ĐÀO TRUNG ĐẠO

(114) 

Edmond Jabès

Kỳ 1, Kỳ 2, Kỳ 3, Kỳ 4, Kỳ 5, Kỳ 6, Kỳ 7, Kỳ 8, Kỳ 9, Kỳ 10, Kỳ 11, Kỳ 12, Kỳ 13, Kỳ 14, Kỳ 15, Kỳ 16, Kỳ 17, Kỳ 18, Kỳ 19, Kỳ 20, Kỳ 21, Kỳ 22, Kỳ 23, Kỳ 24, Kỳ 25, Kỳ 26, Kỳ 27, Kỳ 28, Kỳ 29, Kỳ 30, Kỳ 31, Kỳ 32, Kỳ 33, Kỳ 34, Kỳ 35, Kỳ 36, Kỳ 37, Kỳ 38, Kỳ 39, Kỳ 40, Kỳ 41, Kỳ 42, Kỳ 43, Kỳ 44, Kỳ 45, Kỳ 46, Kỳ 47, Kỳ 48, Kỳ 49, Kỳ 50, Kỳ 51, Kỳ 52, Kỳ 53, Kỳ 54, Kỳ 55, Kỳ 56, Kỳ 57, Kỳ 58, Kỳ 59, Kỳ 60, Kỳ 61, Kỳ 62, Kỳ 63, Kỳ 64, Kỳ 65, Kỳ 66, Kỳ 67, Kỳ 68, Kỳ 68,Kỳ 66, Kỳ 69, Kỳ 70, Kỳ 71, Kỳ 72, Kỳ 73, Kỳ 74, Kỳ 75, Kỳ 76, Kỳ 77, Kỳ 78, Kỳ 79, Kỳ 80, Kỳ 81, Kỳ 82, Kỳ 83, Kỳ 84, Kỳ 85, Kỳ 86, Kỳ 87, Kỳ 88, Kỳ 89, Kỳ 90, Kỳ 91, Kỳ 92, Kỳ 93, Kỳ 94, Kỳ 95, Kỳ 96, Kỳ 97, Kỳ 98, Kỳ 99, Kỳ 100, Kỳ 101, Kỳ 102, Kỳ 103, Kỳ 104, Kỳ 105, Kỳ 106, Kỳ 107, Kỳ 108, Kỳ 109, Kỳ 110, Kỳ 111, Kỳ 112, Kỳ 113, Kỳ 114,

Edmond Jabes đặt lời đề từ sau đây cho phần I Le Seuil/Ngưỡng của toàn tập Le Seuil Le Sable: “Vượt ngưỡng/Ôi tang chế đầu tiên” và tiếp theo: “Làm sao thực hiện được con đường đi từ niềm im lặng sang viết? Một sự run rẩy của văn tự, đôi khi, mở ra con đường này; sự run rẩy đó được khởi động bằng việc nghe, nghe tối thượng và không từ ký ức khiến cho, phần nào, làm chao đảo tiếng nói và tư tưởng. Thế nhưng sự huyền nhiệm lại cho thấy tiếng nói, thay vì bị dứt bỏ, hóa ra lại được làm cho giầu có.”[5]  Và đề từ cho phần Le Sable/Cát: “Tất cả ký ức về thế giới là ở trong một hạt cát.”[6] Ngưỡng gồm Je bâtis ma demeure (1943-1957) với những bài thơ Edmond Jabès xếp đặt không theo trật tự thời gian sáng tác, chiếm phần lớn số trang của toàn tập và Cát gồm Récit/Truyện kể có 80 khổ thơ, Lettre à M.C. có 4 đoạn, sau hết là La Mémoire et la Main/Ký ức và Bàn tay (1974-1980) gồm Des deux mains/Về hai bàn tay (1975) với Ceux à qui..(13 khổ thơ ngắn), La Main démasqué (4 khổ), À demi ouverte, ma main, bài thơ Toujours cette image và kết thúc bằng L’Appel (1985-1988) với lời đề từ: “Khuôn mặt của hiện tại. Khuôn mặt của quá khứ, Một tấm vải chia cách chúng. Một tấm màn cửa sũng nước. Mắt, hãy còn nhạt nhòa, nước mắt xưa. U sầu. U sầu.”[7]

Gabriel Bounoure, người đầu tiên nhận ra giá trị và tâm đắc thơ Edmond Jabès, đã viết về tập thơ Je bâtis ma demeure như sau: “Nơi Edmond Jabès, giao ước thi ca có những cân đối của một chức năng đời sống và một sự dấn thân tinh thần. Với ông ta, ngoài đời sống thi ca ra, thì chẳng còn có đối tượng, không gian, vấn đề, không khí, ngơi nghỉ gì cả.”[8]  Bounoure cũng nhấn mạnh rất sớm tới sự trong sáng (lucidité) trong lộ trình thi ca của Edmond Jabès vì thi ca chỉ thể là sự phản bác chống lại cách sử dụng ngôn ngữ thông thường, thi ca là một đoạn tuyệt (rupture), tách rời cho phép ánh sáng, sự điên cuồng qui tụ trên cái trục Minh Trí (Sagesse), lọt qua như trong “Bài ca Người Lạ” Jabès đã viết: “Tôi tìm kiếm/một người mà tôi không biết/người này, lại chẳng bao giờ là chính tôi/kể từ khi tôi đi tìm ông ta.”

Như chúng ta đã biết Edmond Jabès luôn nhấn mạnh tới sự quan trọng của tập thơ đầu tay. Ngưỡng theo Jabès có nghĩa giới hạn giữa quá khứ (cuộc sống ở Cairo, Ai Cập) và hiện tại (cuộc sống ở Paris, Pháp): Vượt ngưỡng, bỏ lại sau lưng nơi chốn sinh trưởng với Jabès là một tang chế nhưng cũng lại là “bước sang,” “vượt ngưỡng”  cho một khởi đầu sáng tạo trong tương lai.

Từ (mot), nhất là từ chìa khóa, mật khẩu thi sĩ phải có để mở cánh cửa như Jabès quan niệm “Mọi cánh cửa đều có một từ là kẻ canh giữ. Từ mật khẩu, từ ma thuật” (Toute porte a pour gardien un mot. Mot de passe, mot magique.) Thi sĩ là kẻ biết nghe tiếng nói của từ (voix du mot) trước khi từ được phát âm. Biết nghe tiếng nói của từ, một thứ tiếng nói thoát qua cánh cửa một cách thinh lặng để cho trật tự ẩn dấu của sự vật ngân vang mà chỉ người biết lắng nghe mới nghe thấy. Nghĩa là nghe như một thi sĩ như Jabès tuyên bố: “chỉ với tư cách thi sĩ người ta mới có thể giữ lại từ và trở thành thi sĩ” (ce n’est qu’en poète qu’on peut garder le mot et devenir poète.) Trong tập Aely Jabès viết về việc để cho tiếng nói đọc ra những sự vật trong lòng từ: “Tôi luôn ở bên ngoài, như ở trong tiếng gọi hay như ở trong sự cầu nguyện; nhưng tôi không gọi ai, nhưng tôi không nguyện cầu,”[9]  Thi sĩ đến với thế giới có nghĩa thi sĩ hiện hữu (être) trong thế giới, hiện hữu trong thế giới khác hẳn việc ngụ (résider) trong đó vì thi sĩ đứng trước cánh cửa để lắng nghe những sự vật của thế giới thầm thì và không để cho tiếng hỗn mang vọng động của thế giới áp đảo những sự vật: thi sĩ là kẻ hòa điệu không ngưng nghỉ tiếng nói của mình với tiếng thì  thầm của sự vật âm thầm lọt qua cánh cửa.

 

_______________________________________

 

[5] Le Seuil Le Sable, Poésies complètes 1943-1988 nxb Gallimard : Franchir le seuil. Ô premier deuil/ Comment s’effectue le passage du silence à l’écrit? Un tremblement de l’écriture, parfois, le révèle; ce tremblement est provoqué par l’écoute, l’ultime et immémoriale écoute qui fait, quelque part, basculer la langue et la pensée.  Mais le miracle est que la langue, loin d’en être entamée, s’en trouve enrichie.

[6] Sđd trang 327: Toute la mémoire du monde est dans un grain de sable.

[7] Sđd trang 395: Visage du présent. Visage du passé. Un voile les sépare. Un rideau humide. L’œil, encore brouillé, d’une larme ancienne. Mélancolie. Mélancolie.

[8] Trích dẫn theo Didier Cahen trong Edmond Jabès, Les Dossiers Belfon trang 153: Chez Edmond Jabès, le vœur poétique prend les proportions d’une fonction vitale et d’un engagement spirituel. Pour lui, en dehors de la vie poétique, pas d’objet, pas d’espace, pas d’issue, pas d’air, pas de repos.

[9] Edmond Jabes, Aely trang 140: Je me tiens constamment au-delà, comme dans l’appel ou dans la prière; mais je n’appelle personne, mais je ne prie pas.

_________________________________

THƠ EDMOND JABÈS

L’ABSENCE DE LIEU/THIẾU KHÔNG NƠI CHỐN

 

I.

 

Terrain vague, page obsédée

 

Une demeure est une longue insomnie

sur le chemin encapuchonné des mines.

 

Mes jours sont jours des racines,

sont joug d’amour célébré.

 

Le ciel est toujours à traverser et

la terrasse à nourrir de nuits nouvelles.

 

Le deuil de mes démarches forme

enclave dans la clarté opaque des murs.

 

La terre baigne dans de

vaines visions de voyage.

 

Vùng đất quạnh hiu, trang giấy ám ảnh.

 

Một chốn cư ngụ là một sự mất ngủ dài

trong lối dẫn phủ kín vào những hầm mỏ.

 

Ngày của tôi là những ngày của rễ,

là gánh nặng của tình yêu xưng tụng.

 

Bầu trời luôn luôn là để băng qua và

là sân thượng để nuôi dưỡng những đêm mới.

 

Tang chế của những bước đi của tôi làm thành

Vùng cấm địa trong ánh mờ của những bức tường.

 

Trái đất chìm đắm trong

những dự tưởng du hành hão huyền.

 

 

II.

 

Je demonte une patiente

horlogerie pour oracles.

 

Tôi tháo rời một

bộ máy đồng hồ kiên nhẫn cho những lời tiên tri.

 

III.

 

Danseuses qui rêvez d’êre les sœurs de l’aurore,

valsez dans l’oubli du miracle avec la roue des robes ensoleillées.

 

Những vũ nữ kẻ mơ tưởng mình là chị em của bình minh,

khiêu vũ trong lãng quên sự nhiệm màu quanh những chiếc áo dài rực nắng.

 

IV.

 

(Mais l’heure reste à naître, l’heure frontalière où le

faucon des sables règne sur d’innombrables prunelles apeurées)

 

(Nhưng giờ giấc còn chờ được sinh ra, thời khắc kế cận nơi

con chim ưng ngự trị trên vô vàn con ngươi khiếp đảm.)

 

V.

 

Quel vœur d’eternité retient l’homme

des ouvrages encore eveillé?

 

Lời hứa hẹn nào của vĩnh cửu giữ cho con người

của công việc vẫn tỉnh thức?

 

VI.

 

Terre d’outre-nuit que le soleil arrache à

la méditation et aux épines du doute.

 

Trái đất ngoài đêm tối mặt trời dứt ra từ

sự suy niệm và từ những gai nhọn của sự ngờ vực.

 

La fleur affiche une candeur espiègle. La tige suit

la trace des  grandes aventurières de l’espace.

 

Hoa khoe một sự vô tư gượng gạo. Cành đi theo

dấu vết của những kẻ phiêu liêu phái nữ trong không gian.

 

Le miel coule entre les pièrres

que le ciment va unir.

 

Mật chảy giữa đá

xi-măng sẽ gắn kết.

 

VII.

 

Autour des branches, le monde mime sa faim.

Tant de cris pour un arbre, dieu parfumé à

planter, à fléchir par une ronde magique.

 

Quanh những cành cây, thế giới nhái điệu bộ sự đói kém của mình.

Quá nhiều tiếng kêu gào cho một cái cây, thần linh được sức dầu thơm để

đem trồng, để uốn cong bởi một vòng huyền hoặc.

 

On a enrégimenté le

suc. Le cerne n’a plus de prix.

 

Người ta đã cô đặc

nhựa. Quầng thâm không còn giá trị.

 

Mes secrets sont vergers,

Le mystère est sans malice.

 

Những bí mật của tôi là những vườn trái cây.

Sự bí ẩn không dối trá.

 

Mon amour, une rose dans les cheveux,

le message de l’homme et de la terre,

 

Tình yêu của tôi, một bông hồng trong tóc,

thông điệp của con người và của trái đất.

 

(còn tiếp)

 

ĐÀO TRUNG ĐẠO

http://www.gio-o.com/DaoTrungDao.html

 

© gio-o.com 2018