đào trung đạo

(104)

Kỳ 1, Kỳ 2, Kỳ 3, Kỳ 4, Kỳ 5, Kỳ 6, Kỳ 7, Kỳ 8, Kỳ 9, Kỳ 10, Kỳ 11, Kỳ 12, Kỳ 13, Kỳ 14, Kỳ 15, Kỳ 16, Kỳ 17, Kỳ 18, Kỳ 19, Kỳ 20, Kỳ 21, Kỳ 22, Kỳ 23, Kỳ 24, Kỳ 25, Kỳ 26, Kỳ 27, Kỳ 28, Kỳ 29, Kỳ 30, Kỳ 31, Kỳ 32, Kỳ 33, Kỳ 34, Kỳ 35, Kỳ 36, Kỳ 37, Kỳ 38, Kỳ 39, Kỳ 40, Kỳ 41, Kỳ 42, Kỳ 43, Kỳ 44, Kỳ 45, Kỳ 46, Kỳ 47, Kỳ 48, Kỳ 49, Kỳ 50, Kỳ 51, Kỳ 52, Kỳ 53, Kỳ 54, Kỳ 55, Kỳ 56, Kỳ 57, Kỳ 58, Kỳ 59, Kỳ 60, Kỳ 61, Kỳ 62, Kỳ 63, Kỳ 64, Kỳ 65, Kỳ 66, Kỳ 67, Kỳ 68, Kỳ 68,Kỳ 66, Kỳ 69, Kỳ 70, Kỳ 71, Kỳ 72, Kỳ 73, Kỳ 74, Kỳ 75, Kỳ 76, Kỳ 77, Kỳ 78, Kỳ 79, Kỳ 80, Kỳ 81, Kỳ 82, Kỳ 83, Kỳ 84, Kỳ 85, Kỳ 86, Kỳ 87, Kỳ 88, Kỳ 89, Kỳ 90, Kỳ 91, Kỳ 92, Kỳ 93, Kỳ 94, Kỳ 95, Kỳ 96, Kỳ 97, Kỳ 98, Kỳ 99, Kỳ 100, Kỳ 101, Kỳ 102, Kỳ 103, Kỳ 104,

GIUSEPPE UNGARETTI

Chương II

Thi pháp và Thi ca của Ungaretti

La Terra promessa/Đất Hứa (1935-1953) mở đầu một giai đoạn thi pháp mới của Ungaretti. Như chính Ungaretti viết về tập thơ này: “Ý tưởng đầu tiên về Đất Hứa – như người  ta còn nhớ  – , tôi đã có ý tưởng này vào năm 1935, ngay sau khi viết bài thơ Những ước muốn cho chính ngày sinh nhật của tôi người ta có thể đọc trong tập Thời Cảm...Rồi vào năm 1942, khi Mondadori bắt đầu cho xuất bản tất cả tác phẩm của tôi, Đất Hứa được loan báo trong một tờ ghép vào giữa sách dưới nhan đề Trước Mùa Sau Cùng. Đó là mùa thu tôi nghe trong thơ của tôi ca hát, một mùa thu đến sớm, từ đó dứt khoát tách rời ra dấu vết cuối cùng của tuổi trẻ, của tuổi trẻ trần gian, của sự thèm khát xác thịt cuối cùng.”[37]  Joseph Cary thuật lại việc Ungaretti khởi đầu viết Đất Hứa chi tiết hơn: Năm 1948, là năm sau khi Il dolore được xuất  bản, Ungaretti cho tạp chí Alfabeto đăng một chuỗi bài tứ tuyệt và có kèm theo một ghi chú cho biết những bài thơ này được thai nghén vào năm 1935 ngay sau viết xong bài “Auguri” nhưng sau đó Ungaretti đã không thể nào viết được thêm gì nữa trong suốt thời gian sống ở Brezil. Cùng với chuỗi tứ tuyệt này của Ungaretti là bài khảo luận của nhà phê bình Leone Piccioni – người được Ungaretti cho xem bản thảo ban đầu của chuỗi tứ tuyệt và những bài biến thể – vạch rõ tiến trình Ungaretti viết chuỗi tứ tuyệt này không được kết thúc cũng như đưa ra những phương pháp Ungaretti viết chúng. Bài viết của Piccioni tạo hứng khởi cho Ungaretti viết tiếp và kết quả là bài Canzone (Bài ca kiểu Ý) mở đầu cho tập Đất Hứa được xuất bản hai năm sau đó.[38]  Đất Hứa gồm bảy bài thơ: Canzone, Của Một Người Đã chết..., Hợp xướng của Dido[n], Thoại ca của Palinurus, Biến khúc về Không, Niềm Bí ẩn của Thi sĩ, và Bài Kết. Tuy lấy hứng từ trường thi Aeneid của Virgil nhưng Ungaretti như lời trích dẫn ở trên mục đích của Ungaretti là ngợi ca mùa Thu thời trẻ tuổi của mình, nói về sự vững bền của linh hồn ngược lại với sự phôi pha của những giấc mơ, suy tưởng về cái chết qua việc làm sống lại những thần thoại nhằm đào sâu tâm hồn con người từ khổ đau và kinh nghiệm. Nhưng những suy tưởng về cái chết, về sự phù du của niềm vui này khởi từ những yếu tố tinh thần chứ không từ cảm tính như trong những tập thơ trước. Ngoài ra Ungaretti cũng nói về hoàn cảnh của thi sĩ hôm nay trong việc nhận thức sinh phần của mình: “Thi sĩ cư ngụ trong một sự thân thuộc với cái chết mà đời sống của hắn giống như một sự đắm tàu hoài hủy...Bất kể đối tượng nào hắn nhìn đều phản ánh toàn thể đời sống của hắn.”[39]

Theo Joseph Caryv bài thơ mở Canzone mở đầu Đất Hứa lúc đầu được Ungaretti đặt tựa đề là Palinuro. Trong một ghi chú trong Đất Hứa Ungaretti coi Palinurus là kẻ “điên cuồng cam quyết đạt tới một nơi chốn hài hòa, hạnh phúc, an bình: một paese innocente/xứ sở hồn nhiên như tôi đã từng nói.” Điều đáng ngạc nhiên là Ungaretti lại không lấy Palinurus là nhân vật trung tâm cho tập Đất Hứa mà lại lấy nhân vật trung tâm là Aeneras. Có lẽ vì nhân vật này tượng trưng cho sự hướng nội của Ungaretti.

Đất Hứa ban đầu được Ungaretti quan niệm như một melodrama nên có bài Hợp xướng Cori descritiiivi di stati d’Animo di Didone/Hợp xướng mô tả trạng thái tinh thần của Didothoại ca (recitativo) của Palinurus. Một chỉ dấu khác là Ungaretti lần đầu sử dụng lối vần-kết (end-rhyme) trong hai phần chính mở đầu bài Canzone vốn là sự khai triển những bài tứ tuyệt đã nói ở trên và Recitativo được viết theo thể sestina (câu sáu vần, bài thơ gồm sáu khổ) kiểu Petrarch. Như Ungaretti trình bày với Leone Piccioni Đất Hứa được dàn dựng như sau: bắt đầu bằng cành Aeneas dừng thuyền ở Cumea là vùng đất các thần linh đã hứa hẹn chàng. Nhưng ngay khi đó  những ký ức quá khứ trở về ám ảnh Aeneas. Sự kiện này ứng với việc thăm viếng kẻ đã chết khi Aeneas đi xuống địa ngục ở hồ Avernus kế bên Cumea, hồi ức về thành Carthage (nơi người yêu Dido tự sát). Sau đó những hồi ức quá khứ của Aeneas nhường chỗ cho những bài hợp xướng mô tả sự cô đơn và nỗi đam mê của Dido và việc tưởng nhớ Palinurus. Linh hồn những đứa trẻ đã chết được thương tiếc trong bài điếu ca Marcellus (đứa con nuôi của hoàng đế Augustus). Theo Joseph Cary ngày nay tuy không còn bản thảo đầu tiên của tác phẩm như dự định của Ungaretti nhưng còn lưu lại trong Đất Hứa 19 đoạn hợp xướng mô tả trạng thái tinh thần của Dido và những bài sestina về Palinurus chứng tỏ Ungaretti không hẳn đã hoàn toàn bỏ kịch bản dự phóng đầy tham vọng ban đầu.[40]



[37]  Giuseppe Ungaretti, Vie d’un homme (1935-1953) , Những Ghi chú, bản Pháp văn Philippe Jaccottet trang 333: La première idée de la Terre promise – on l’a appelé – , je l’ai eu en 1935 après les Vœux pour mon propre anniversaire qu’on peut lire dans Sentiment du temps...En 1942 encore, quand Mondadori commença la publication de toute mon œuvre, La Terre promise était annoncé dans le prière d’inserer sous le titre d’Avant-derniere saison. C’était l’automne que j’entendais chanter dans mon poème, un automne avancé d’où se detache pour toujours le dernier signe de la jeunesse, de la jeunesse terrestre, le dernier appetit charnel.

[38] Joseph Cary, Sđd trang 215.

[39] Trích dẫn theo Yvonne Caroutch trong Ungaretti, nxb Seghers trang 30-31.

[40] Sđd trang 216-217

___________________________________________

THƠ  UNGARETTI trong ĐẤT HỨA

CANZONE

Mô tả trạng thái tinh thần của thi sĩ

Phơi trần, những cánh tay ngập sâu trong bí mật đã

Làm lộ lòng con sông Let[h]e khi bơi,

Chậm rãi thả ra những vẻ duyên dáng sôi nổi

Và sự mỏi mệt thắp sáng thế giới.

 

Không có gì tĩnh lặng hơn con đường lạ kỳ này

Nơi không có chiếc lá nào nảy sinh hay rụng hay mùa đông,

Nơi chẳng có gì là khổ đau hay vui sướng,

Nơi thức giấc không luân lưu với giấc ngủ.

 

Rồi tất cả hiện ra, giữa những trong vắt

Trong giờ tin cậy, khi, sự tĩnh lặng

Mỏi mệt, từ những hình dáng tái sinh của cây cối

Lại giăng ra như kích thước của mọi điểm tới

Và hao mòn thành tiếng vang của cầu vồng, tình yêu

Ngạc nhiên dâng lên từ bờ sông lộng gió

Run rẩy khi biến bông hồng thành bóng tối, và trong màu sắc này,

Biến giấc ngủ thành một dây cung căng thẳng hơn mọi đời sống.

 

Chúng ta, được gửi tới sức hút tinh nhuệ

Của nhũng bức tường, kẻ kế thừa thời gian suốt đời,

Luôn bị ngăn cách với hình ảnh nguyên ủy

Chớp nhoáng, có thể đập vỡ băng, tái chinh phục.

 

Thực hơn, công bình hơn khi bay –  mục tiêu ám ảnh

Hơn khi nó chạm vào sự bình lặng trần trụi và rùng mình –

Khi trở thành ý tưởng thuần túy, như mầm mống của sự cuồng nộ

Đối nghịch với hư vô – trong nhục dục thoáng chốc.

 

Hình ảnh nguyên ủy có thể tiên đoán những bến bờ, nâng cao những cây cọ,

Khi nó thở dài, phô bày những ngón tay khéo léo.

 

Dù nó sắp xếp những khoảnh khắc bằng lưỡi hái tàn bạo,

Tiêu hủy, giam cầm, bằng lưỡi hái mờ ảo,

Và làm cho tinh thần chúng ta tan hoang bằng lưỡi hái điếc

Tôi cũng không rời mắt khỏi nó, không bao giờ,

Dù cho, kinh hoàng giữa vực thẳm không che phủ,

Chúng ta nhận ra hình thái duy nhất là danh vọng.

 

Và nếu như, vẫn hăng say vì những cuộc phiêu lưu mới,

Những khoảnh khắc từ chán nản sang ham muốn quay trở lại,

Tôi băng qua những bức tường chạy suốt của Ithaca,

Vào lúc hóa thân cuối cùng của bình minh,

Tôi biết, giờ đây tôi biết rằng vào giờ đó

Câu chuyện đời người như thể phải nát tan.

 

Giờ đây không có gì mới mẻ hơn con đường này

Nơi không gian chẳng bao giờ hẹp hòi với ánh sáng

Hay với bóng tối, hay với mai sau.

 

(còn tiếp)

đào trung đạo