hợp liên từ nối những động từ có hình thức khác nhau, trường hợp đầu là hinh thức đại từ (forme pronominale), trường hợp thứ nhí là nội động từ (intransitive), trong cả hai trường hợp đều được bắt đầu bằng âm vị (phonème) /r/+/E/.

Cũng nên lưu ý Phần 1 và Phần 3 đều có những mệnh đề phụ chỉ thời gian D nhưng lại khác nhau về con số và ý nghĩa của chúng (tandis que X lorsque) và trong Phần 3 cũng có khá nhiều từ chỉ thời gian như quelque temps, de plus en plus, puis, alors, bientôt nhằm nhấn mạnh thời gian tính của những liên từ (conjonctifs) và những động từ. Căn cứ vào nhận xét này ta thấy Phần 3 đứng riêng, độc lập với Phần 1 và Phần 2 và điều này thấy trong hầu hết những bài thơ của Le Parti pris des Choses.

Xét Pluie như một đối tượng ngữ học (objet linguistque) tức là chỉ ra cách trình bày hình thức (présentation formelle) và hình thức bài thơ. Thường hầu hết các bài thơ vẫn thường được gán cho là “thơ mô tả” (descriptifs) của Francis Ponge không hề có quan hệ nhân quả (causalité). Theo Inès Oseki Dépré, chính vì đặc điểm này Francis Ponge được coi là thi sĩ của thế kỳ 20. Tác giả cũng chứng minh Pluie không hoàn toàn là sự mô tả, rằng Ponge không tuân thủ những qui định của hình thức văn chương mô tả (qui chiếu thực tại, tĩnh và phi thời gian, khách quan) để biến đồi sự mô tả trong bản văn.

Sau hết Inès Oseki Dépré qua phân tích những điểm tương đương trong Phần 1 bài Pluie như  một đối tượng ký hiệu học (objet semiotique) ta thấy được cơ sở, ma trận (matrice) của cấu trúc toàn bộ bài thơ. Phần 1 này chỉ có vẻ như văn mô tả thôi. Đúng ra đó là mô tả/định nghĩa (décrit/définit) hiện tượng mưa trong không gian hay trong những khả hữu của một không gian sẵn sàng cho cái nhìn. Chủ thể của diễn ngôn: je la regarde, que le regard surplombe ở quanh những nơi chốn: Dans la cour, au centre, à peu de distance des murs de gauche et de droite, ici, là, ailleurs. Những hình thức của mưa được qui về vũ trụ học bằng phép loại suy (analogie) hay thay thế (substitution) như rideau, réseau biến thành metéore pur, précipiatation sempiternelle, en rousseau creux với những courants thành filet, s’éparipille en goutes, grain de ble, pois, bille, aiguillettes.

Xét kỹ hơn trong Phần 1 này có hai ma trận: ma trận tung/thẳng đứng (rideau), có tính hệ hình (matrice verticalle, paradigmatique) và ma trận hoành/ngằm ngang (réseau), có tính cú pháp (matrice horizontale, syntagmatique), ma trận đầu khi khung vào ma trận sau được triển khai suốt bản văn. Inès Oseki Dépré cho rằng “rideau” ở đây chỉ chuyển vận luận lý (mouvement logique) còn “réseau” chỉ chuyển vận xoay vòng (mouvement circulaire) của bản văn. Những tương đương về cách đặt câu nội tại cho thấy hai diện mạo của mưa: rơi xuống (je la regarde tomber) và chạy ngang/hoành (que le regarde surplomb), sự đối nghịch tung X hoành này được nhân đôi lên bởi hai từ “suspension” và “chute”, mưa “court horizontalement” cho thấy ma trận ngang nhưng đồng thời lại “suspend” trước khi “ruisseler” [chuyển động ngang] để “choir” [chuyển động thẳng đứng] và “se briser” (rejaillissant en aiguillettes brillantes) cho thấy Ponge sử dụng phép cải dung (synecdoque). Bốn chuyển động về phép đặt câu và về ký hiệu học này tương ứng với chuyển vận luận lý của toàn thể bản văn.

Tính chất tung/thẳng đứng tương ứng với việc sử dụng nhiều phương cách ẩn dụ (procédés métaphoriques) trong Phần 1 nhưng hoàn toàn vắng mặt ý niệm diễn tiến (idée de process) tức thời gian tính. Ở Phần 2 có sự di chuyển, làm ngưng trệ được thấy trong câu “chacune de ses formes a une allure pariculière” có chức năng làm ngưng lại, lùi lại.Thế nhưng “il y repond un bruit particulier” lại không được tiếp tục bằng những mô tả tiếng động như người ta mong đợi. Xét trên quan điểm của những chuyển nghĩa (trophes) thì ẩn dụ (được thay thế bằng những từ hay cụm từ “fin rideau”, “chute”, “précipitation” và “fraction du météore pure” và là hoán dụ (métonymie) khi những từ “les gouttes” và “elles” được dùng để chỉ mưa dăng đứng và có cả ẩn dụ không thuần túy (métaphore impure) trong hai câu “elle ruisselle en nappe très mince” và “elle coule avec la contention d’un ruisseau creux” để nói lên tính chất hoành (horizontalité) lại được thay thế bằng phép so sánh bằng sự di chuyển cùng lúc giữa trạng thái lỏng (liquide) sang dắn (solide).

Inès Oseki Dépré nhận xét trong câu “Le tout vit ...comme un mécanisme compliqué...comme une horlogerie” từ “solide”  đưa vào bản văn tương quan với con người, với sự sản xuất của con người. Trong trường hợp này, “horlogerie” và “mécanisme” còn có chức năng qui chiếu siêu ngôn ngữ (référence métalinguistique) ở mức độ thứ cấp như chính lời Francis Ponge trong những cuộc Đàm đạo với Philippe Sollers.[5]  Nửa đoạn kế tiếp của Phần 2 “La sonnerie...” có những qui chiếu về âm thanh và những qui chiếu tượng thanh (onomatopées) “sonnerie au sol, “le glou-glou des gouttiÈres”, les minuscules coups de gong” và “résonnent en un concert sans monotomie”được chuẩn bị bởi sự chuyển dịch về hướng máy móc (cơ học). Sự chuyển dịch-trượt (déplacement-glissement) này cho phép đưa vào bản văn chiều kích thời gian trong thực hành thi ca của Ponge khiến cho sự quyết định và sự định hướng của việc mô tả hóa thành việc hư cấu bản văn (la fiction textuelle) khả hữu. Thời gian tính theo chiều ngang tuy đưa vào bằng “la chute/rơi” nhưng không rơi trọn vẹn mà là rơi vỡ tan ra và vọt lên, chất dắn nhường chỗ cho chất dắn bốc hơi nghĩa là biến đi. Và câu chót “Il a plu” nói lên hiện tượng-bản văn (phénomène-text) chấm dứt nhưng cũng cho thấy thời gian của Văn tự (temps de l’Écriture) kết thúc.

Về chuyển vận xoay vòng của bản văn: Như ta thấy bản văn đi qua một chuỗi những chuyển động đi từ tĩnh (statique) sang động (dynamique), ngay từ khởi đầu đã chứa sẵn trong việc ngâm thơ (scansion) nhắm tới tưởng tượng thị giác (hình dạng của (giọt) mưa, nơi chốn ngắm mưa, những vật cản mưa, sau đó trong chuyển động kết thúc tạm thời lại chuyển từ thính giác sang lời nói. Thời gian cuối cùng bị xóa bỏ với việc đưa vào một “nhân vật” mới (thay thế chủ thể ngắm mưa) là mặt trời làm cho bộ máy ngưng lại. Cũng là điều thú vị khi xem bản văn như một nơi có một chuyển vận khác, một trò tạo những cấu trúc, những sức mạnh liên lỉ trong việc lập đi lập lại những hình thức tái diễn nhiều đến mức không thể cho là do tình cờ.

Sau hết, Inès Oseki Dépré nhận thấy có tương phản giữa tựa đề PLUIE với cụm từ bắt đầu bài thơ LA PLUIE và cụm từ kết IL A PLU cả hai cụm từ này đều đối nghịch với sự diễn tiến (procès) Từ pluie không có mạo từ le đứng trước nên nằm lửng lơ giữa danh từ (substantif) như une pluie, cette pluie vốn là đối tượng của cái nhìn và của văn tự và động từ (verbe) chỉ chính sự chấm dứt mưa là đối tượng của bản văn. “Nói thế khác “pluie” chính là sự mở ra mọi khả hữu, đó là dấu chỉ mưa được độc giả nhận biết như một từ của tiếng Pháp; trong ý nghĩa này nó đứng ở cấp độ ký hiệu học của việc tạo nghĩa chưa được hiện thực trong phát âm (la pluie...je la regarde tomber), chưa được cho nghĩa. Nó chưa được chú dẫn bằng tất cả những từ chỉ định đối tượng tùy hoàn cảnh (déictiques) của diễn ngôn thi ca xác định đó là mưa nào, tuy nó có một nghĩa về từ nghĩa (sémantique) nhưng lại không được nói rõ ra. Phải chăng nó được dùng để chỉ chính nó?

Được đặt như tựa bài thơ từ “pluie” là một dấu chỉ cho hay một qui chiếu về sự mô tả một hiện tượng hơn là về chính hiện tượng. Điều này có nghĩa đó là một mô tả giả dạng (pseudo-description) dù bằng những biến đổi và trượt đi (glissements) liên tục, hay dù chủ thể cất tiếng (sujet de l’énonciation) có dần dần biến đi để chỉ để lại cho người đọc một bản văn thì đến lượt nó lại sẽ xóa bỏ chủ đề bài thơ đi. Việc xóa bỏ chủ thể nói được Ponge thực hiện một cách khéo léo bằng những giai đoạn lần lần (je→le regard→elle (la pluie) →les gouttes→le tout→le soleil→il a plu). Việc biến đổi từ một chủ thể có thực sang một chủ thể giả (sujet apparent/faux sujet) này tiếp nối vào Bản văn một cách hình thức trong việc đóng ngoặc kép [...} chủ đề mô tả. Nhưng thực ra đó chỉ là một cách đóng ngoặc kép không có thực và người đọc chẳng bị lừa gạt vì biết rằng sự xóa đi này chỉ là tạm thời và tất cả lại bắt đầu lại bởi Bản văn đã được đặt ra (après la pluie, le beau temps). Francis Ponge có một cách tự qui chiếu (autoréférence) khá đặc biệt bằng cách trượt từ sự vật sang từ (Đứng về phía sự vật) như thấy trong câu cuối “Alors si le soleil reparaît tout s’efface bientôt, le brillant appareil s’évapore: il a plu”. Phải chăng đó cũng là cách Ponge thầm ước mong người đọc hiểu được rằng Bản văn đã mưa? 

_____________________________________

[4] Inès Oseki Dépré, Les Plaisirs de la Pluie trong L’HERNE: Francis Ponge trang 64-85.

[5] Entretiens avec Philippe Sollers, Gallimard-Seuil trang 68: Du point de vue de la forme même de mes textes, c’était la forme de la bombe et la préparation, la longue préparation de la bombe qui m’intéressait et je me retirais pour faire cela. Je ne participai donc pas aux actions extérieures, je me refermais et je préparais mon engin. [Ngay cả đứng trên quan điểm về những bản văn của tôi, đó là hình thức của quả bom và sự chuẩn bị, tôi để ý tới sự chuẩn bị lâu dài quả bom và tôi lui vào trong để làm việc đó. Thế nên tôi không tham dự vào những hành động bên ngoài, tôi khép kín và tôi sửa soạn cỗ máy của tôi.]

(còn tiếp)

 

FRANCIS PONGE

Thơ

thu tận

   Tất cả mùa thu, cuối cùng chỉ là một thứ nước pha chế lạnh lẽo. Những chiếc lá chết đủ loại ngâm mình trong nước mưa. Không lên men, không chế rượu: phải đợi tới mùa xuân mới biết được hậu quả của việc nén ép trên một khúc gỗ.

   Sự lột trần diễn ra vô trật tự .Tất cả những cánh cửa của phòng bỏ phiếu mở ra và đóng lại, kêu ken két. Hãy vứt vào giỏ, vứt vào giỏ đi. Thiên Nhiên xé rách những bản thảo, hủy phá thư viện của nó, khua rụng những trái cuối cùng một cách giận dữ.

   Rồi nó đột nhiên đứng lên rời khỏi bàn làm việc của nó. Lập tức tầm vóc nó hiện ra rộng mênh mông. Tóc bới tung, nó có cái đầu ở trong sương mù. Hai cánh tay đưa đẩy, nó hít thở với sự tuyệt khoái gió lạnh buốt làm mát rợi những ý tưởng. Ngày ngắn, đêm xuống thật nhanh, tên hề bị truất quyền.

   Trái đất trong bầu khí quyển giữa những thiên thể khác nghiêm nghị trở lại. Phần được chiếu sáng của nó thật hẹp, bị những thung lũng bóng tối lọc qua. Đôi giầy của nó, như đôi giầy của một kẻ lang bạt, sũng nước và trổ nhạc.

   Trong cái trại cóc, sự hàm hỗn khuếch đại tốt lành này, mọi thứ lấy lại sức lực, nhảy từ phiến đá này sang phiến đá khác, và đổi vị trí. Những con suối tăng nhanh.

   Đó là cái gọi là một sự quét sạch đẹp đẽ, chẳng coi qui ước ra gì hết! Phục sức như trần truồng, nhúng nước tận xương,

   Và rồi cứ thế kéo dài, không khô ráo ngay. Ba tháng trầm ngâm bổ ích trong tình trạng này; không phản ứng mạch, không áo tắm cũng chẳng choàng sơ mướp. Nhưng thể tạng mạnh mẽ của nó chống cự lại.

   Vậy nên, khi những cái nụ nhỏ bé bắt đầu nhú ra, liệu chúng có hiểu được chúng làm cái gì không và về cái gì vậy, – và nếu như chúng hiện ra với sự cẩn trọng, tê cóng và mặt mày đỏ gay, đó chính là vì sự hiểu biết nguyên do.

   Nhưng chính ở đó một câu chuyện khác bắt đầu, chuyện này có thể tùy thuộc vào nhưng không có mùi của cái thước kẻ màu đen tôi sẽ dùng để gạch dưới câu chuyện đó.

 

La fin de l’automne

Tout l’automne à la fin n’est plus qu’une tisane froide. Les feuilles mortes de toutes essences macèrent dans la pluie. Pas de fermentation, de création d’alcool: il faut attendre jusqu’au printemps l’effet d’une application de compresses sur une jambe de bois.

   Le dépouillement se fait en désordre. Toutes les portes de la salle de scrutin s’ouvrent et se ferment, claquant violemment. Au panier, au panier! La Nature déchire ses manuscrits, démolit sa bibliothèque, gaule rageusement ses derniers fruits.

   Puis elle se lève brusquement de sa table de travail. Sa stature aussitôt paraît immense. Decoiffée, elle a la tête dans la brume. Les bras ballants, elle aspire avec délices le vent glacé qui lui refraichit les idées. Les jours sont courts, la nuit tombe vite, le comique perd ses droits.

   La terre dans les airs parmi les autres astres reprend son air serieux. Sa partie eclairée est plus étroite, infiltrée de vallées d’ombre. Ses chaussures, comme celles d’un vagabond, s’imprègnent d’eau et font la musique.

   Dans cette grenouillerie, cette amphibiguïté salubre, tout reprend forces, saute de pièrre en pièrre et change de pré. Les ruisseaux se multiplient.

   Voilà ce qui s’appelle un beau nettoyage, qui ne respect pas les conventions! Habillé comme nu, trampé juasqu’aux os.

   Et puis cela dure, ne sèche pas tout de suite. Trois mois de réflexion salutaire dans cet état; sans réaction vasculaire, sans peignoir ni gant de crin. Mais sa forte constitution résiste.

   Aussi, lorsque les petits bourgeons recommencent à pointer, savent-ils ce qu’ils font et de quoi il retourne, – et s’ils se montrent avec précaution, gourds et rougeauds, c’est en connaissance de cause.

   Mais là commence une autre histoire, qui dépend peut-être mais n’a pas l’odeur de la règle noire qui va me servir à tirer mon trait sous celle-ci.  

 (TOME PREMIER trang 37-38)

(còn tiếp)

đào trung đo

http://www.gio-o.com/DaoTrungDao.html

 

© gio-o.com 2019