đào trung đạo

thi sĩ / thi ca

(60)

 

Kỳ 1, Kỳ 2, Kỳ 3, Kỳ 4, Kỳ 5, Kỳ 6, Kỳ 7, Kỳ 8, Kỳ 9, Kỳ 10, Kỳ 11, Kỳ 12, Kỳ 13, Kỳ 14, Kỳ 15, Kỳ 16, Kỳ 17, Kỳ 18, Kỳ 19, Kỳ 20, Kỳ 21, Kỳ 22, Kỳ 23, Kỳ 24, Kỳ 25, Kỳ 26, Kỳ 27, Kỳ 28, Kỳ 29, Kỳ 30, Kỳ 31, Kỳ 32, Kỳ 33, Kỳ 34, Kỳ 35, Kỳ 36, Kỳ 37, Kỳ 38, Kỳ 39, Kỳ 40, Kỳ 41, Kỳ 42, Kỳ 43, Kỳ 44, Kỳ 45, Kỳ 46, Kỳ 47, Kỳ 48, Kỳ 49, Kỳ 50, Kỳ 51, Kỳ 52, Kỳ 53, Kỳ 54, Kỳ 55, Kỳ 56, Kỳ 57, Kỳ 58, Kỳ 59, Kỳ 60,

 

RENÉ CHAR

“Tôi viết ngắn gọn”: chủ trương viết hàm xúc (laconisme) như bút tự của Char trên bản in lần đầu tập Feuillets d’Hypnos tặng Yvonne Zervos như Jean-Claude Mathieu đọc được. Ngắn gọn hầu như một tiêu chí kỷ luật trong hành động – kể cả việc ghi chú – của kháng chiến quân, ngay chính với Đại úy Alexandre thủ lănh. Trong frag.31 René Char nói rơ hơn: “Tôi viết một cách ngắn gọn. Tôi khó có thể vắng mặt lâu được. Khoe khoang dẫn tới ám ảnh. Sự ngưỡng mộ của những kẻ chăn cừu không ích ǵ cho hành tinh.” Ngay những đoạn rời khá dài như khi nói về tiếp nhận trong đêm tối những dù thả xuống, vụ làng Céreste bị vây bủa, vụ xử tử Roger Bernard chúng ta cũng nhận ra sự kiện được kể lại bằng giọng điệu nhanh gọn chẳng hạn “Ne t’attarde pas à l’ornière des resultants/Đừng có khề khà nơi vết hằn của những kết quả.” (frag.2), “L’ennemi nous l’évitâme de justesse. L’aurore nous surprit plus tôt que lui/Chúng tôi t́m cách tránh né kẻ thù. Rạng đông đến với chúng tôi sớm hơn là với kẻ thù.”(frag 53), “…Les pilotes […] pressent un feu bref sous l’aisselle de l’appareil pour averter que c’est fini./…Những viên phi công […] phát ra một tia lửa ngắn ngủi phía dưới họng máy bay để ra hiệu rằng mọi việc đă xong.”(frag 97), “…ne pas t’attarder sur les lieux de vos rapports/…đừng có mất th́ giờ  về những mối liên hệ của chúng ta (frag.233)

 

Theo Jean-Claude Mathieu chúng ta có thể phân biệt trong Feuileets d’Hypnos giữa “tăng tốc” (accélération) với “viết tắt” (abréviation) lời tuyên bố như một chỉ hiệu của tính chất lịch sử vốn là một h́nh thức của thi tính (poéticité) thiết yếu. Tăng tốc có thể nhận ra trong những thu gọn bất chợt, trong việc nối kết những hạn từ chỉ sự vội vă khi ngữ nghĩa cách xa nhau, triển hạn hay để dành ư nghĩa bằng cách ngầm hiểu những mối liên hệ nối kết hai phát biểu liên tục. Việc đi đường tắt thật mau lẹ này tạo thành một sự tối tăm tỏa sáng (obscurité rayonnante). C̣n viết tắt cốt để báo hiệu một hoàn cảnh lịch sử bằng cách dùng những tỉnh lược (ellipses) để làm tăng độ đậm đặc (densité) thông tin bằng cách thu hẹp trương độ. Mức ngắn gọn hơn cả là cách viết kiểu điện tín như “…Stoppez vantardise. Vérifiez à deux sources corps renseignements. Tenez compte cinquante pourcent romanesque dans la plupart des cas/Chấm dứt ca ngợi. Kiểm chứng thông tin bằng hai nguồn. Hăy coi chừng trong đa số trường hợp có năm mươi phần trăm hư cấu.” Trong trường hợp cấp bách lời phát biểu được lược bỏ những từ thường dùng và chỉ giữ những từ cốt yếu mang những chỉ dẫn. “Tỉnh lược, vội vă hay im lặng là bắt buộc bởi sự chiến đấu đóng vai tṛ quan trọng trong Feuillets d’Hypnos, trong khi, ngược lại, lời làm cho rơ  gắn kết với hành động này hầu như hoàn toàn không để cho có sự tối tăm trong những chỗ đột nhiên cô đọng.”[117]  Jean-Claude Mathieu thấy René Char dùng những h́nh thức tỉnh lược chính như: bỏ hệ từ (copule) “L’intelligence avec l’ange, notre primordial souci/Thông giao với thiên thần, lo lắng đầu nhất của chúng ta”(frag.16), bỏ chủ từ “Connaît le sang, ignore le célest/Nhận ra máu, phớt lờ trời đất” (frag.16), dùng những tính từ không có hệ từ hay chủ từ “Solitaire et multiple. Veille et sommeil…/Đơn độc và cáp số. Thức và ngủ” (frag.74), bỏ hẳn động từ “L’Esprit, de long en large, comme cet insect/Tinh thần, cả dài lẫn rộng, như côn trùng này”, bỏ qui chiếu về đại danh từ “L’arracher à sa terre d’origine. Le replanter…/Bứng hắn khỏi bản quán. Trồng hắn lại…”(frag.51). Những thí dụ trên cho thấy hậu quả nền tảng của hàm xúc tuy không thấy rơ ngay nhưng liên tục hơn tỉnh lược khi tỉnh lược được dùng để nói lên tính cấp bách của hoàn cảnh. “Bản văn tỉnh lược nói và không nói, chỉ ra và chỉ ra nó không nói. Những chú giải hiện ra ở đó như những tiền lược trong một thực tại được kiểm nhận, có đấy nhưng vẫn được dấu kín hầu như khắp nơi … Bản văn tỉnh lược tuy chỉ định một văn cảnh nhưng đồng thời nó lại bỏ trốn khỏi văn cảnh này, để chỉ giữ lại cái thiết yếu; nó chứa đầy cái hiểu ngầm, kết tập một cách chính xác một mạng những qui chiếu về hoàn cảnh, hoàn cảnh lịch sử và hoàn cảnh riêng biệt của việc tuyên bố, trong khi vẫn không nói ra những giả định này. Ở một đầu, người ta gặp trong Feuillets d’Hypnos một số những lời lẽ, những lời này vượt qua văn cảnh một cách nhất quyết và thiết định trong cái phổ quát, hoàn toàn che lấp hoàn cảnh từ đó chúng xuất phát: “Một phán đoán dấn thân không luôn luôn kiên cố”(frag.226); ở đầu kia, một số truyện kể hay chân dung, hay những suy nghĩ được khai triển, những tiểu vũ trụ tự lập chứa đựng mọi thông tin để định vị việc phát biểu của chúng. Ở giữa hai thái cực này có một số lớn những ghi chú đạt ra và giả thiết, mở ra một văn cảnh để rồi ngay sau đó khép văn cảnh này lại.”[118] Vượt qua văn cảnh: “Les chiens enragés sont beaux/Những con chó điên đẹp,” nhưng rồi ta lại thấy: “Léon affirme que  les chiens enragés sont beaux. Je le crois./Léon khẳng định những con chó điên là đẹp. Tôi tin hắn.”(frag.27) Ta thấy đây là một đối thoại không những là chuyện vặt vănh, giai thoại mà c̣n có tính chất biểu trưng.Thường hoàn cảnh xảy ra câu nói, lời phát biểu không được chỉ rơ nên cách nói tỉnh lược có tinh chất đánh lừa, trong hoàn cảnh có sự chủ động nín thinh đúng lúc. Phép tỉnh lược tạo cảm giác xuôi chảy trên toàn bộ việc tuyên bố ở điểm ngừng lại cố ư. Sau những khúc ngưng lại chuyển động của bài thơ mở ra trên một nghi vấn hay một dự cảm, tiên cảm (pressentiment) về hành động sắp tới, tạm thời chưa thực hiện.

Từ sự hiển nhiên tới sự thực: việc phân cực những phát biểu: Tất nhiên ghi chú luôn mong ghi nhận, lột tả được sự hiển nhiên, chẳng hạn khi mô tả một mẩu kỷ niệm, một thoáng ư tưởng hiện ra, hay một cảm giác. Thế nhưng văn tự lại không thể cân xứng với “sự hiển nhiên” (évidence), văn tự không thể hoàn toàn nói hết được sự hiển nhiên. Như vậy giữa hiển nhiên và văn tự có một độ chênh. Làm thế nào để giải quyết vấn nạn này? Jean-Claude Mathieu đưa ra diễn giải: Viết, văn tự có nghĩa đi từ sự chớp sáng (fulguration) sang ư nghĩa, tạo ra sự thực có thể truyền đạt được, để kiểm chứng sự “hiển nhiên” như René Char tŕnh bày trong frag.194: “Je me fais violence pour conserver, malgré mon humeur, ma voix d’encre […] Nécessité de controller l’évidence, de la faire créature/Tôi tự ép ḿnh, bất kể tính khí của tôi, để duy tŕ tiếng nói của tôi trong mực viết. […] Điều thiết yếu là phải kiểm soát sự hiển nhiên, biến sự hiển nhiên thành cái được sáng tạo.” Như chúng ta biết, sự hiển nhiên là sự trao đổi giữa một thế giới với chủ thể quan sát. Sự hiển nhiên mang theo nó sự chắc thực có tính vật chất (certitude matérielle) vào cuộc chiến đấu nơi “những sự thực/chân lư h́nh thức” giả dạng và thích ứng trong “những sự thực/chân lư giết người thành những chân lư cho phép giết người.”(frag.37). Trong Note sur le maquis/Ghi chú về mật khu René Char nói rơ hơn: “Sự hiển nhiên không phải là cảm giác nhưng là cái nh́n mà chúng ta gặp khi đi ngang qua, nó thường vừa tŕnh ra với chúng ta, vừa nửa ẩn dấu,”[119]  và trong bài La liberté passe en trombe: “Sự huyền diệu của ư thức, của cái cảm giác về sự hiển nhiên này, nó, theo Claude Bernard, có tên là sự thực.”[120]  Sự hiển nhiên có tính chất đơn giản không thể phủ nhận. Thế nhưng, dù cảm giác về sự hiển nhiên là không thể phân chia và chớp loáng, khi chuyển vào văn tự lại được nhân bội biến thành cái được sáng tạo. Những văn tự của ghi chú trong Feuillets d’Hypnos cố gắng làm sao để có ư nghĩa nên khá mỏng manh: “Aussi, est-ce d’une plume à bec de belier, sans cesse éteinte, sans cess rallumée, ramassée, tendue et d’une haleine, que j’écris ceci, que j’oublie cela/Cũng vậy, có phải với một cây bút ng̣i lông trừu, không ngừng tắt ngấm, không ngừng được thắp lại, thu lượm, căng ra và một hơi tôi viết cái này, tôi quên cái kia.”(frag.194). Theo Jean-Claude Mathieu việc rút tỉa biến cố ra có ư nghĩa là sự biến đổi thách đố thành kinh nghiệm ngầm chứa việc tạo một tương quan. “Ghi chú được viết ra chẳng bao giờ đơn giản cả, nó gồm ít nhất đôi ba yếu tố – hay nhiều yếu tố – được đặt căng nhau. Phát biểu soi rọi cái có thực trong khi phân cực những sức mạnh sản sinh ra nó; những khác biệt hầu như luôn được nâng lên thành đối nghịch ở đó, và ư nghĩa nằm ở việc nhận ra những tương quan hiện hữu giữa hai hạn từ. Một tương quan không được chờ đợi, nghi vấn hay nghịch lư, chúng làm cho phát biểu không c̣n là sự ghi nhận cái xảy đến, nhưng là “tri thức sản xuất.”[121] Không khó nhận ra diễn giải này của Jean-Claude Mathieu chịu ảnh hưởng Giles Deleuze.

Để minh họa cho diễn giải của ḿnh Jean-Claude Mathieu cho rằng trong bản văn Feuillets d’Hypnos có cấu trúc hệ biến hóa (structure paradigmatique), cấu trúc này khi th́ có thể thấy được khi th́ tiềm ẩn như nơi những cặp từ đối nghịch: le but/au-delà (mục tiêu/ra bên ngoài) “[…] pour le but à atteindre, mais pas au-delà” (frag.1), la tactique/la conviction (chiến thuật/niềm tin) “Toute l’autorité, la tactique et l’ingéniosité ne remplacent pas une parcelle de conviction au service de la vérité” (frag.10), voler/se lover (frag.19), v.v…Cách đối nghịch các từ này thường thấy trong bản văn siêu thực cho phép vượt qua phản đề bằng cách đưa ra một nghịch đề như điều kiện của của một phản đề khác, chẳng hạn “nhắm mắt để mở mắt”, cái chỉ nghĩa (le signifiant) – nhiều khi tiềm ẩn – hoàn thành sự vượt qua đối nghịch khi trạng từ được nhấn mạnh (“fermer souverainement les yeux”) cho thấy sự chứa đựng mở trong khép. Cái chỉ nghĩa tiềm ẩn tưới tắm (irriguer), hoạt sinh (vivifier) và đẩy những đối nghịch ngữ nghĩa (contradictions sémantiques) ra khỏi chúng. Thí dụ: “ne se penche jamais sur lui-même/đừng bao giờ cúi đầu trên chính ḿnh” có nghĩa “thằng nhóc con” (le gamin) là đứa không bao giờ tự xét ḿnh, “les aiguilles “s’entredévorent” sur le cadran/những cái kim “nhai lẫn nhau” trên cái mặt đồng hồ,” tuy không trực tiếp nêu đích danh “răng” của thời gian khua hoài hủy nhưng ở chỗ khác Char cho rằng thời gian là “chiendent/răng chó”v.v…

Để trả lời câu hỏi “Diễn ngôn của những ghi chú với cấu trúc đối nghịch được dàn xếp một cách theo ngữ nghĩa như thế nào?” Jean-Claude Mathieu cho rằng, một cách vắn tắt, sức căng thiết lập giữa hai hạn từ (termes) tự chúng tạo thành một ghi chú như “Devoirs infernaux/Nhiệm vụ địa ngục” (frag.106), “Présent crénelé…/Hiện tại thủng lỗ…”, hai lời khẳng quyết định danh (assertions nominales) trái ngược được đặt kề nhau như “Pouvoirs passionnés et règles d’action/Sức mạnh đam mê và qui luật hành động”(frag.108), “Femme de punition. Femme de résurrection/Phụ nữ của trừng phạt. Phụ nữ của phục sinh”(frag.118), một tuyên bố vừa khẳng định vùa phủ nhận như “Épouse et n’épouse pas ta maison/Kết hôn và không kết hôn ngôi nhà của ngươi.”(frag.106), hay lời tuyên bố được đưa ra như sự xác định và phủ định điều trái ngược lại như “Être du bond. N’être pas du festin, son epilogue/Hăy là thành phần của nhảy. Đừng là thành phần của bữa tiệc, phần kết của nó.”(frag.197) v.v…Trong những cách thành lập này những hạn từ phản đề (termes antithétiques) được đặt đối diện nhau do diễn ngôn chỉ ra và nối kết những đối nghịch trong lời nói tiếp tục nhằm giải quyết những đối nghịch: hành vi của việc giải quyết này khiến những đối nghịch được sinh ra, hay trong việc định vị trí của người phát ngôn và tham dự vào những đối nghịch này.

__________________________________

[117] Sđd trang 252: L’ellipse, la hâte ou le silence imposés par le combat jouent das les Feuillets d’Hypnos un rôle important, alors que, à l’inverse, cette parole d’éluciation nouée à l’action renonce presque totalement à l’obscur des brusques condensations.

[118] Sđd trang 253: À un pôle, on rencontre dans les Feuillets d’Hypnos quelques maximes, qui, elles, se passent délibérément  de contexte et s’établissent dans l’universel, masquant totalement la circonstance dont elles sont issues: “Un jugement qui engage ne fortifie pas toujours” (226); à l’autre pôle, quelques récits, ou portraits, ou réflexions développées, microcosmes autonomes qui contiennent  toutes les informations pour situer leur énonciations. Entre ces deux extrêmes se tient le plus grand nombre de notes qui posent et présupposent, entrouvrent un context pour aussitôt le refermer.

[119] René Char, O.C. trang 645: L’évidence, qui n’est pas sensation mais regard que nous croisons au passage, s’offre souvent à nous, à demi dissimulée.

[120] Sđd trang 650: Miracle de la conscience, de cette sensation de l’évidence qui, selon Claude Bernard, a nom vérité. [Claude Bernard, Introduction à la médecine expérimentale, Première partie, II, 2]

[121] Jean-Claude Mathieu, La poésie de René Char, t.II trang 255: La note écrite n’est jamais simple, elle comporte au moins un couple d’éléments – ou plusieurs – mis en tension. L’énoncé élucide le réel en polarisant les forces qui le produisent; les différences y sont presque toujours élevées à la contradiction, et le sens réside dans l’aperception des relations qui qui existent entre les deux termes. Relation inattendue, problématique ou paradoxale, qui fait de l’énoncé non l’enregistrement de ce qui advient, mais sa “connaissance productive”.

(c̣n tiếp)

đào trung đạo

http://www.gio-o.com/DaoTrungDao.html

 

 

© gio-o.com 2017