đào trung đạo

thi sĩ / thi ca

(83)

 

RENÉ CHAR

 

Kỳ 1, Kỳ 2, Kỳ 3, Kỳ 4, Kỳ 5, Kỳ 6, Kỳ 7, Kỳ 8, Kỳ 9, Kỳ 10, Kỳ 11, Kỳ 12, Kỳ 13, Kỳ 14, Kỳ 15, Kỳ 16, Kỳ 17, Kỳ 18, Kỳ 19, Kỳ 20, Kỳ 21, Kỳ 22, Kỳ 23, Kỳ 24, Kỳ 25, Kỳ 26, Kỳ 27, Kỳ 28, Kỳ 29, Kỳ 30, Kỳ 31, Kỳ 32, Kỳ 33, Kỳ 34, Kỳ 35, Kỳ 36, Kỳ 37, Kỳ 38, Kỳ 39, Kỳ 40, Kỳ 41, Kỳ 42, Kỳ 43, Kỳ 44, Kỳ 45, Kỳ 46, Kỳ 47, Kỳ 48, Kỳ 49, Kỳ 50, Kỳ 51, Kỳ 52, Kỳ 53, Kỳ 54, Kỳ 55, Kỳ 56, Kỳ 57, Kỳ 58, Kỳ 59, Kỳ 60, Kỳ 61, Kỳ 62, Kỳ 63, Kỳ 64, Kỳ 65, Kỳ 66, Kỳ 67, Kỳ 68, Kỳ 68,Kỳ 66, Kỳ 69, Kỳ 70, Kỳ 71, Kỳ 72, Kỳ 73, Kỳ 74, Kỳ 75, Kỳ 76, Kỳ 77, Kỳ 78, Kỳ 79, Kỳ 80, Kỳ 81, Kỳ 82, Kỳ 83,

Một vài vấn đề văn chương quanh René Char

2. Những thể thơ René Char sử dụng

René Char đã mất mấy tháng để làm bài Visage nuptial và bài thơ này cho thấy đây là kết thúc một giai đoạn thi ca của Char như chính Char tâm sự với G. Lely trong một bức thư [301]. Theo Jean-Claude Mathieu sự xuất hiện của “khuôn mặt” trong vũ trụ thi ca của Char chỉ là một xúc tác vì khuôn mặt không được tả rõ ràng trong bài thơ mà chỉ được nói lướt qua. Thế nhưng khuôn mặt suốt trong bài thơ lại đóng vai trò tích cực trong chuyển vận buông bỏ, từ chối mọi sức mạnh do khuôn mặt này tác động. Cách Jean-Claude Mathieu đọc bài thơ: bắt đầu từ hai câu cuối (nút thắt) “Voici le sable mort, voici le corps sauvé/La Femme respire, l’Homme se tient debout sau đó mới đi ngược trở lên tựa đề bài thơ rồi nối vào câu thơ đầu (nút mở). Cách đọc này lội ngược thời điểm hiện tại đã được chỉ rõ của bài thơ và chống lại sự không kiên nhẫn trong việc đi tới kết thúc được nói tới trong câu thơ “Je cours au terme de mon cintre, colisée fossoyé/ Anh chạy hết vòm cung của mình, đại quảng trường mộ địa. Và “Le poète vivifie puis court au dénouement/Thi sĩ lấy hết sức mạnh để chạy tới nơi kết thúc.” Như vậy cách đọc này đã tuân theo quan niệm của Char trong “Recherche de la base et du sommet/Đi tìm nền và đỉnh”.Vì thiếu kiên nhẫn thi sĩ buộc phải đối mặt với những cản trở đan xen chờ được gỡ bỏ. Cũng từ sự trì hoãn do cản trở bài thơ rút ra từ đó sức mạnh chiến thắng: sự cương dũng căng ra hướng về một ánh sáng sẽ tới (lumière imminente) vây bủa thi sĩ phải băng qua, phá hủy nó như phá hủy cả một bề dầy của sự phủ nhận, chối từ (toute une épaisseur de négativité)  làm cho ánh sáng này thành những đốm sáng tung bay, để tiến tới “đồng bằng” ([...] nous sommes montés au plateau.) Char đã lần lượt tóm thâu tất cả mọi hình thức ngôn ngữ lần lượt chiếm ưu thế trong bài thơ, chẳng hạn ngôn ngữ mê cung  mô tả  những vết thương và những xao xuyến của người phụ nữ (trong khổ IV “Le corps désert...), những xưng hô (vocatifs) được đưa ra lần chót để xua đuổi những “kẻ đi cùng đường, những kẻ chỉ đường”,  (Congé à vous, mes alliés, mes violents, mes indices) làm đà nhảy cho vượt qua. Những câu thơ đoạn rời mở rộng con đường đi tới có tính cách cá nhân này trở thành phổ biến (L’eau est lourde à un jour de la source), đồng bằng nguyên si hiện ra đón chào, và sau hết là hình ảnh của một hiện tại thuận thảo (La parole, lasse de défoncer, buvait au débarcadère angélique).

Jean-Claude Mathieu nhận xét việc sắp đặt những câu thơ trong bài thơ này có một cấu trúc chính xác: kết nối khá chặt chẽ những từ được chỉ nghĩa dấu kín bằng những phép tỉnh lược và tính chất di động của những ẩn dụ sẽ dễ thấy được nếu ta thu bài thơ này vào một cái khung chỉ nghĩa (armature de signification), tuy làm vậy hiển nhiên là không chính đáng nhưng lại cho phép ta nhận ra được những lóe chớp của hình ảnh nằm ẩn dưới tầng sâu. [302] Cấu trúc này cho thấy có một sức căng kép (double tension) làm cho ngôn ngữ thành linh động, tạo cho bài thơ có một hình thức riêng. Một bên là sức căng giữa việc thở (sau cùng được cho là của người Phụ nữ) với những nhịp hít vào (halètements), thở ra (effusions), thay đổi nhịp thở và cuối cùng là thế đứng thẳng của Người Đàn. Thế đứng thẳng này của Người Đàn ông là hình tượng cho biết trước những lời khẳng định bình thản, có sức tiên đoán, nghiêm trang. Sự hiển hiển nhiên này trong bài thơ tạo được thế cân bằng cho những câu thơ cũng như tạo ra sự bão hòa về thanh âm (saturation phonique) của mỗi câu thơ, khiến mỗi câu thơ có một đời sống tự trị. Bên kia là sức căng tạo nhịp điệu và cú pháp xen kẽ trong cách dùng những tiếng (từ vựng) cả cụ thể lẫn biểu tượng để làm “khuôn mặt” hiện ra.

Ngược với chính điều Char cho biết “J’ai, de naissance, la respiration agressive/Từ khi chào đời, tôi có hơi thở hung hăng” hơi thở trong bài thơ không những không hung hãn mà lại dọn chỗ cho tình yêu. Trong mỗi khổ thơ (J-C. Mathieu chia bài thơ ra 10 khổ) “kim tự tháp của bài ca” (pyramide du chant) lộn ngược đi từ đỉnh với những câu thơ khổ lớn khởi đầu và xuống đáy với những câu thơ khổ hẹp ở phần cuối chỉ ra hành động từ chối trợ giúp: “l’assistance de ma largeur vénielle/việc trợ giúp của việc giao cấu rộng lớn hơn của tôi”. Khổ thơ đầu bày ra một biểu đồ hình dạng và nhịp điệu mẫu và được biến thiên ở những khổ thơ tiếp theo. Cấu trúc từ  đỉnh xuống đáy này cho phép cả thi sĩ lẫn người đọc bài thơ có thể lấy hơi thở lại. Việc chốt gọn những câu thơ song song và có trương độ là cấu trúc dẫn dắt tới những điểm lấp lánh sáng của một tình yêu làm cho hiện tại cô đọng lại, Những câu thơ ở thể ra lệnh (impératifs) được đổi sang thể chỉ định hiện tại (indicatifs présents) hướng tiêu điểm tới nhân vật xưng “tôi”. Jean-Claude Mathieu nhận xét có biến thái đường đi của mỗi khổ thơ,

À présent disparais, mon escorte, debout dans la distance

La douceur du nombre vient de se détruire.

Congé à vous, mes alliés, mes violents, mes indices.

Tout vous entraîne, tristesse obséquieuse.

J’aime.

 

biến thái thành:

 

“Atteint, sain de clarté” (khổ III),

“J’évoque la nage sur l’ombre de sa présence” (khổ III),

“De voix vitreuses, de départs lapidés” (khổ IV),

“Au passé les micas du deuil sur ton visage”(khổ VI)

“La simplicité fidèle s’étendit partout” (khổ VII)

“Je touche le fond d’un retour compact” (khổ IX)

“Sens s’éveiller l’obscure plantation” (khổ X)

 

Trong đường đi của những khổ thơ cũng có sự kết chùm (constellation) những người hảo tâm (bienveillants), những kẻ đồng hành...Những chùm này nổi lên trong những khô thơ đầu rồi sau đó bị loại bỏ và cuối cùng dẫn tới một sự thân thiết. “Những biếu trưng và những phúng dụ nhường chỗ cho cảm giác, vào lúc sắp xảy ra một giao tiếp, một khổ thơ kết thúc trên đó: “Atteint, sain de clarté” (khổ III), “J’évoque la nage sur l’ombre de sa présence” (khổ III), “La simplicité fidèle s’étendit partout” (khổ VII), “Je touche le fond d’un retour compact” (khổ IX), và sau hết “Sens s’éveiller l’obscure plantation” (khổ IX).

Suốt dọc những câu thơ có những bước kế tiếp nhau đánh dấu sự lọc bỏ (dessaisissements) lần lượt nói lên sự nhấn mạnh của cử chỉ như “À présent disparais...”, “Congé à vous...”, “Tout vous entraîne...”, “J’abat les vestiges...”, “je renonce à l’assistance...”, v.v...Trong những câu thơ này có những đong đưa ngữ nghĩa (rédondances sémantiques) và hơn thế nữa, có hiệu ứng của nhịp điệu do việc nhấn giọng nhiều/mạnh hay ít/yếu ở từ nào hay phần của từ nào trong câu thơ, Chẳng hạn với câu thơ “Tout vous entraîne, tris-tesse obséquieuse” Jean-Claude Mathieu qui định việc nhấn giọng ở từ hay phần của từ có gạch dưới.  Tuy việc nhấn giọng là một nỗ lực tự ý nhưng không nên quá đáng. Nhưng dù sao bài thơ vẫn gây ra sự khó khăn không ít cho người đọc không có kiến thức ngữ âm học. Chính vì vậy thơ của Char thường bị coi là khó.

Ngoài những phân tích ngữ âm chỉ cách nhấn giọng khi đọc bài thơ Visage nuptial này Jean-Claude Mathieu cũng còn làm công việc ngắt câu thơ của Char. Những chỗ ngắt cũng tương ứng với chỗ nhấn giọng. Chẳng hạn ngắt/nghỉ câu thơ làm theo thể alexandrin ra làm hai hay làm ba phần như :”Sur un destin présent/j’ai mené mes franchises”, “Voici le sable mort/voici le corps sauvé”, Assez baisé/le crin nubile/des céréales”, “Au passé/les micas du deuil/sur ton visage”; câu thơ làm theo thể alexandrin cũng được tách rời bằng một biến thể mô tả lời gọi hay lời than (vocatif) đặt trên sự đối xứng thăng bằng như “Nativité/guidez les insoumis/ qu’ils découvrent leur base”; câu thơ tám âm tiết (octosyllables) hay mười âm tiết (décasyllables) như “Je touche le fond d’un retour compact”, “Ruisseax, neumes des morts anfactueux” “Nulle farouche survivante” “Vous qui suivez le ciel aride”; Char cũng thường hay gộp những cấu trúc nhịp đôi (mètres pairs) để tạo một đoạn thơ ngắn (verset) đầy đặn hơn gợi ra sự rơi xuống, sụp đổ (chute) hay mở rộng (élargissement) câu thơ, chẳng hạn “Je cours au terme de mon cintre/colisée fossoyé” “Avec la paille en fleur/au bord du ciel criant mon nom.” Ngoài ra cũng cần nhận ra sự tài tình của Char trong “trò chơi âm sắc” (jeu de sonorité) nhằm củng cố và gợi mở ý nghĩa hướng về việc tạo cho khổ thơ hay câu thơ đứng độc lập bằng những âm vị chủ vị (phonèmes dominants)  trong khổ thơ như trong khổ IX: précocecintre – crin – cardeuse – opiniâtre – havre des simulacres; trong khổ I Char khai thác sự bùng mở mẫu tự “d” và “t”: disparais – debout dans la distance la douceur – se truire – tout vous entraîne tristesse; tạo lập những câu thơ bắt chéo giao thoa (chiasme) khiến những tiếng vang âm thanh khép lại hay cân bằng ý nghĩa: đi từ “voûte” sang “ventre” theo sự uốn lượn nguyên âm (modulation vocalique): “O voute d’effusion de son ventre” hay đi từ “horizon” sang “rosée” như “L’horizon des routes jusqu’à l’afflux de rosée”, từ “voici” sang “sauvé”: “Voici le sable mort, voici le corps sauvé”. Trò chơi âm sắc không những làm ý nghĩa cô đọng và tăng cường độ mà còn mở rộng không gian vũ trụ và thành nói lên được.

Trước Jean-Claude Mathieu trong quyển Presence of René Char Mary Ann Caws cũng dã đưa ra luận giải tính chất đa nghĩa và nhịp điệu của ngôn ngữ thi ca René Char. Về nhịp điệu Mary Ann Caws cho rằng nhịp điệu thơ của Char thay đổi hơn phần lớn các thi sĩ đương thời như Max Jacob và André de Bouchet theo  cách riêng của Char: nhanh trong chậm và ngược lại.[303] Về tính chất đa nghĩa Mary ann Caws cho rằng vì ngôn từ thơ René Char đa nghĩa nên có lẽ cách đọc thơ Char thích đáng tuơng tự như việc đào xới đất. Phải đào xới nhưng những gì gặt hái được  không đem lại ích lợi như người ta tưởng vì sản phẩm vụ mùa thường cho thấy có hậu quả của chất độc. Chính vi vậy thơ của Char luôn luôn làm người đọc gặp khó khăn. Bản văn của Char có cả mặt tối lẫn mặt sáng như ánh chớp chỉ lòe lên chốc lát rồi tắt ngấm: “Tuy nhiên, hình ảnh tương phản của “con én lần lượt” [hiện ra] gợi ra sự tái xuất hiện của tia sáng lóe lên, có liên hệ tới đường bay của sao băng, đồng thời cũng là một hình xoắn ốc hình dạng của nó kết hợp với, như vừa là “cánh” vừa là “vòng cung” về mặt âm thanh được cho vào trong từ “chim én”. Một trong những đảo ngôn từ được nhập vào trong quần đảo được dành tặng con rắn (trong bài Chúc sức khỏe rắn) như câu nói “Trong đường bay lượn của con chim én một cơn giông báo hiệu, một khu vườn thành hình.”[304] Ngoài ra, căn cứ trên câu nói của Char “Chaque poème s’accompagne de sa marge confidente/Mỗi bài thơ đi cùng cái lề tin cậy của nó.”(Arrière-Histoire du poème pulvérisé) Mary Ann Caws cho rằng cái ở ngoài lề bài thơ soi sáng hay tự soi sáng dù cho nó chỉ thoáng hiện. Trong Presence of René Char Mary Ann Caws cũng đưa ra những phân tích sắc xảo về nghệ thuật tỉnh lược, nén từ (compression), di dời (displacement) và đảo nghịch (reversal) của Char, tính chất đa bội (multiplicity), đa giá (plurivalence) về mặt ngữ nghĩa (semantic), cú pháp (syntactic), sự trao đổi vai trò giữa danh từ và tính từ, sự gợi ý từ danh từ này sang danh từ khác như (La rose → [l’arrose → eau] → fronts évaporés)...

Trở lại với bài Visage nuptial: sự hiện diện của khuôn mặt theo Jean-Claude Mathieu cũng tạo ra sức căng kép (double tension) trong bài thơ: khuôn mặt vừa ở trong cái khả kiến (le visible) nhưng lại không hoàn toàn có thể thu giảm về cái khả kiến mà lại đế nói về sự lên ngôi (avènement), về một cái ở cõi ngoài (d’un en deçà) hay một cái “tân hôn mai hậu” (un au-delà nuptial). “Những xác định của khuôn mặt luôn luôn dành cho phần bất kiến này – “tính chất hoàng gia không nhìn thấy được của em” (Khuôn mặt tân hôn) – bằng sự vươn cao về nguyên ủy, nguồn gốc – (“khuôn mặt suối nguồn của em), tính bất kiến (“Khuôn mặt này – chẳng ai bao giờ thấy cả”), cử chỉ dấu khuôn mặt (“Khuôn mặt nửa che dấu bởi cánh tay gấp lại của em”). Ở bờ khuôn mặt, thế giới cảm thụ thức giấc, kêu lên một cái tên, tắm gội sự ham muốn trong sương mù: “...Avec la paille en fleur au bord du ciel criant ton nom” “...Et des lèvres du brouillard descendit notre plaisir...”[305] Khuôn mặt cũng là cát sinh động (sable vivant), tất cả những thứ nằm giữa khuôn mặt và quang cảnh (paysage)  bị xóa đi, vì giữa khuôn mặt và quang cảnh không có một khoảng cách nào cả. Thế nhưng khuôn mặt cũng khơi động sự sống động của thế giới cụ thể như khi Char nói rằng “đường chân trời” của sự hiện diện khuôn mặt là một không gian liên ngã (espace interpersonnel) trên đường tới. Sức căng giữa một hiện tại cụ thể và một tương lai trừu tượng được Char dùng nhiều hình thức ẩn dụ để mô tả: ẩn dụ áp sát, chêm ghép (métaphores en apposition) trong đó hạn từ thứ nhì (second terme) dùng để ẩn dụ hóa thực tại “thi ca” của hạn từ thứ nhất (“Je ne verrai pas tes flancs, ces essaims de faim...), chuỗi ẩn dụ (métaphoses en série) trong đó một hạn từ ẩn dụ hóa hạn từ đứng trước trở thành bị ẩn dụ hóa bởi hạn từ tiếp sau (“ceinture de vapeur, multitude assouplie, diviseurs de la crainte”) Char cũng thường dùng ẩn dụ theo cách cho vào câu thơ một động từ cụ thể để nói lên một cử chỉ, một thái độ có đối tượng là một bổ ngữ (complément) trừu tượng được xác định bởi một danh từ bổ ngữ (complément de nom) hay bởi một tính từ cụ thể: Thí dụ:

                   “Je bois                                    l’expedient      du gîte”

                   “J’entrave                                la primeur        des survies

                   “Mon souffle   {affleurait       l’amitié            de la blessure  

                                           {armait            ta royauté        inapparente”

                   “Tu rends fraîche                    la servitude      qui se dévore le dos”

 

Như vậy hành vi của chủ thể/ từ (sujet) được áp dụng cho cái bất kiến, bất hiện, “cái tân hôn mai hậu” đứng trước mặt chủ thể/từ, không kết nối với sự vững bền của sự vật mà với diên/trở thành của sự vật. Bằng cùng cách này Char trong tập Fureur et Mystère đã cho loại ẩn dụ khởi từ sự lên ngôi của khuốn mặt vừa hiện diện vừa vắng mặt, vừa gần vừa xa kết cục có một ý nghĩa mới như trong bức thư gửi cho G.Lely Char viết: “Te voilà, à ton tour, au seuil du langage, ce résultat, cette conséquence, ce marais-salant du visage.”

_________________________________

[301] Thư viết ngày 28 tháng 8, 1938 gửi G. Lely: Je travaille à un long poème, peu émondable, sorte de monologue de mis au point d’amants. Titre (provisoire): LA FEMME RESPIRE, L’HOMME SE TIENT DEBOUT. On verra dans l’avenir.

[302] Sđd trang 82, ghi chú số 173: L’enchainement des signifiés, rendu inapparent par les ellipses et la mobilité des métaphores, devient très visible si on réduit le poème à cette armature de signification. D’une strophe à l’autre, un mot sert de tremplin, pour assurer le passage: le poids de l’escorte passée l’ ”entraine” (I), comme l’eau, “lourde” d’être à un jour de la source (II); la rougeur d’avenir au front de la femme, halo de “clarté” pour l’homme (II), l’enveloppe comme une “ceinture de vapeur” qui signale l’alchimie réussie (III); “l’ombre” de la femme (III) appelle un retour en arrière sur “l’aigre sommeil”, la “nuit” hostile qu’elle connaissait (IV); à l’opposé de ces “départs lapidés” (IV) le poète a pu tôt s’affranchir de ces “lésions inventives”, par la poésie (V); ces “franchises” acquises (V) l’ont conduit vers l’affranchissement présent de la femme qui met au passé le “deuil” (VI); du “visage” où s’est effacée le deuil (VI), il s’approche comme d’une “vitre inextinguible” (VII) etc. Cette simplification du poème à une seule de ses dimensions ne lui rend, bien évidemment, pas justice, mais permet d’apercevoir l’armature qui sous-tend les fulgurations de l’image.

[303] Mary Ann Caws, The Presence of René Char, Princeton University Press 1976 trang 46: Char’s poetry is more changeable in rhythm than that of most contemporary poets: it moves often with great interior rapidity, hurling past the logical stages like the formal equivalent of the expression “être du bond,” but occasionally, in a grave unhurried manner, suiting the poet’s conviction that the work should not be pushed “to advance more quickly than its own movement”; the poet is drawn to certain beings not yet fulfilled: “Those who inspire a tender compassion...bear within themselves a work they are in no hurry to deliver.”

[304] Sđd trang 15: Nevertheless, the contrasting image of the “successive swallow,” while it suggests the reappearing trace of this flash, related to the flight of the meteor, is at the same time a spiral whose form unites, as both the “aile” and the “rondelle” are phonetically enclosed within the “hirondelle.” One of the verbal islands included in the archipelago dedicated to the snake (“À la santé du serpent”) declares: “Dans la boucle de l’hirondelle un orage s’informe, un jadin se construit./Within the swallow’s swirling a storm makes its inquiries, a garden takes its shape.”

[305] Les déterminations du visage réserveront toujours cette part inapparente – “ta royauté inapparente” (Visage nuptial) –, par la remontée vers l’originaire (“ton visage de source”), l’invisibilité (“A ce visage – personne ne l’aperçut jamais”), le geste qui cache (“Le visage à demi masqué par ton bras replié”). Au bord du visage, le monde sensible s’éveille, criant un nom, baignant de brumes de plaisir: “...Avec la paille en fleur au bord du ciel criant ton nom” “...Et des lèvres du brouillard descendit notre plaisir...”

(còn tiếp)

đào trung đạo 

http://www.gio-o.com/DaoTrungDao.html 

© gio-o.com 2017