đào trung đạo

thi sĩ / thi ca

(27)

 

 

         Kỳ 1, Kỳ 2, Kỳ 3, Kỳ 4, Kỳ 5, Kỳ 6, Kỳ 7, Kỳ 8, Kỳ 9, Kỳ 10, Kỳ 11, Kỳ 12, Kỳ 13, Kỳ 14, Kỳ 15, Kỳ 16, Kỳ 17, Kỳ 18, Kỳ 19, Kỳ 20, Kỳ 21, Kỳ 22, Kỳ 23, Kỳ 24, Kỳ 25, Kỳ 26, Kỳ 27,

 

       Trong Der Meridian Celan đưa ra tuyên bố thi luận: “bài thơ hôm nay…rơ ràng có khuynh hướng mạnh mẽ hướng về phía sự im lặng” và “bài thơ giữ vững nền của nó trên chính lề của nó. Để có thể lưu tồn, nó luôn kêu gọi và thu rút từ ‘đă không c̣n là’ vào ‘vẫn c̣n ở đây’” Thi ca của Celan là sự biểu đạt tro (ashen articulation) sử dụng nhiều h́nh thức thu giảm, tỉnh lược khác nhau để cho cái bị phủ nhận, bị chối từ một tiếng nói. Có thể nói thi ca của Celan được ghi lại giữa hai cực tuyệt chủng (extinction) và hồi sinh (survival). Aris Fioretos nhận xét: “Trong thi ca này, tức khắc vừa là kư ức đớn đau vừa là sự mới lạ run rẩy, một kinh nghiệm của những giới hạn của ngôn ngữ được làm cho hiển nhiên. Người ta cũng có thể nói đó là con đường đi ngang qua tối xám giữa xóa bỏ và cứu chuộc, giữa Đă-không-c̣n-là và Vẫn-ở-đây, rằng thi ca của Celan từ đó ra đời. Những bài thơ của ông ta – là những trường hợp của cái “ngôn ngữ xám đậm hơn” đă được nhắc tới trong câu trả lời của Celan trong một bài vấn đáp năm 1958 – do đó thiết yếu nói về chính những điều kiện khả hữu của chúng.”(158) Tuy nhiên, để bênh vực cho tính chất cô đọng, súc tích của ngôn ngữ thi ca Celan, Aris Fioteros cho rằng thật là phiến diện hay ngộ nhận nếu coi sự súc tích trong suốt (crystalline terseness) của những bài thơ của Celan như dấu hiệu của một thực hành phủ nhận (negative practice) nhằm mục tiêu cuối cùng tiêu hủy thi ca trong sự chính xác trống rỗng của cái đẹp. “Bản văn của Celan có thể h́nh thành bên bờ kế cận sự mất mát, chúng nói thay cho sự mất mát và tiếp cận sự biểu đạt tro của tuyệt chủng – điều mà một bản văn thời trẻ [của Celan] viết về Edgar Jené gọi là “tro của ư nghĩa bị thiêu rụi” Nhưng ngay cả nếu như sự biểu đạt này có thể như được biến đổi và khó mà gán cho ư nghĩa được xếp đặt một cách ước lệ, nó lại chẳng bao hoàn toàn đóng kín. Ngược lại, Celan thường đảo ngược những thuộc tính của nội giới tính và ngoại giới tính mà hệ h́nh của chúng tạo nên một cách tổng quát lư thuyết bí truyền trong một cách đặt thành vấn đề một cách nghiêm chỉnh về một định nghĩa của thi ca của ông ta như bí ẩn.”(159) Cách thế đảo ngược này trong bài “Tübingen, Jänner” đặt ra vấn đề về lối minh giải thơ theo thông lệ, và có thể được coi như sự phê phán khái niệm cho rằng thi sĩ là kẻ tiên tri như Martin Anderle, Paul Coates, Hans Mayer và Hartmunt Müller nhận xét. Để hiểu rơ phê phán này Aris Fioteros cho rằng có thể đọc bài “Tübingen, Jänner” trong liên hệ với bài dịch vở kịch Antigone của Hölderlin. Tuy “Tübingen, Jänner” là một trong những bài thơ rơ rệt nhất về Auseinandersetzungen/có tính tranh biện liên bản văn với văn chương, lịch sử, và lịch sử văn học [có thể không theo thứ tự này] nhưng về mặt h́nh thức, nhất là tính chất mù quáng (blindness) bài thơ nói tới lại không nhằm ám chỉ những chủ đề của Homer hay Sophocle mà là tính chất mù quáng xảy ra trong một sự chuyển dịch ngôn ngữ (linguistic transition). Aris Fioteros cũng cho rằng có liên bản văn trong “Tübingen, Jänner” với bài tụng ca “Der blinde Sänger” của Hölderlin và chàng Oedipus tự chọc thủng mắt trong bản dịch Oidipos Tyrannos (Sophocle) của Hölderlin. Tuy nhiên, mở đầu của bài “Tübingen, Jänner” được tổ chức như một sự di chuyển có thể được hiểu như một hành vi ngôn ngữ hay hành vi tu từ.

       Theo Aris Fioteros “Nếu người ta muốn xác định mối tương quan của bài thơ của Celan với mối tương quan có trước đó, người ta trước hết phải xem xét sự đui mù ngôn ngữ riêng biệt này căn cứ trên một hành vi nói khởi đầu trước khi xem xét đến khả tính truyền đạt một sự hiểu biết theo những từ ngữ liên bản văn. Không phải măi sau khi hành vi mở đầu đă thực sự xảy ra (Celan dùng thời quá khứ) bài thơ mới có thể được nói là ám chỉ tới lịch sử văn học và tiến hành trích dẫn Hölderlin từ bài bi ca ái quốc “Der Rhein/Sông Danube.” “Sức mạnh đưa người ta từ một bản văn này tới một bản văn khác,” như Paul de Man lư luận trong một ngữ cảnh tuy khác nhưng có liên hệ, “không chỉ là sức mạnh của di dời, dù cho được hiểu như hồi ức hay nội nhập hay bất kỳ sự ‘chuyển vận’ nào khác, nhưng là sự bạo động mù quáng đơn thuần mà Nietszche, quan tâm tới sự bí ẩn tương tự, đă thuần hóa nó bằng cách gọi tên nó, một cách ẩn dụ, là một đạo quân của những chuyển nghĩa.”(160)

       Mối tương quan giữa bài “Der Rhein/Sông Danube” và bài “Tübingen, Jänner” : bài thơ của Hölderlin đă được rất nhiều tác gia diễn giải, nhất là câu thơ đầu tiên của khổ thơ thứ 4 [Ein Räthsel ist Reinentsprungenes/Bí ẩn là những ǵ nảy sinh từ nguồn gốc thuần túy] (161) và họ thường vạch ra những ẩn/ngụ ư của tính chất đảo ngược (reversibility) của câu thơ này. Chính ở câu thơ được tranh luận nhiều nhất này người ta t́m thấy sự tạo thành rơ ràng nhất mối tương quan giữa nguồn gốc và ngữ biểu (origin and expression), cội nguồn và ngôn ngữ (genesis and language) là cốt tủy thi ca của Hölderlin. Và điều này cũng được nhận ra trong bài “Tübingen, Jänner”. Tuy nhiên Aris Fioteros cũng muốn chỉ ra sự khác biệt giữa hai bài thơ này. Trước hết sau khi diễn giải khá chi tiết bài “Der Rhein” (162) nhất là câu thơ  Ein Räthsel ist Reinentsprungenes Aris Fioretos cho rằng từ/cụm từ “bí ẩn” (riddle) và “thuần túy phát sinh” (purely originated) không phải chỉ có nghĩa nguồn gốc thuần túy là bí ẩn mà c̣n có nghĩa bí ẩn nảy sinh một cách thuần túy căn cứ trên câu thơ “từ phát sinh như hoa” ở khổ 5 trong bài “Brod und Wein” của Hölderlin đồng thời cũng chỉ ra nỗ lực lật đổ trật tự hữu thể luận truyền thống giữa cái tự nhiên (natural) và những thực tại ngôn ngữ của Hölderlin. “Không chỉ cái ǵ nảy sinh hay xuất phát từ một nguồn cội thuần túy là có thể được biểu đạt một cách bí ẩn, nhưng một sự cấu thành bằng lời như một thai đố có thể cũng bắt nguồn một cách thuần túy, như một hiện tượng ngôn ngữ với vị thế hữu thể luận của một đối vật tự nhiên.” (163). Ngược lại với  thực thể tự nhiên như con sông hay nguồn của nó, một thai đố/bí ẩn chỉ thể được đưa ra mà không cung cấp ư nghĩa của yếu tính bí ẩn của nó nên theo Aris Fioteros câu thơ Ein Räthsel ist Reinentsprungenes phải được đọc không phải qui chiếu vào câu thơ “For as you began, so you will remain… for birth can accomplish most” mà phải qui chiếu về những câu thơ cuối ở khổ trước [khổ 3]:

                   Die Blindesten aber

                   Sind Göttersöhne. Denn es kennet der Mensch

                   Sein Haus und dem Their ward, wo

                   Es bauen solle, doch jenen ist

                   Der Fehl, daß sie nicht wissen wohin?

                   In die unerfahrne Seele gegeben.

 

                   Nhưng những kẻ đui mù nhất

                   Lại là con cái của thần linh. Cũng bởi con người biết

                   Nhà và những xúc vật của họ, chỗ

                   Họ phải dựng nhà, nhưng trong

                   Linh hồn nghiệm sinh của họ lại không

                   Biết chỗ đặt nhà họ.

 

________________________________

(158) Sđd trang 303: In this poetry, at once painful memory and shivering novelty, an experience of the limits of language is rendered evident. One could also say that it is in the gray passage between effacement and salvation, between Already-no-longer and Still-here, that Celan’s poetry comes into existence. His poems – being instances of that “grayer’ language” mentioned in Celan’s response to a questionnaire in 1958 (GW 3:167/CP 15) – thus necessarily speak of their own conditions of possibility.

(159) Sđd trang 303: Celan’s texts may take form at the border to the lost; they speak for it ad approach the ashen articulation of extinction – what an early text on Edgar Jené calls “the ashes of burned-out signification” (die Asche ausgebrannter Sinngebung) [GW 3:157/CP 6 (trans. modified). But even if this articulation may seem enciphered and difficult to ascribe conventionally organized meaning to, it is never sealed off. On the contrary, Celan often inverts tha attributes of interiority and exteriority whose paradigm generally constitutes esoteric doctrine in a manner which seriously puts into question a definition of his poetry as hermetic. Aris Fioretos cũng nhắc đến việc Celan cực lực bác bỏ và tỏ ra giận dữ đối với ư kiến cho rằng thi ca của ḿnh là bí ẩn, hũ nút trong một bức thư gửi cho Michael Hamberger là người dỉch sang Anh văn thơ của Celan.

(160) Sđd trang 306: If one ants to determine the relationship of Celan’s poems to that which precede it, one would just first have to consider this particularly verbal blindness relying on an initial speech act prior to the possibility of conveying an understanding in intertextual terms. It is not until after this inaugural act which has in fact taken place (CElan uses the preterit) that the poem can be said to allude to literary history and to proceed to quote Hölderlin from the patriotic hymn “Der Rhein.” The power that takes one from one text to the other,” as Paul de Man argues in a different but related context, “is not just a power of displacement, be it understood as recollection or interiorization oe any other “transport,” but the sheer blind violence that Nietszche, concerned with the same enigma, domesticated by calling it, metaphorically, an army of trophes.”

(161) Aris Fioteros trích dẫn phần đầu Khổ 4 bài “Der Rhein” nhưng không dịch sang Anh văn:

                       Ein Räthsel is Reinentsprungenes. Auch

                       Der Gesang kaum darf es enthüllen. Denn

                       Wie du anfiengst, wirst du bleiben’

                       So viel auch wirket die Noth,

                       Und die Zucht, das meister nemlich

                       Vermag die Geburt,

                       Und der Lichtstral, der

                       Dem Neugebornen begegnet.

 

Bản dịch Pháp văn của Gustave Roud (Hölderlin, Oeuvres, Gallimard/Bibliothèque de la Pleiade trang 850:

                      

                       Énigme, ce qui naît d’un jaillissement pur! Et par

                       Le chant lui-même à peine dévoilée. Oui,

                       Tel que tu naquis tu perdures.

                       Quoi que puissant la discipline

                       Et la Nécessité, la part majeure est dévolue

                       À la naissance

                       Et à cette fleche de lumière qui

                       Frappe le front du nouveau-né.

 

François Fédier và Julien Hervier dịch ra Pháp văn trong Martin Heidegger, Les hymnes de Hölderlin: La Germanie et Le Rhin, Galliamrd trang 220:

 

                       Énigme est bien ce qui pur a surgit. Mêne

                       Le Chant, à peine lui est-il licite de le dévoiler. Car

                       Ainsi que tu a commence tu vas demeurer

                       Quelle que soit l’œuvre de l’urgence

                       Et de l’élevage, du plus en effet

                       Est capable de la naissance

                       Et le rai de lumière qui

                       Rencontre le nouveau-né.

 

Michael Hamberger dịch sang Anh văn: trong Friedrich Hölderlin, Poems and Fragments trang 501:

 

                       A mystery are those of pure origin.

                       Even song may hardly unveil it.

                       For as you began, so you will remain,

                       And much as need can effect,

                       And breeding, still greater power

                       Adheres to your birth

                       And the ray of light

                       That meets the newborn infant.

 

Aris Fioretos dùng nguyên bản tiếng Đức Sämtliche Werke [SW] ed. Friedrich Beißer (Stuttgart: Kolhammer, 1951) và trích dẫn một bản dịch khác của Michael Hamberger trong Friedrich Hölderlin, Selected Verse,London:Anvil, 1986 trang 162 nhưng sửa đổi lại (Word Traces, chú thích 19 trang 336): “A riddle is the purely originated. Even song may hardly disclose it. For as you began, so you will remain, much as need can accomplish, and breeding, for birth can accomplish most, and the ray of light that meets the new-born infant.”

 

(162) Aris Fioretos muốn làm rơ mối liên hệ giữa Paul Celan và Friedrich Hölderlin nên đă chủ biên quyển The Solid Letter, Readings of Friedrich Hölderlin, nxb Stanford University Press, 1999 tập trung những bài viết của Peter Fenves, Jean-Luc Nancy, Philippe Lacoue-Labarthe, Hent de Vries, Jean-François Courtine, Edgar Pankow, Arnaud Villani, Andrzeij Warminski, Staley Corngold, Christopher Fynsk, Rainer Nägele, Cyros Hamlin, Bernhard Böschenstein, Arne Melberg, Hans-Jost Frey, Thomas Schestag và Aris Fioretos.

 

(163) Sđd trang 308: Not only can that which springs or descends from a pure source be articulated enigmatically, but a verbal construct such as a riddle may also originate purely, as a linguistic phenomenon with the ontological status of a natural object.

                         

(c̣n tiếp)

 

đào trung đạo

 

http://www.gio-o.com/DaoTrungDao.html

 

 

© gio-o.com 2016