đào trung đo

THI SĨ THI CA

(134)

 

Kỳ 1, Kỳ 2, Kỳ 3, Kỳ 4, Kỳ 5, Kỳ 6, Kỳ 7, Kỳ 8, Kỳ 9, Kỳ 10, Kỳ 11, Kỳ 12, Kỳ 13, Kỳ 14, Kỳ 15, Kỳ 16, Kỳ 17, Kỳ 18, Kỳ 19, Kỳ 20, Kỳ 21, Kỳ 22, Kỳ 23, Kỳ 24, Kỳ 25, Kỳ 26, Kỳ 27, Kỳ 28, Kỳ 29, Kỳ 30, Kỳ 31, Kỳ 32, Kỳ 33, Kỳ 34, Kỳ 35, Kỳ 36, Kỳ 37, Kỳ 38, Kỳ 39, Kỳ 40, Kỳ 41, Kỳ 42, Kỳ 43, Kỳ 44, Kỳ 45, Kỳ 46, Kỳ 47, Kỳ 48, Kỳ 49, Kỳ 50, Kỳ 51, Kỳ 52, Kỳ 53, Kỳ 54, Kỳ 55, Kỳ 56, Kỳ 57, Kỳ 58, Kỳ 59, Kỳ 60, Kỳ 61, Kỳ 62, Kỳ 63, Kỳ 64, Kỳ 65, Kỳ 66, Kỳ 67, Kỳ 68, Kỳ 68,Kỳ 66, Kỳ 69, Kỳ 70, Kỳ 71, Kỳ 72, Kỳ 73, Kỳ 74, Kỳ 75, Kỳ 76, Kỳ 77, Kỳ 78, Kỳ 79, Kỳ 80, Kỳ 81, Kỳ 82, Kỳ 83, Kỳ 84, Kỳ 85, Kỳ 86, Kỳ 87, Kỳ 88, Kỳ 89, Kỳ 90, Kỳ 91, Kỳ 92, Kỳ 93, Kỳ 94, Kỳ 95, Kỳ 96, Kỳ 97, Kỳ 98, Kỳ 99, Kỳ 100, Kỳ 101, Kỳ 102, Kỳ 103, Kỳ 104, Kỳ 105, Kỳ 106, Kỳ 107, Kỳ 108, Kỳ 109, Kỳ 110, Kỳ 111, Kỳ 112, Kỳ 113, Kỳ 114, Kỳ 115, Kỳ 116, Kỳ 117, Kỳ 118, Kỳ 119, Kỳ 120, Kỳ 121, Kỳ 122, Kỳ 123, Kỳ 124, Kỳ 125, Kỳ 126, Kỳ 127, Kỳ 128, Kỳ 129, Kỳ 130, Kỳ 131, Kỳ 132, Kỳ 133, Kỳ 134,

 

Francis Ponge

Chương 1

Francis Ponge Thi sĩ của Đối Vật

    Đứng về phía sự vật trong thế giới câm nín nhưng quan sát cách nào? Trong bài Les Façons du Regard/Những Cách Nhìn (Poêmes, 1927) Ponge cho rằng: “Nơi con người mỗi khoảnh khắc đều có sẵn một sự chăm chú: đó là cái-nhìn-như-thể-người-ta nói-nó, sự lưu ý về cái xung quanh con người và về chính trạng thái của mình giữa cái vây quanh con người. Hắn sẽ nhận ngay ra sự quan trọng của mỗi sự vật, và sự nài nỉ thầm lặng, những gặng hỏi âm thầm chúng làm để con người nói với chúng, về giá trị của chúng, và nói thay cho chính chúng,– bên ngoài giá trị thông thường về ý nghĩa của chúng,– không có sự chọn lựa và tuy vậy với chừng mực, nhưng chừng mực nào: chừng mực của chính chúng.”[29] Trong My Creative Methode (Méthodes, trang 20,1948) một lần nữa Ponge lại nói tới “Le regard-de-telle-sorte-qu’on-le-parle” nhưng không giải thích mà nói về sự thích thú khi đọc hơn khi nghe ý nghĩa khi người-ta-tư-tưởng-và-người-ta-viết (quand on-pense-et-qu’on-l’écrit).

   Cụm từ “cái-nhìn-sao-cho-như-người-ta nói-nó” khá tối nghĩa. Henri Maldiney sau khi cho rằng với Ponge “nhìn” không chỉ có nghĩa hướng về của sự chú ý nhưng còn là một hành vi, để giữ nguyên sự tỉnh thức thì phải nhìn-lại (re-gard) nghĩa là không ngừng quay trở lại để cho một không gian mới mở ra. “Sự làm mới hoài hủy này định tính chất và minh chứng cho “cái-nhìn-như-thể-người-ta nói-nó.” Không phải chỉ là cố gắng nói với nó mà người ta duy trì sự vật trong sự căng thẳng dưới một lời nói tìm cách thích nghi với sự vật. Và bởi sự vật là, cho một lời nói rộng mở nguyên ủy ra thế giới, đối tượng duy nhất của sự thuận ý của nó, cái sự vật “đặc biệt và có tiếng là bất ngờ” trở thành “hình thức của toàn thể thế giới.”[30]

   Trong bài Le Monde Muet est Notre Patrie/Thế giới Câm là Tổ Quốc của Chúng ta sau khi chủ trương nghệ thuật quan trọng hơn khoa học Ponge lsi5 cho rằng vẻ đẹp của thế giới làm cho đời sống chúng ta khó khăn vì vẻ đẹp đó như một sự bất khả nhưng lưu tồn, chúng ta phải nói hết nhưng lại không thể nói bất cứ điều gì. Thế nên “chúng ta bắt đầu lại mỗi ngày, nói về những chủ đề thật khác biệt và theo một số khá lớn những phương cách có thể tưởng tượng ra được. Chúng ta tuyệt đối không đề ra việc viết một bản văn ĐẸP, một trang sách đẹp, một quyển sách đẹp. Không! Thật đơn giản là chúng ta không chấp nhận BẠI TRẬN bởi: 1. Vẻ đẹp hay lợi ích của tự/thiên nhiên hay, nói cho đúng, của bất kỳ đối tượng nào. Tuy vậy chúng ta không có chút cảm nghĩ nào về một thang bậc cao thấp những sự vật sẽ nói; 2. Chúng ta không chấp nhận bại trận bởi ngôn ngữ. Chúng ta tiếp tục thử… [31]

   Như thế sự kêu gọi của thế giới câm nín đặt con người trong hoàn cảnh phải đối mặt với hai thực tại có mặt cùng lúc và đối nghịch nhau: thế giới và ngôn ngữ. Đó là thách thức của sự vật rút lui vào sự câm nín và sự câm nín cũng lại nằm trong tiếng nói. Ponge hầu như buộc phải chấp nhận một nhiệm vụ ban cho thế giới câm nín lời nói. Chẳng hạn thế giới thực vật khép kín “không có sự lo lắng về thức ăn hay nơi ở…không có những khủng bố, những than vãn, những kêu la, những lời lẽ…Địa ngục của chúng là một loại khác. Chúng không có tiếng nói…Mặc cho tất tật những cố gắng bày tỏ của chúng, chúng chỉ mãi mãi lập đi lập lại hàng nghìn lần cũng chỉ một biểu lộ, cùng một cái lá. Chúng chỉ biểu lộ bằng những tạo dáng của chúng.”[32]

 

___________________________________

[29] Francis Ponge, Les Façons du Regard trong TOME PREMIER trang 139: Il est une occupation à chaque instant en réserve à l’homme: c’est le regard-de-telle-sorte-qu’on-le-parle, la remarque de ce qui l’entoure et de son proper état au milieu de ce qui l’entoure. Il reconnaîtra aussitôt l’importance de chaque chose, et la muette supplication, les muettes instances qu’elles font qu’on les parle, à leur valeur, et pour elle-mêmes, – en dehors de leur valeur habituelle de signification, – sans choix et pourtant avec mesure, mais quelle mesure: la leur proper.

[30] Henri Maldiney, Le Vouloir Dire de Francis Ponge nxb encre marine, 1993 trang 28: Ce renouvellement perpétuel caractérise et justifie le “regard-de-telle-sorte-qu’on-le-parle”. Ce n’est qu’en s’efforçant de la dire qu’on peut maintenir la chose en tension sous une parole qui se cherche en s’accommodant sur elle. Et parce qu’elle est, pour une parole originairement ouverte au monde, l’unique objet de son assentiment, cette chose “particulière et de réputation contingente” est devenue “la forme du monde entier”.

[31]  Francis Ponge, Méthodes trang 165: […] voilà pourquoi nous recommençons chaque jour, à propos de sujets très variés et selon le plus grand nombre de procédés imaginables. Nous ne nous proposons absolument pas d’écrir un BEAU texte, une belle page, un beau livre. Non! Tout simplement nous n’acceptons pas d’être DÉFAIT par: 1. La beauté ou l’intérêt de la nature ou, à vrai dire, du moindre objet. Nous n’avons par ailleurs aucun sentiment d’une hiérarchie des choses à dire; 2. Nous n’acceptons pas d’être défait par le langage. Nous continuons à essayer.

[32] Francis Ponge, Faune et Flore, Le Parti Pris des Choses trong TOME PREMIER trang 91-92: Chez eux, pas de soucis alimentaires ou domiciliaires…pas de terreurs, de plaints, de cris, de paroles…Leur enfer est d’une autre sorte. Ils n’ont pas de voix…Malgré tous leurs efforts pour s’exprimer, ils ne parviennent jamais qu’à répéter un million de fois la même expression, la même feuille. Ils ne s’expriment que par leurs poses.

(còn tiếp)

Francis Ponge

thơ

 

CON BƯỚM

 

   Khi đường đã được chế tạo trong những cành ứa lên trong đài hoa, trông như những cái ly rửa không sạch,–  một nỗ lực lớn xảy ra trên mặt đất nơi những con bướm lập tức cất cánh.

   Nhưng như mỗi con trùng bướm đã có cái đầu đui và còn đen thui và cái thân gầy gò do sự bung mạnh từ đó những cái cánh đối xứng rực sang,

   Rồi thì con bướm loạng quạng chỉ đậu tình cờ trên đường bay, hay như thế.

   Que diêm bay, ngọn lửa của nó không lây lan. Và tuy thế, nó tới nơi quá trễ và chỉ thể quan sát những bông hoa đã nở. Chẳng sao: dáng điệu như một người thợ sửa điện, nó kiểm sát dầu dự trữ ở từng bông hoa. Nó đậu trên những bông hoa mang theo cái thân thể nùi dẻ rúm ró và rồi trả thù   nhục hình không dáng dấp bấy lâu khi của cái kén nằm dưới những cành hoa.

   Con thuyền không khí tẻo teo bị gió xử tệ như cánh hoa vô dụng, nó lang thang trong vườn.

 

 

LE PAPILLON

 

   Lorsque le sucre elaboré dans les tiges surgit au fond des fleurs, comme des tasses mal levées,– un grand effort se produit par terre d’où les papillons tout à coup prennent leur vol.

   Mais comme chaque chenille eut la tête aveuglée et laissée noir, et le torse amaigri par la véritable explosion d’où les ailles symétriques flambèrent.

   Dès lors le papillon erratique ne se pose plus jusqu’au hazard de sa course, ou tout comme.

   Allumette volante, sa flame n’est pas contagieuse. Et d’ailleurs, il arrive trop tard et ne peut que constater les fleurs écloses. N’importe: se conduisant en lampiste, il vérifie la provision d’huile de chacune. Il pose au sommet des fleurs la guenille atrophiée qu’il emporte et venge sa longue humiliation amorphe de chenille au pied des tiges.

   Minuscule voilier des airs maltraité par le vent en pétale superfératoire, il vagabonde au jardin.

 

 

(còn tiếp)

đào trung đo

http://www.gio-o.com/DaoTrungDao.html

 

© gio-o.com 2019