đào trung đạo

(108)

Kỳ 1, Kỳ 2, Kỳ 3, Kỳ 4, Kỳ 5, Kỳ 6, Kỳ 7, Kỳ 8, Kỳ 9, Kỳ 10, Kỳ 11, Kỳ 12, Kỳ 13, Kỳ 14, Kỳ 15, Kỳ 16, Kỳ 17, Kỳ 18, Kỳ 19, Kỳ 20, Kỳ 21, Kỳ 22, Kỳ 23, Kỳ 24, Kỳ 25, Kỳ 26, Kỳ 27, Kỳ 28, Kỳ 29, Kỳ 30, Kỳ 31, Kỳ 32, Kỳ 33, Kỳ 34, Kỳ 35, Kỳ 36, Kỳ 37, Kỳ 38, Kỳ 39, Kỳ 40, Kỳ 41, Kỳ 42, Kỳ 43, Kỳ 44, Kỳ 45, Kỳ 46, Kỳ 47, Kỳ 48, Kỳ 49, Kỳ 50, Kỳ 51, Kỳ 52, Kỳ 53, Kỳ 54, Kỳ 55, Kỳ 56, Kỳ 57, Kỳ 58, Kỳ 59, Kỳ 60, Kỳ 61, Kỳ 62, Kỳ 63, Kỳ 64, Kỳ 65, Kỳ 66, Kỳ 67, Kỳ 68, Kỳ 68,Kỳ 66, Kỳ 69, Kỳ 70, Kỳ 71, Kỳ 72, Kỳ 73, Kỳ 74, Kỳ 75, Kỳ 76, Kỳ 77, Kỳ 78, Kỳ 79, Kỳ 80, Kỳ 81, Kỳ 82, Kỳ 83, Kỳ 84, Kỳ 85, Kỳ 86, Kỳ 87, Kỳ 88, Kỳ 89, Kỳ 90, Kỳ 91, Kỳ 92, Kỳ 93, Kỳ 94, Kỳ 95, Kỳ 96, Kỳ 97, Kỳ 98, Kỳ 99, Kỳ 100, Kỳ 101, Kỳ 102, Kỳ 103, Kỳ 104, Kỳ 105, Kỳ 106, Kỳ 107, Kỳ 108,

GIUSEPPE UNGARETTI

Chương II

Thi pháp và Thi ca của Ungaretti

Ba bài thơ kết thúc La Terra Promessa tương đối ngắn và có phong cách giản dị thanh tao. Ungaretti sử dụng hình thức thơ bốn câu ba khổ trong bài Variazioni su nulla/Những biến khúc về Không tạo cho người đọc sự ám ảnh qua việc lập đi lập lại những hình ảnh chủ chốt: cát, đồng hồ cát, mây, bàn tay, bóng tối tạo nên khoảng trống của cái phù du Không-Không gì:

                               Cái không và không gì hết của cát trôi tuột đi này

                               Trong cái đồng hồ im lặng và bất động,

                               Và, phù du, những dấu vết trên thịt da,

                               Trên làn da lịm tắt của mây...

                               Khi bàn tay lật úp cái đồng hồ,

                               Cát lại tuột xuống tiếp,

                               Ánh bạc ngời tỏa của một đám mây

                               Vào lúc tia sáng lung linh ngắn ngủi buổi rạng đông.

 

                               Bàn tay xoay cái đồng hồ lại trong bóng tối,

                               Và, lặng lẽ trôi đi, cái không và không gì hết

                               Của cát, giờ đây, là tất cả cái gì nghe thấy được

                               Và, nghe thấy, trong bóng tối không tan loãng.

 

Những hình ảnh: hạt cát, cái đổng hồ cát, đám mây, bàn tay đều thanh và đẹp. Bài thơ diễn tả sự chập chờn tan loãng của những khoảnh khắc hạnh phúc, sự bất trắc của trạng thái mơ màng của một tâm hồn đầy đam mê tự nhìn ngắm mình tàn tạ, cô đơn, trơ trọi.

Ở bài hợp xướng mở đầu Cori descrittivi di stati d’animo di Didone/Bài hợp xướng mô tả trạng thái tâm hồn Dido[n] Ungaretti viết: “Dileguandosi l’ombra/Khi bóng tối tan đi” khiến người đọc liên tưởng tới Aeneas của Virgil trong Aeneid trên đường đi tìm dất hứa mất hút nơi cuối trời. Nhưng đó cũng ám chỉ sự lùi xa của một hiện tại tăm tối về một quá khứ sáng rỡ tái sinh: đó là lộ trình của một ký ức u sầu.

                               Khi bóng tối tan đi

                               Trong khoảng cách xa của những năm tháng,

                               Khi những khổ đau không còn thắt xiết...

Theo Joseph Cary nhịp điệu liên tục của những bài thơ ngắn này trải rộng liên hợp nhau cũng giống như trong bài Giorno per giorno/Ngày lại ngày dẫn tới một kinh nghiệm tình cảm phức tạp, môt sự tương hợp của phản ứng tình cảm và những chao đảo suốt dọc một cái trục của cảm thức có sức di động do ký ức cung cấp. Điều này cũng thấy trong Thời cảmKhổ đau như chỉ dấu của trạng thái nội giới.

Chúng ta đã đọc Segreto del Poeta/Sự bí ẩn của thi sĩ và cảm nhận được tình cảnh cô đơn và ngọn lửa hy vọng vụt bùng dậy nơi Ungaretti. Bài kết thúc tập Terra promessa là một hợp xướng viết cho các nữ thủy thần:

                               Giờ đây biển không còn rên xiết hay thầm thì,

                               Biển.

                               Không sóng đó là một cánh đồng không mộng mơ không màu sắc, biển,

                               Biển.

                               Giờ đây biển cũng đáng thương, biển,

                               Biển.

                               Những đám mây không phản chiếu lay động biển,

                               Biển.

                               Nhường giường cho những đám khói mờ tối,

                               Biển.

                               Giờ đây hãy nhìn xem nó đã chết, biển,

                               Biển.

Tất cả những bài thơ, những bài “hợp xướng” trong La Terra promessa Ungaretti đã viết trong khoảng 1952-1961 và đã được Ungaretti cho đăng báo trước đó sau đó xuất hiện dần dần trong tuyển tập Il Taccuino del Vecchio/Sổ tay của một Ông Già hay trong bản in ba bài đoạn rời “Apocalypse” được xuất bản toàn bộ (bản quí không bán) với tựa đề Trước Mùa Cuối ở Turin năm 1967. “Mùa cuối” khởi đầu cho một tìm kiếm trong một tương quan cận kề hơn với những thời gian đã qua và thời gian đợi chờ trong đó Ungaretti bày tỏ suy tư về những kinh nghiệm khổ đau đã trải qua cũng như những niềm hy vọng, những khoảnh khắc hạnh phúc mang theo cùng với hành trang là những kỷ niệm và nền văn hóa của mình. Niềm tin Ky tô giáo cũng lần đầu thấp thoáng xuất hiện trong Đất Hứa. Sa mạc thời tuổi trẻ vốn được coi như rượu chát, như thuốc mê nay đã thành sa mạc thời trung niên đổi khác, sự điên cuồng đã dịu bớt và được thay thế bằng sự có mặt của tính chất mỏng manh phù du của đời người.

(còn tiếp)

đào trung đạo

http://www.gio-o.com/DaoTrungDao.html

 

© gio-o.com 2018