đào trung đạo

thi sĩ / thi ca

(15)

 

 

    ĐỌC THƠ PAUL CELAN

 

  Kỳ 1, Kỳ 2, Kỳ 3, Kỳ 4, Kỳ 5, Kỳ 6, Kỳ 7, Kỳ 8, Kỳ 9, Kỳ 10, Kỳ 11, Kỳ 12, Kỳ 13, Kỳ 14, Kỳ 14,        

 

Tuy cho rằng nguyên tắc soạn thảo bàn văn theo cấu thức âm nhạc của “stretto” giải thích được việc Celan đặt những câu thơ lặp lại ở phía bên phải nhằm nối kết những khổ thơ với nhau nhưng Szondi cho rằng v́ thế những khổ thơ được tŕnh bày như những tiếng nói chứ không có nghĩa của “stetto” theo âm nhạc. Szondi đưa ra diễn giải về danh từ chỉ người và động từ chỉ thời gian của bài thơ:

·         Khổ thư nhất viết ở động từ thời hiện tại, đặt một chủ thể nói với người khác, đưa ra những mệnh lệnh “Không đọc – nh́n /Không nh́n – đi” và lời tuyên bố “Không ai/ âu lo về ngươi”;

·         Ở khổ thơ thứ nh́ động từ ở thời quá khứ chủ vị là một mô tả không dính líu ǵ tới chủ thể “nói” và thay vào đó bằng “họ” danh từ số nhiều ngôi thứ ba qui định “tiếng nói” của khổ thơ này;

·         Trong những đoạn thơ rải rác từ khổ III tới khổ IX; khổ III và khổ IV động từ ở cả hai thời hiện tại lẫn quá khứ, tác giả đưa vào diễn ngôn trực tiếp (direct discourse) của chủ thể ngôi thứ nhất “Đó là tôi, tôi/tôi nằm giữa quí vị”; trong khi khổ thơ IV tuy động từ cũng ở cả th́ hiện tại và quá khứ như ở khổ II nhưng chủ đề ở đây không phải là những chủ thể nữa mà là thời gian họ trải nghiệm hay những h́nh thức của quá khứ “những năm/Những năm, những năm, một ngón tay/sờ soạng lên xuống”;

·         Khổ V được bắt đầu gần như cùng thời khắc với khổ IV có h́nh thức đảo ngược, câu  “ai/che đậy nó lại” ở khỗ IV trở thành “Nó bị che đậy/ai?” và sự đảo ngược thời gian của những khổ I và II gộp lại và khổ IV tách riêng, nói khác đi là sự lật ngược từ hiện tại tới quá khứ tạo nên chuyển vận khởi đầu của bài thơ: đó là hành vi của hồi ức. Và từ khổ V trở đi con đường dẫn dắt người đọc là từ thời quá khứ “Đă tới, đă tới/ Một lời đă tới/ đă tới” sang hiện tại, trước hết  tới hiện tại thông tin về thời gian “Đêm./Đêm-vả-đêm” sau đó là mệnh lệnh hiện thời “Đi/tới con mắt, con mắt đẫm lệ”. Szondi cho rằng con đường từ khổ IV dẫn sang khổ V nằm giữa bài thơ  đánh dấu điểm quay trở lại của bài thơ;

·           Khổ VI dài nhất trong toàn bài khác hẳn năm khổ trước ở chỗ chủ thể nói không c̣n là nói với người khác (bạn)  nữa “như bạn/biết” nhưng lại cùng qui chiếu về chính ḿnh và người khác (bạn) bằng danh từ ngôi thứ ba số nhiều chúng ta “như chúng ta/đọc trong quyển sách,” “Làm thế nào/chúng ta đă chạm – chạm với/ những bàn tay này?” và ở khổ VIII lặp lại danh từ chúng ta “gần/ những bàn tay vô h́nh của chúng ta,” trong khi khổ VII được coi như  khổ xen giữa là gồm cả mô tả và tự sự “Đêm/không trộn lẫn. Những ṿng tṛn,/xanh lá mạ hay xanh, đỏ/h́nh vuông: thế giới thả ḷng/trong tṛ chơi với/những thời khắc mới” hoàn toàn không có những danh từ chỉ người.

Szondi tóm lược: không giống với phần nửa đầu của bài thơ (được đánh dấu bởi chuỗi: danh từ ngôi thứ hai số ít, danh từ ngôi thứ ba số nhiều, danh từ ngôi thứ nhất số ít) phần nửa sau của bài thơ hoàn toàn được xác lập bởi danh từ ngôi thứ ba số nhiều theo lược đồ: Khổ VI ở thời quá khứ chuyển sang thời hiện tại ở khổ VII. Bài Engführung được cấu trúc dưới dạng 4+1+4 trong đó khổ V (1) có vai tṛ chuyển.

       Trở lại t́m hiểu ư nghĩa Celan sử dụng h́nh thức “strette/stretto” Szondi cho rằng chỉ có thể làm được điều này khi trước hết phải đọc những mối tương quan của những tiếng nói trong bài thơ. “Chúng ta nói ‘đọc,’ mặc dù việc thiết lập những tương quan này là một vấn đề của diễn giải, những tương quan không phải là đối tượng, mà là kết quả của việc đọc. Như thế không những chỉ có đối tượng (của việc đọc) mà không có một chủ thể đọc, không có việc đọc – điều này có thể không cần thiết phải chỉ ra, không có nghĩa ám chỉ rằng việc đọc có quyền tạo ra đối tượng của riêng nó mà nó thấy thích hợp – nhưng bởi v́ bản văn hiện hữu trong kết cấu ngôn ngữ của nó, thế nên việc diễn giải sẽ không phải là đưa vào bất kỳ cái ǵ khác lạ nếu diễn giải thử làm một mô tả kết cấu ngôn ngữ này. Sự xen kẽ trong trường hợp bài Engführung chính là việc cấu tạo những tiếng nói khác nhau thành những phần/khổ của bài thơ. Thiết lập bản chất của việc kết dệt này không chỉ liên hệ tới sự hiểu biết những mối tương quan giữa các tiếng nói (và như vậy là giữa những phần/khổ khác nhau của bài thơ), nhưng cũng phải tính đến sự kiện rằng những tương quan này được thực hiện trong bản văn theo một cách không phải là luận giải (discoursive), nhưng đúng ra, nếu ta có thể nói vậy, là âm nhạc: h́nh thức strette/stretto. Điều này có một hậu quả thêm vào  nữa là bởi v́ những tương quan giữa những phần/khổ thơ khác nhau qui định diễn tiến của bài thơ, bởi những mối tương quan này cùng chia sẻ một cách cấu tạo bắt chước h́nh thức âm nhạc, và cũng v́, sau hết, cấu tạo âm nhạc này đă được chuyển thành môi trường tiếng nói và được chỉ định bởi cái tên của nó trong tựa đề của bài thơ cho nên tựa đề này phải được hiểu như một cái tên (chứ không chỉ như một danh từ âm nhạc) nếu chúng ta hy vọng sản xuất được một việc đọc – một việc đọc tất sẽ vẫn là không hoàn chỉnh – bài thơ “Engführung.”(75)

       Chấp nhận việc đọc của ḿnh sẽ măi là không hoàn chỉnh nhưng Szondi không ngần ngại đưa ra diễn giải như sau:

·         Trong phần/khổ thứ nhất chủ thể (tác giả hay người đọc) bị trục xuất vào một vùng đất, đây vừa là vùng của cái chết vừa là vùng của bản văn. Chủ thể tiến vào vùng đất này mà dường như chẳng bận tâm. Câu cuối của khổ thơ này “Không ai/ quân tâm về ngươi – ” trùng với câu đầu của khổ thứ nh́:

·          

[II, I]          Der Ort, wo sie lagen, er hat

       einen Namen – er hat

       keinen. Sie lagen nicht dort. Etwas

       lag zwischen ihnen. Sie

       sahn nicht hindurch.

      

Chốn họ nằm, có

       một cái tên – nó chẳng có

       một cái tên. Họ không nằm ở đó. Có một cái ǵ đó

       nằm giữa họ. Họ

       không nhín thấu qua nó.

      

V́ làm một bài thơ stretto theo h́nh thức âm nhạc nên ít nhất tác giả phải không được dùng những thành ngữ có tính cách luận giải (discursive) nên không những từ và câu trong bài thơ này không những phải được đọc mà những mối tương quan c̣n phải được sáng tạo bằng sự lập lại, biến đổi, và biến thành đối nghịch. Điều này trên hết thảy là đúng đối với những móc nối giữa những tiếng nói trong một bài stretto. Thế nhưng đó lại là những mối tương quan không thể được lập ra một cách chắc chắn bởi chúng ta thông dịch từ một ngôn ngữ chẳng phải là lời nói cũng chẳng phải là luận giải sang ngôn ngữ của việc đọc vốn là cả hai thứ ngôn ngữ nêu trên. Nếu xét mối tương quan giữa khổ I và khổ II người ta có thể thừa nhận rằng dường như những chủ thể hiện ra trong quá khứ trong khổ II là những người được nói tới “Không ai/âu lo về bạn” và một người khác nữa và quá khứ được qui chiếu là quá khứ của một kẻ được tưởng nhớ tới (hay bởi) người đang tiến vào “vùng đất” là bài thơ. Nói thế khác việc tiến tới này cũng là một sự trở lại như trong khổ II chỉ ra “du bist  bist zuhause / bạn đang – đang ở nhà ḿnh.” Theo Szondi câu thơ được tách ra có chức năng chỉ nghĩa không chỉ đối với những khổ/phần bài thơ mà cũng c̣n là những câu thơ riêng rẽ như trong toàn thể tác phẩm của Celan. Việc tách riêng câu thơ riêng biệt này làm mạnh thêm sự lặp lại của động từ “bist/đang,” chỉ tới cái việc đọc muốn biết trong lúc tiếp tục đọc. Tuy nhiên chúng ta chưa biết được có thể chờ đợi thông tin thêm nào kết nối với thông tin kể trên cho biết thêm về “du/bạn” không hay câu thơ này đơn giản chỉ là sự thừa nhận rằng có sự hiện hữu. Nhưng khi đọc thông tin “bist zuhause/ở nhà” có thể thấy “du/bạn” và tính-chất-ở-nhà (at-homeness) cũng chính là vấn đề về sự hiện hữu được đặt ra, hiện hữu này chỉ đạt tới khi người ta trở về nhà ḿnh. Szondi đặt câu hỏi phải chăng trở về nhà ḿnh cũng có nghĩa “trở về nguồn cội”, “trở về nhà mẹ” v́ kư ức không thể bị xóa bỏ của Celan về cái chết của mẹ ḿnh ở trại tập trung. Như vậy hiện hữu thực sự kết hợp với không-hiện-hữu, và hiện hữu chỉ là hiện hữu khi c̣n trung thực, tưởng nhớ không-hiện-hữu.

       Chuyển vận tiến tới cũng có nghĩa quay trở lại nên khổ II triệu dẫn một nơi chốn trong quá khứ “nơi họ nằm” có một cái tên/không có tên là một dạng thức tu từ có tên là correctio  chúng ta phải cứu xét thật kỹ, và luôn nhớ rằng ngay ở đây chủ thể đọc không được cho một thông tin nào về lư do của những điều chỉnh và Szondi cho rằng điều chúng ta có thể nói chỉ là: Nếu nơi chốn có một cái tên trên thực tại lại không có một cái tên, nơi chốn họ nằm thực sự họ không nằm xuống bởi “Có một cái ǵ đó/nằm giữa họ.” Chúng ta chưa biết “cái ǵ đó” là cái ǵ mà chỉ biết cái đó ngăn họ nh́n thấy nhau, nhưng ở khổ III cái ǵ đó sẽ bắt đầu lên tiếng và cho biết bản chất của nó. Đó là ư nghĩa của khớp nối thứ nh́ giữa khổ II và khổ III.

       Trước khi h́nh dung ra được cái ǵ “nằm giữa họ” chúng ta hăy đọc đoạn thơ thứ nh́ của phần/khổ II:

                               [II, 2]   Sahn nicht, nein,

                                           redeten von

                                           Vorten. Keines

                                           erwachte, der

                                           Schlaf

                                           kam über sie.

 

                                           Đă không nh́n, không

                                           đă không nói

                                           những lời/từ. Không một lời nào

                                           tỉnh thức,

                                           giấc ngủ

                                           tràn lên họ.

 

Họ, những người bài thơ qui chiếu tới không nói những lời/từ mà họ redeten von/Worten (spoke of words, talked words/ nói lời.” Đây là một câu thơ khá mơ hồ v́ thiếu cách thế hiện hữu ở nơi đó do sự kiện “Có cái ǵ đó/nằm giữa họ,” đồng thời cũng là sự thiếu hụt lời được bày tỏ qua trung gian của lời/từ, một sự thiếu hụt của chính ngôn ngữ.(76) Theo Szondi ba việc đọc khác biệt nhau như trên là khả dĩ và đều chính đáng và gộp cả ba cách đọc này lại sẽ tạo thành kết cấu (texture) của bài thơ. Cũng vậy keines/không ai trung tính có thể chỉ cả lời/từ lẫn người nói ra lời/từ và sự mơ hồ không rơ nghĩa này càng quan trọng hơn ở những câu thơ tiếp theo “Schlaf/kam über sie/Ngủ/tràn lên họ” cho thấy có sự hàm hồ của việc vừa phủ nhận vửa không phủ nhận bởi v́ chuyển vận của diễn ngôn correction của Celan. Thêm nữa, trong câu “Không [một lời/ngườ] tỉnh thức” cho thấy không những có thiếu vắng [mặt] hiện hữu của những con người mà c̣n cả ngôn ngữ của họ nữa. Trong bài Engführung ngôn ngữ cũng là thực tại, là hiện hữu.

 

       Szondi t́m cách diễn giải “Cái ǵ đó/nằm giữa họ” lên tiếng trong khổ thơ:

Ich bins, ich,

ich lag zwischen euch, ich war

offen, war

hörbar, ich tickte (4) euch zu, euer Atem

gehorchte, ich

bin es noch immer, ihr

schlaft ja.

 

Chính tôi, tôi,

tôi kẻ nằm ngủ giữa quí vị, tôi đă

rộng mở, người ta có thể

nghe tôi nói, tôi ra dấu để nói với quí vị, hơi thở quí vị

tuân phục, và tôi luôn luôn

vẫn chính là tôi, đúng là quí vị

ngủ.

 

Trước hết ta phải đọc những ḍng thơ phía tay phải Kam, kam, Nirgends/  fragt es – Đă tới. Đă tới, Không ai/âu lo cho thấy thấy tiếng của cái nằm giữa họ như vậy không bắt đầu nói bằng cách tuyên bố nó chính là “giấc ngủ” “Schlaf/ kam über sie/ đến với họ” nhưng lại chỉ cho biết nó là cái “đă đến”. Như vậy nó có thể là giấc ngủ và cũng có thể là cái ǵ khác. Ở phần bên phải mở đầu cho khổ II “Kam, kam…” sự lập lại bị thu giảm ngăn chặn câu hỏi về “cái ǵ” đó là ǵ bằng cách tŕ hoăn trả lời tương ứng với sự mơ hồ của câu thơ ở khổ II “Keines erwachte/Không một/tỉnh thức” – Không ở dây có thể là người và cũng có thể là lời. Khúc nối của những câu thơ này theo kiểu của strette/stretto chỉ cho người đọc biết là có một cái ǵ đó tới vả bản chất của nó là việc đến, tới và đến trên “cánh đồng đen kịt” ở đó theo như lời lập lại ở khổ II “không ai/âu lo” về nhưng kẻ mà “cái ǵ đó” này sẽ nói với.

Vậy “cái ǵ đó” là cái ǵ? Szondi cho rằng rất có thể đưa ra câu trả lời mà không đúng với nhiệm vụ đă đề ra cho việc đọc từ đầu, tức là không đi trước chính diễn giải, không đưa ra câu trả lời trước khi diễn giải (việc này rất có thể xảy ra) nhưng tránh đưa ra những liên tưởng, những cách đọc  riêng tư. Vậy “cái ǵ đó” này tự nhận ḿnh là “rộng mở” và “nghe thấy được.” Tự sự, truyện kể (narrative, récit)  của khổ II nay được sáng tỏ: Những người giữa họ có cái ǵ đó nẳm giữa này “redeten von/Worten/spoke/ of words” mà không có lời nào tỉnh thức v́ lời ngủ say thành ra không nói.  Những lời/người “nói/lời” không được hưởng lợi ǵ từ tính chất có thể nghe được của cái “nằm giữa họ”, họ kinh qua “cái ǵ đó” chỉ như cái ngăn cách họ (“Họ/không nh́n xuyên qua nó”) thay v́ nghe thấy tiếng, nh́n thấy sự rộng mở ra của nó, chỉ biết có một cái ǵ đó có thể đă tiến vào. “Cái ǵ đó” này cũng đụng chạm vào họ. Szondi lưu ư người đọc động từ ticken ở đây Celan dùng không chỉ có nghĩa gây, tạo ra tiếng tic-tac mà c̣n có nghĩa chạm vào bằng ngón tay nữa. “Cái đang sờ/chạm, cái đang kêu tíc-tắc, là nhiều thứ cùng một lúc: một cái đồng hồ, biếu tượng của thời gian, chính thời gian, thời gian tính. Cái “giữa họ,” cái “rộng mở,” “nghe thấy được” ở thời điểm kết thúc này không là ǵ khác hơn là thời gian, cái đến/tới, cái chạm vào, cái nó mong ước đem theo cùng với nó là những người nó cất lời nói với. Nó có thành công không?”(77)

_________________________________

(75) Sđd, trang 37: We say  “read,” although establishing these relationships is a matter of interpretation, the relationships being not the object, but the result of reading. So not only is there no object (of reading) without a reading subject, without reading – which, as may be unnecessary to point out, by no means implies that reading has the right to create its own object as it sees fit – but since the text exists in the texture of its language, the interpretation will not be introducing anything foreign if it attempts a description of this verbal tissue. The weave in the case of “Engführung” is precisely the composition of different voices that make up the different sections of the poem. Establishing the nature of this fabric involves not only understanding the relationships between the voices (and thus between the various sections of the poem), but also taking into account the fact that these relationships are realized in the text in a manner that is not discursive, but rather, if one may say so, musical: the stretto form. This has the additional consequence that since the relationships between the various sections of the poem determine its progression, since these relationships partake of a construction that imitates musical form, and since, finally, this musical construction has been transposed into a verbal medium and designated by its name in the poem’s title, this title must be understood as a name (and not merely as a musical term) if we hope to produce a reading – one that will admittedly remain incomplete – of the poem “Engführung.”

(76) Hai dịch giả Susan Bernofsky và Harvey Mendelsohn chú giải: Szondi b́nh luận về cách dịch b́nh thường câu redeten von/Woten sang tiếng Pháp là prononcèrent/des paroles tuy kết hợp được vẻ đẹp và sự chính xác nhưng: một là không chú ư tới hai sắc thái (nuances) quan trọng: trong nguyên bản không nói rằng họ prononcèrent/des paroles, cất lời nhưng họ “nói lời/spoke of words’, “talked words”, hai là dịch “Keines…der Schlaf ” là “nulle ne/s’éveilla” dùng “nulle” ở giống cái trong khi “keines” trong nguyên bản tiếng Đức là danh từ trung tính có thể chỉ cả lời/từ và những người nói chúng khiến bản dịch làm mất đi tính chất hàm hồ lưỡng tính.

(77) Sđd, trang 43: What is touching, what is ticking, is many things at once: a clock, emblem of time, time itself, temporality. What is “between them,” what is “open,” “audible” at this final hour (“your hour/has no sisters,” I), is nothing other than time: what arrives, what ticks, what wishes to carry along with it the ones it is addressing. Does it succeed?

(c̣n tiếp)

 

ĐÀO TRUNG ĐẠO

 

http://www.gio-o.com/DaoTrungDao.html

 

 

© gio-o.com 2016