đào trung đạo

thi sĩ / thi ca

(61)

 

Kỳ 1, Kỳ 2, Kỳ 3, Kỳ 4, Kỳ 5, Kỳ 6, Kỳ 7, Kỳ 8, Kỳ 9, Kỳ 10, Kỳ 11, Kỳ 12, Kỳ 13, Kỳ 14, Kỳ 15, Kỳ 16, Kỳ 17, Kỳ 18, Kỳ 19, Kỳ 20, Kỳ 21, Kỳ 22, Kỳ 23, Kỳ 24, Kỳ 25, Kỳ 26, Kỳ 27, Kỳ 28, Kỳ 29, Kỳ 30, Kỳ 31, Kỳ 32, Kỳ 33, Kỳ 34, Kỳ 35, Kỳ 36, Kỳ 37, Kỳ 38, Kỳ 39, Kỳ 40, Kỳ 41, Kỳ 42, Kỳ 43, Kỳ 44, Kỳ 45, Kỳ 46, Kỳ 47, Kỳ 48, Kỳ 49, Kỳ 50, Kỳ 51, Kỳ 52, Kỳ 53, Kỳ 54, Kỳ 55, Kỳ 56, Kỳ 57, Kỳ 58, Kỳ 59, Kỳ 60, Kỳ 61,

 

RENÉ CHAR

 

“TRÁI ĐẤT VÀ LỜI THẦM TH̀”: SỰ THÂN THIẾT VỚI SỰ VẬT VÀ KHẢ NĂNG CẤT TIẾNG

Để kết thúc tŕnh bày về thi ca René Char trước khi viết lời bạt cho tập II quyển La poésie de René Char, Poésie et Résistance Jean-Claude Mathieu viết những phân tích khá thú vị về: Cảm giác và hệ luận đạo đức của cảm giác, cái tức thời và những dấu chỉ, trái đất, cư ngụ đêm tối, tín cẩn và thầm th́ trong lời nói thân gần, và những h́nh ảnh lên tiếng trong Feuillets d’Hypnos.

 

1.      Cảm giác và hệ luận đạo đức của cảm giác (La sensation et son colloraire morale)

2.       

René Char tuyên bố: “Cảm giác và hệ luận đạo đức của nó được coi như đă hoàn thành diễn tŕnh của chúng. Tuy nhiên sự tương phản nền tảng vẫn c̣n đó, và con người tiếp tục hành động, giữa những ảo ảnh chiến thắng của hắn, ở t́nh cảnh bị lột da (écorché), đúng hơn là ở t́nh cảnh của kẻ chiến đấu.”(“Prière d’insérer” des Feuillets d’Hypnos). Với René Char t́nh cảm không chỉ là ấn tượng mà là vết thương trở thành nhức nhối hơn khi con người sáng suốt. Đó là hệ luận đạo đức của t́nh cảm trong thời khổ nạn.Trong frag.169 Char viết: “Sự sáng suốt là vết thương gần mặt trời nhất”[122]  Thi sĩ ư thức được vết thương cháy bỏng của kẻ bị lột da này là thi sĩ chân chính khác hẳn với những “thi sĩ đội mũ” (poètes casqués). “Thi sĩ đội mũ” là cụm từ René Char chỉ những người làm thơ xu thời trong giai đoạn nuớc Pháp sau khi được giải phóng tác phẩm của họ được in ấn khá nhiều. Theo René Char thi sĩ không thể là kẻ “mặc áo giáp treo ngành”(sursis de l’armure). Như chúng ta biết trong suốt thời kỳ này René Char không cho in dù chỉ một bài thơ của ḿnh v́ như trong Partage formel (frag. XXI) Char cho rằng “Trong thi ca, chỉ khởi đi từ thông giao và từ sắp xếp tự do mọi sự vật giữa chúng với nhau thông qua chúng ta th́ chúng ta mới thấy ḿnh dấn thân và được xác định, mới có thể thủ đắc h́nh thức độc đáo và những tính chất thử thách của chúng ta”[123]: thi sĩ như kháng chiến quân là kẻ đi trên sỏi đá với đôi chân lau sậy trần trụi, kẻ có những phẩm tính được thử thách, vứt bỏ tấm áo giáp thói thường. Giá trị t́nh cảm này đưa đến hệ luận: “Trung thực và dễ bị tổn thương khôn cùng, chúng ta đặt ư thức về biến cố đối nghịch với sự vô bằng (thêm một từ được tinh lọc).[124] Có mâu thuẫn của t́nh cảm: một mặt sự bén nhậy của t́nh cảm mở lối tiếp cận sự chắc thực, mặt khác lại có “sự cắt vụn của những sức mạnh t́nh cảm”(“l’émiettement des pouvoirs de sensation”(frag.205) đưa chúng ta đến “sự không chắc thực. Sức mạnh t́nh cảm truyền đi như một cái “rùng ḿnh dài lâu” là phản ứng tức thời của thân xác với những sức hút và những dấu chỉ của tự nhiên như René Char viết trong frag.159: “Có một sự thu hút mạnh mẽ giữa con chim gáy và những con vật bí ẩn mà chúng ta đă hóa thành, khi mà con chim chẳng được thấy rơ mấy, hay nó khóac lên ḿnh nó một sự vô danh xám xịt khi nó bay ngang mắt, trong tiếng vang dội với tiếng kêu từng hồi của nó làm chúng ta rùng ḿnh thật lâu.”[125] Bản năng tồn tại của những kẻ đánh mất ư niệm về cuộc sống dài ngắn bao lâu và sự cân bằng hàng ngày sẽ tan ră nơi họ dưới sự bó buộc của bản năng tư hữu làm họ sẽ “trở thành thù nghịch với những cái rùng ḿnh nhẹ của bầu khí quyển” như René Char viết trong frag.8. Sự thù nghịch này là một thứ ung thư lan truyền rất nhanh làm cho những kẻ “thận trọng” (les prudents) không ḥa ḿnh được với bản quán. Ở điểm này Char khá gần gũi với Hölderlin. Đạo đức được nuôi dưỡng trong t́nh cảm khiến những bó buộc đạo đức thành chắc chắn, cụ thể, như lời thi sĩ tự nhắc nhở “đường bay của bài thơ phải nhậy cảm với mỗi người.” (frag.98) – Char cố ư nhấn mạnh từ “nhạy cảm” (sensible) – cũng như hành vi đạo đức phải được nhắc nhở về mảnh đất trong tương lai con người được đem tới vun trồng lại. Khi con người trụ vững trong cảm giác th́ cảm giác giúp con người đối kháng với cái ác tràn lan, với mê cung của cái ác nhờ sự thuần khiết của cảm giác. Jean-Claude Mathieu nhận xét xuyên suốt thi ca của René Char cho thấy thi sĩ tuy đặt ḿnh dưới sự giáo dục của “trường t́nh cảm” (l’école de la sensation) nhưng không h́nh tượng t́nh cảm, cái nhậy cảm bằng cách thu giảm t́nh cảm vào tri thức, và học lại bảng vần của tự nhiên như đứa học tṛ trốn trường lớp “g̣ ḿnh trên văn tự của mặt trời”, thứ văn tự lắng nghe tiếng th́ thầm của “những thi sĩ của thính mạc” (les poètes du tympan), hay đặt ḿnh vào đường vạch âm thanh của sao băng, con đường/tiếng nói bằng vàng (voie/voix d’or) của những đêm hè nóng bức.

 

 Cái tức thời và những dấu chỉ (L’immédiat et les signes): Trong Feuillets d’Hypnos cũng như trong khá nhiều bài thơ khác René Char nói đến cái tức thời rút lui khi ng̣i bút vừa mới đụng tới nó. Khi cái tức thời là đối tượng của sự ham muốn nó càng lẩn tránh, biến dạng và tháo lui, ĺa xa.Thi sĩ thèm khát địa vị của một đứa trẻ hay người học tṛ nhỏ tuổi “gập ḿnh”(se pencher) dí/dán mũi vào những đốt chấm của mặt trời [mặt trời đối với đứa trẻ là một đối tượng được ham muốn như Char gọi là “soleil

 

jouvenceau/mặt trời niên thiếu” trong bài thơ Contre une maison.]  Tương tự như đứa trẻ gập ḿnh, vị trí thân thể của người lớn cũng gập ḿnh để yêu. Tuy nhiên, nếu mặt trời lặn bóng, nằm trong bóng tối, mặt trời không c̣n là một đối tượng ham muốn đối với đứa trẻ, trở thành cái không thể tiếp cận (inaccessible). Mặt trời trong bóng tối là thứ mặt trời bị làm giả, trở thành bệnh hoạn, mặt trời bị biến thành một thứ phụ thuộc của sự độc đoán mơ hồ như chủ nghĩa Quốc xă hoang tưởng đă từng đóng khung mặt trời, để tạo ra một biểu tượng sùng bái. René Char bày tỏ thái độ chống đối triệt để việc đóng khung mặt trời, coi đó là một sự chống lại đời sống (anti-vie). Đời sống là trụ cột trong khi những ư niệm do thu tập, những định kiến khi đụng chạm tới vấn đề sinh tử của đời sống trở thành rất tương đối v́ những giá trị đạo đức hay trí tuệ tùy thuộc vào cái nuôi dưỡng và củng cố đời sống như René Char viết trong frag.126: “Entre la réalité et son exposé, il y a ta vie qui magnifie la réalité, et cette abjection nazie qui ruine son exposé/Giữa thực tại và tự sự về thực tại, c̣n có đời sống của ngươi, đời sống này khuếch đại thực tại, và việc làm hạ giá đạo đức của quốc xă này làm cho tự sự về đời sống bị hủy hoại.”Chủ trương chống lại đời sống của quốc xă áp đặt dấu hiệu lên thực tại, biểu tượng hóa một cách dă man bản chất của chữ thập ngoặc và những huyền thoại điên loạn “[…] Trong khi những chứng loạn thần kinh tập thể tự đầu độc trong con mắt của những huyền thoại và những biểu tượng th́ con người tâm linh lại đặt đời sống vào án tử mà không hề mảy may hối hận”, và văn tự máu (écriture de sang) hướng về tương lai là chứng cứ duy nhất gần gụi đời sống, như chân lư của “trái đất và lời thầm th́,” sự tin cậy thân gần của con người và sự vật, là không gian ở đó tiếng nói trầm trầm vẫn gần gụi thân xác và không tách rời để tạo tiếng vang, từ chối sự ham muốn duy trí (désir intellectualiste) muốn thu hồi cái trừu tượng về phần ḿnh. Chỉ có thân xác, đời sống là có khả năng định giá trị hay bác bỏ những dấu hiệu trong tương quan của chúng với thực tại. René Char nói việc hồi sinh dấu hiệu có khả năng xóa bỏ nỗi buồn “Entre le monde de la réalité et moi, il n’y a plus aujourd’hui d’épaisseur triste/Giữa thế giới của thực tại và tôi, nay không c̣n chút gợn buồn nào.”(frag.188). Việc từ chối, bác bỏ thẩm quyền của hệ thống những dấu chỉ vốn tách khỏi và đi ngược lại đời sống dẫn con người tới những chân lư h́nh thức trừu tượng trong giai đoạn khủng hoảng. Có thể ví thẩm quyền của cái trừu tượng giống như tấm bản đồ chỉ hướng đi khi đă được chính thức hóa sẽ tự thiết định những quyền lực: điều này cũng đúng với thứ ngụy-thi-ca (pseudo-poétrie) không huyết mạch. Ngoài ra René Char cũng quan niệm việc đặt tên (nomination) đă chặt sự vật thành đối tượng của tri thức, thời gian trôi chảy của đời sống (la durée) thành những đơn vị giây phút ngày tháng năm không có đời sống. Ngược lại “tên riêng” của một con người ẩn chứa trong “cái vô vàn” (l’innombrable) của thân xác, giây (le seconde) không phải là một cái tên được gán cho nhưng là sức căng, cường độ của đời sống và cái chết, thời gian của kháng chiến quân là nơi những cái tên riêng bị bỏ đi, và được tái sinh dưới những cái tên kư hiệu, tên lóng chỉ trong nhóm kháng chiến quân mới có thể hiểu. Sau chót, chính cái Đẹp cũng viết tên ḿnh trên bầu trời như một thành tố của vũ trụ.

 

Theo René Char thực tại của cái tức thời nằm trên đường tiệm cận của đường ṿng cung gập ḿnh. Hành động gập ḿnh là thái độ của thân xác mê say nhưng bối rối, mắc nạn bởi sự lừa mị lấp lánh phản chiếu và trốn chạy như trong những bài thơ của René Char được Jean-Claude Mathieu trích dẫn để giải thích nghĩa của động từ “plencher/cúi ḿnh”: bài Quatre ages (trong tập Placard pour un chemin des écoliers in chung với Dehors la nuit est gouvernée): “J’ai passé des nuits pleines/À te regarder dormir/Penché sur ton éclat dans la vitre/Anh đă trải qua những đêm trọn/Để nh́n em ngủ/Cúi ḿnh trên bóng dáng em trong cửa kính”, trong bài Sur la nappe d’un étang glacé (trong tập Les loyaux adversaires) “Maintenant ton image luit/Là où son cœur s’est penché/Giờ đây h́nh ảnh em lập ḷe/Nơi trái tim của mùa đông cúi ḿnh”, trong bài Allègement (trong tập Seuls demeurent) “Il se pencha sur le visage anéanti, en but à longs traits la superstition/Hắn cúi ḿnh trên khuôn mặt đă bị hủy hoại, uống một hơi sự mê muội từ đó”, và trong bài Biens égaux (trong tập Le poème pulvérisé) “De si loin que je me souvienne, je me distingue penché sur les végétaux du jardin désordonné de mon père/Từ rất xa xưa như tôi c̣n nhớ, tôi thấy ḿnh cúi xuống trên những cái cây của khu vườn bừa bộn của cha tôi.”

 

Trái đất: Theo René Char sự tiếp xúc thân thiết với trái đất, coi trái đất như chỗ dựa và điểm tựa có trước cảnh thổ (paysage) do mắt nh́n. Chính tư thế và sự ḥa thuận giữa con người và trái đất này tạo nơi chốn (lieu) thành bản quán (pays natal). Thế nhưng, “bản quán đă đánh mất sức mạnh của nó” (frag.24) khi thao tác trí tuệ  –  một thứ ung thư trí thức – muốn né tránh mối tương quan của thân xác với trái đất – đặt những dấu chỉ hay những đối tượng ra bên ngoài cái nền tảng trong nơi chốn vốn có trước đối tượng và không để cho bị biến thành đối tượng. Có điều, theo René Char, mối tương quan với trái đất, với cư ngụ chỉ tức thời khi là sự trở lại với cái ǵ xa xôi nhất: con người nguyên thủy thủ đắc kư ức về cái cổ xưa, “những kẻ săn thú trộm (braconniers)” chỉ định hướng theo bản năng tuân theo kư ức về đại ngàn: “La mémoire sylvestre de ces primitifs, leur aptitude pour le calcul, leur flair aigu par tous les temps…/Kư ức về đại ngàn của những con người nguyên thủy này, năng khiếu tính toán của họ, sự đánh hơi thời tiết nhậy bén của họ…” Chính những kháng chiến quân cũng có những khả năng này để tồn tại. Tuy nhiên sự giao tiếp với trái đất không phải không có mặt trái của nó: trái đất cũng c̣n là nỗi kinh sợ, khiếp đảm đối với con người khi trái đất ch́m vào bóng tối. Mặt có thể thấy được của trái đất đem lại vui thú cho con người nhưng mặt ch́m khuất từ đó xuất hiện những sức mạnh ch́m khuất của trái đất (forces chtoniennes) đi kèm sự vui thú của những sự vật. Jean-Claude Mathieu giải thích: “Cánh đồng cỏ, cỏ là lớp mịn màng của sự vui thú đó, nó cho phép sự tiếp cận mà không có sự lây nhiễm của khiếp sợ, nơi chốn của sự biến đổi sự tối tăm của trái đất thành ánh sáng của ngày” như René Char viết “Prairie, vous êtes le boîtier du jour/Đồng cỏ, ngươi là cái hộp đựng ngày.”[126] Thế nhưng, nơi tầng sâu của trái đất cũng là nơi phát sinh tiếng hát, đứa trẻ, lớp dưới của trái đất ẩn chứa cuộc sống trước đây “À en croire le sous-sol de l’herbe où chantait un couple de grillons cette nuit, la vie prénatale devait être très douce/Nếu như chúng ta tin vào tầng dưới của cỏ, nơi một đôi dế đă ca hát đêm nay, th́ cuộc sống tiền sinh hẳn phải là rất dịu dàng.”(frag.73). Những đứa trẻ của đêm tối (les enfants de la nuit), chuột chũi, giun dế… hiện lên từ tầng sâu thẳm đó. Sống kế cận những côn trùng vốn là kẻ đồng lơa với trẻ con này kháng chiến quân khi lẩn ḿnh và thiếp ngủ cảm thấy dâng lên trong ḷng niềm vui yêu đương của đứa bé học tṛ biến mất trong đám cỏ. “Le peuple des prés m’enchante. Sa beauté frêle et dépouvue de venin, je ne me lasse pas de me la reciter/Dân số của đồng cỏ làm tôi mê say. Tôi kể lể không biết mỏi mệt vẻ đẹp mỏng manh và không có nọc độc của nó.”(frag.175) Thật không ngạc nhiên chút nào khi nhận ra có sự âu lo, run sợ nếu làm tổn thương đất-mẹ (terre-mère). Thời thơ ấu René Char là đứa trẻ cô đơn lang thang vui chơi nơi những cánh đồng cỏ, những bụi cây trong vùng. Trưởng thành, thi sĩ René Char là “hoàng đế” của chốn tối tăm, vùng tiền sinh (prénatal) hướng đến màu “xanh biếc” (l’azur) và mối liên hệ với trái đất không thể tách rời tương lai: “L’arracher à sa terre d’origine. Le replanter dans le sol presumé harmonieux de l’avenir…/Bật rễ hắn khỏi nơi cội nguồn. Trồng hắn lại trong vùng đất chừng như ḥa nhịp của tương lai…”(frag.51) và “…Et je demeure là comme une plante dans un sol bien que ma saison ne soit de nulle part/…Và tôi ở lại đó như một cái cây trồng trong một vùng đất dù rằng mùa màng của tôi chẳng ở chốn nào.”(frag.206)

__________________________________

[122] La lucidité est la blessure la plus rapprochée du soleil.

[123] René Char, Partage formel, O.C trang 160: En poésie c’est seulement à partir de la communication et de la libre disposition de la totalité des choses entre elles à traver nous que nous nous trouvons engagés et définis, à même d’obtenir notre forme originale et nos propriétés probatoires.

[124] Frag.164: Fidèles et démesurément vulnérable, nous opposons la conscience de l’événement au gratuité (encore un mot de déféqué)

[125] Frag.159: Une si troite affinité existe entre le coucou et les êtres furtifs que nous sommes devenus, que cet oiseau si peu visible, ou qui revêt un grisâtre anonymat lorqu’il traverse la vue, en echo à son chant écartelant, nous arrache un long frisson.

[126] Jean-Claude Mathieu, sđd trang 265: La prairie, l’herbe sont la couche veloutée de cette jouissance, qui permet le contact sans la contagion de l’horreur, le lieu de transformation de l’obcur de la terre en lumière du jour.

(c̣n tiếp)

đào trung đạo

 

http://www.gio-o.com/DaoTrungDao.html

 

 

© gio-o.com 2017