đào trung đạo

thi sĩ / thi ca

(71)

 

RENÉ CHAR

Char viết về Blanchot

Sau khi đọc bài René Char của Blanchot viết vào tháng Mười 1946 Char trong một bức thư gửi Georges Bataille vào tháng Chạp 1946 khen ngợi bài viết này.[217] Đáp lại Char đề tặng Blanchot bài thơ “Le mortel partenaire/Kẻ chung tay sinh tử” [218]. Điều đáng ngạc nhiên là bài thơ này mấy năm sau đó mới được Char cho vào tập thơ Parole en archipel  trong đó có Poèmes des deux années ghi thời điểm sáng tác 1953-1954.

                                           KẺ CHUNG TAY SINH TỬ

                                                                                     Tặng Maurice Blanchot                         

       Hắn thách thức nàng, tiến thẳng đến trung tâm điểm của nàng, như một vơ sĩ quyền anh sẵn sàng, nhanh nhẹn và mạnh mẽ, trụ vững ở trung tâm vùng tiến thủ của cặp gị hắn. Hắn chằm chằm nh́n những cung cách của đối thủ có ư muốn ngưng trận đấu, đang lưỡng lự giữa một sự nguyên lành thích hợp và kinh nghiệm của cô ta. Trên mặt phẳng mầu trắng nơi diễn ra cuộc đấu, cả hai đă quên đi những khán giả vô cảm. Trong không khí tháng sáu tên gọi của những bông hoa ngày đầu hạ bay chập chờn. Sau cùng một cái nhăn mặt nhẹ lướt trên má đối thủ thứ nh́ và một vệt màu hồng  hiện ra. Cú đánh phản công tung ra đột ngột và dứt điểm. Cặp gị hắn bỗng như vải lanh căng thẳng và đấu thủ nam ngất ngư và mất thăng bằng. Nhưng những cú đấm của đối thủ không tiếp tục lợi thế, từ chối kết thúc. Lúc này đầu của hai kẻ tử thù gục vào nhau. Ngay trong khoảnh khắc này đối thủ thứ nhất hẳn có ư nói nhỏ vào tai đối thủ thứ nh́ những lời sỉ nhục hoàn hảo, hay thích đáng, hoặc bí ẩn, khiến đối thủ thứ nh́ tung ra một cú chớp nhoáng, đột ngột, toàn lực, chính xác, một cú sấm sét hạ gục tay đối thủ khó hiểu.

       Một số người nào đó có một ư nghĩa chúng ta không nhận ra. Họ là ai? Sự bí ẩn của họ nằm sâu hơn cả niềm bí ẩn của đời sống. Họ tiến gần tới đó. Đời sống giết chết họ. Nhưng cái tương lai họ có trong tay cũng được khua thức bằng một lời thầm th́, đoán định họ, sáng tạo họ. Ôi mê cung của t́nh yêu tuyệt cùng ![219]

Bằng những h́nh ảnh có tính tượng trưng Char cực tả trận đồ tư tưởng của Blanchot và cũng để nói về t́nh bạn với Blanchot. Người đọc không khỏi ngạc nhiên về câu mở đầu bài thơ “Il la défiait, s’avançait vers son cœur...” v́ ở đây Char dùng bổ túc từ “la”. Thật khó tưởng tượng có thể có một trận quyền anh giữa một nam với một nữ vơ sĩ! Qui chiếu xuống khổ chót của bài thơ “Certains êtres ont une signification qui nous manque. Qui sont-ils? Leur secret tient au plus profond du secret même de la vie. Ils s’en approchent. Elle les tue. Mais l’avenir qu’ils ont ainsi éveillé d’un murmure, les devinant, les crée. O dédale de l’extrême amour!” ta có thể cho rằng “la” nhằm chỉ “la vie” và nhất là “la mort”.

Căn cứ trên khổ chót này Christophe Biden đưa ra diễn giải: “T́nh bạn sâu xa kết nối Char với Blanchot t́m thấy ở đây một biểu lộ thi ca, biểu lộ này sẽ chẳng xa lạ ǵ với những quan niệm tương lai về t́nh bạn, xóa bỏ mọi giới hạn độc đoán của chung và riêng, của chính trị và của sự thân thiết, cũng không xa lạ ǵ với những phẩm chất t́nh bạn của sự hiện diện (sự chú tâm, lắng nghe, rộng lượng) hay việc trao đổi thư từ (mức độ đậm đặc, lời thầm th́, xin lỗi). Bằng bài thơ, t́nh bạn một lần nữa cho thấy tặng phẩm, sự hóa thân của nỗi thất vọng không c̣n ảo tưởng thành một sự thất vọng thật sự sâu sa hơn, nó không cứu văn nhưng đồng lơa và giải phóng sức mạnh và năng lượng của tác phẩm. Sự “chấp thuận vào một thời đểm không tương lai” trở thành tương lai sáng tạo, tuổi thơ, “sự hồn nhiên và quên lăng, một khởi đầu mới, tṛ chơi, ṿng quay tự chuyển, chuyển động đầu tiên, khẳng định thánh thiện”. Người bạn là chứng nhân, kẻ dẫn đường và thẩm quyền của sức mạnh này. Người bạn biểu cho sự trù bị và nguồn gốc của sự kết thúc.Người bạn là tương lai, là ư thức của lời thầm th́. Hắn có tên là “kẻ chung sức sinh tử” bởi v́ một t́nh bạn như thế sở hữu và tha thứ những ngôn ngữ của nhận thức và của t́nh yêu, cột chống của tính chất nội tại của hai lời nói chờ đợi nhau và thách thức nhau cùng ở trên một tầm cao, và tầm cao này là tầm cao của cái chết, của điều mà cái chết định vị cho tư duy, cho thách thức, cho chối từ.”[220]

Trong phần II Dans la pluie giboyeuse của tập thơ Le Nu perdu (1964-1970) René Char có bài:

       MAURICE BLANCHOT, CHÚNG TA ĐĂ CHỈ THÍCH TRẢ LỜI...

       Chúng ta đă từng chỉ thích trả lời những câu hỏi câm nín, những chuẩn bị cho chuyển dịch. Thế nhưng lại có sự vượt quá giới hạn đột xuất và chết người này...

       Cái vô tận không được giải quyết và không được thấu hiểu: một cái tất cả đă được đặt định, tới hoặc chẳng tới, giống như cái chết, giống như một nơi nào đó mà không khí nhốt kín một ngọn lửa bùng cháy.

       Thời gian đă cận kề ở đó cái ǵ biết ở lại một cách không thể giảng giải chỉ ḿnh nó có thể yêu cầu chúng ta.

       Vứt bỏ tương lai vào toàn thể bản ngă để bảo toàn nó bằng một sự bền lâu, sự tràn lan của một làn khói.

       Bạn mở toang những chối từ không thể cưỡng lại của bạn. Trái đất. Bạn đă xé nát, đă chôn chặt, đă cào sạch! Cái mà chúng ta lên án, do sự bất cẩn mà chúng ta phá bỏ, sẽ không nhận được từ bạn sự lửng lơ của nó.

       Đêm nơi cái chết sẽ đón nhận chúng ta sẽ phẳng lỳ và không có vật làm cân bằng; một chút gió ấm đôi khi được xoay chiều bởi những thần linh trở thành một làn gió mát, không giống thứ gió, làn gió đầu, mở ra từ chúng ta.

       Hắn đă giữ chặt bông hồng nơi đỉnh cao cho tới khi không c̣n những phản đối.

Trong số báo Critique tháng 6, 1966 đặc biệt về Maurice Blanchot bài thơ này được René Char đổi tựa thành “Conversation avec une grappe, en hommage à Maurice Blanchot” được trang trọng đăng ngay ở trang mở đầu số báo.

Câu cuối cùng của bài thơ “Hắn đă giữ chặt bông hồng nơi đỉnh cao cho tới khi không c̣n những phản đối” là lời ca ngợi để đời Char viết về Blanchot và thường được những chuyên gia viết về Blanchot trích dẫn.

Michael Holland nhận định: “...điều đáng chú ư là, khi Char cuối cùng nói về Blanchot, chính ở chỗ diện mạo ông ta nhắc tới, trong một ngôn ngữ luôn luôn vẫn là ngôn ngữ của thi ca, không phải là diện mạo của người viết tiểu thuyết, cũng không phải diện mạo của nhà phê b́nh, mà là diện mạo con người của hành động và dấn thân chính trị.[221]

Năm 1964 – nghĩa là bốn năm sau –  nhân đọc lại lần thứ hai bài “La perversion essentielle/Sự suy đồi thiết yếu” của Blanchot  đăng trên báo Le 14 Juillet [222] số 3, 1959 (sau được đăng lại trên Gramma số 3-4 năm 1976). Char nói về Blanchot:

       GHI CHÚ NHÂN ĐỌC LẦN THỨ HAI BÀI “SỰ XUYÊN TẠC THIẾT YẾU”                                                                             TRONG BÁO “14 THÁNG BẢY” 1959

       Về mặt chính trị, Maurice Blanchot chỉ thể đi từ sự lừa gạt này đến lừa gạt khác, nghĩa là từ sự can đảm này đến can đảm khác, bởi anh ta không có được sự linh động đăng trí của đa số những nhà văn lớn hiện nay. Blanchot gắn chặt với cái chiều sâu mà cảm thức cô đơn ngăn lối, cũng là cái cảm thức mà sự nổi loạn được truyền điện nhưng không dẫn nhiệt, duy chỉ có cái chiều sâu là đáng kể, khi tất cả sẽ là tro hay cát, chỉ c̣n sự lạnh tanh, trong một hiện tại mới, của quá khứ. Tác phẩm của Blanchot chỉ bắt đầu, như thể một cái cây lộng gió, ở mặt sau của câu “Ngủ đi, ngươi chẳng hạnh phúc” này.Tác phẩm chỉ ở đó để đào bới và làm khát những tinh thần thật sáng suốt đồng thời cũng có thể đảo ngược đối diện với những mùa màng chỉ bền lâu giữa tương lai của chúng ta và chúng ta nhờ những phần bên lề phỉnh gạt và những sự phung phí của những giống cỏ.

.  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .

       Trong thời chúng ta người ta chỉ cai trị những quốc gia với những sự đê tiện và những sự xuẩn ngốc của những cá nhân. Cái cho phép coi những đam mê của chúng là đáng khinh bỉ, những đam mê này, với sự tinh tế lo toan của chúng, là cái khá nhất của chính chúng.

       Nước Pháp khác hẳn ở điều này: quyền lực, chẳng quan tâm tới con người và phẩm giá con người, được hoàn tất một cách vô cảm chống lại xă hội, làm cho xă hội bất trắc và cạn kiệt. Sự thôi miên hào nhoáng nối đuôi thôi miên của sự ngột ngạt, mưu mô làm nhạt mầu sự khủng bố xét xử. Lời thề nguyện tuyên truyền về sự khốn khổ, chẳng qua, chỉ là một sự bịa đặt, một sự dâm đăng ở mức độ của một bệnh thần kinh riêng biệt mà thí dụ là việc thiết kế những kỹ thuật mới đă được dựng lên. Sân khấu muôn thưở đúng nghĩa, có tính chất baroque không thể chữa trị, sẽ không chậm trễ trong việc lại làm cho những quyền của nó có giá trị, than ôi! Với một sự chậm chạp tối thượng.[222]

Để hiểu được đoạn Ghi Chú của Char cần có những thông tin liên quan không những tới bài “La perversion essentielle” mà c̣n cả bài “La solitude essentielle” (đăng trên NNRF số 1 tháng Giêng 1953 sau được cho vào L’Espace littéraire trang 13-36) của Blanchot. Bài La perversion essentielle/Sự suy đồi thiết yếu được viết sau bản đúc kết (enquête) 1959 của nhóm Le 14 Juillet được soạn thảo vào tháng 2, 1959. Một cách tóm lược, bài này gián tiếp trả lời vấn nạn đặt ra trong bài “La solitude essentielle” Blanchot viết sáu năm trước. Sự “cô đơn thiết yếu” ở đây chỉ sự cô đơn của nhà văn đối với tác phẩm của ḿnh v́ nhà văn chẳng bao giờ biết được tác phẩm của ḿnh đă chấm dứt: sự bất tận của tác phẩm chỉ là sự bất tận của tinh thần “Tinh thần muốn hoàn tất chỉ trong một tác phẩm, thay v́ thực hiện trong cái vô cùng tận của những tác phẩm và chuyển vận của lịch sử.” Blanchot quan niệm hành động chính trị là không điều kiện của kẻ ẩn danh tương ứng với “Sự cô đơn thiết yếu”. Quan niệm này làm ta nhớ tới việc Blanchot quan niệm về xóa bỏ từ việc đọc Hiện tượng luận Tinh thần của Hegel chủ trương triệt hủy sự quay trở lại của người công nhân bằng tác phẩm. Blanchot đối nghịch quan niệm của Hegel khi cho rằng “la perversion essentielle/sự suy đồi thiết yếu” là hiện tượng ngược lại với điều Hegel nói ở trên, bằng sự suy đồi này tác nhân lịch sử bằng tác phẩm của ḿnh tác động vinh danh lịch sử và phóng chiếu hữu của ḿnh ra khỏi bản thân: hữu hoàn tất trong Lịch sử và Hoàn tất Lịch sử bởi chính bản ngă của ḿnh: Con người lật ngược những giá trị thiêng liêng. Thế nhưng, cũng như trong bài “La solitude essentielle” Blanchot phân biệt “sự cô đơn thiết yếu” với “sự cô đơn trong thế giới” (la solitude dans le monde) cho nên cần phải đẩy xa sự suy đồi thiết yếu tới mức độ cùng tận để lật ngược, biến đổi và lật mặt nạ sự cô đơn và cho nó một h́nh ảnh của kẻ thông suốt (image de mage), của uy quyền và của thẩm mỹ với đặc điểm là “biến đổi quyền lực chính trị thành một sức mạnh của cứu rỗi”. Đặt trong hoàn cảnh chính trị lúc bấy giờ của nước Pháp Blanchot nhấn mạnh tới sự khác biệt giữa độc tài với cứu rỗi giả trá: de Gaule không phải là một nhà độc tài v́ ông ta tuy có thể làm mọi sự nhưng ông ta đă không làm ǵ, “de Gaule không phải là con người của hành động”, “thụ động một cách kỳ lạ.” Blanchot  không cho rằng sự thụ động của de Gaule là sự thượng tôn dân chủ mà ngược lại là một hành động thâm hiểm đeo mặt nạ nhân bản làm tê liệt khả năng phản tư, chối từ và bất tuân.

Như chúng ta đă biết René Char từng gọi de Gaule là “Tướng tḥ ḷ” nên rất tương đắc với bài viết này của Blanchot. Cũng v́ bài viết này mà Blanchot chia tay với một số bạn hữu , chẳng hạn Jean Paulhan có quan điểm thực dân và chống lại cuộc chiến giành độc lập của Algérie , nhưng lại tạo được t́nh bạn mới với một số nhà văn khác, đặc biệt với Char. Như vậy chúng ta mới hiểu được tại sao Char viết: “Về mặt chính trị, Maurice Blanchot chỉ thể đi từ sự lừa gạt này đến lừa gạt khác, nghĩa là từ sự can đảm này đến can đảm khác, bởi anh ta không có được sự linh động đăng trí của đa số những nhà văn lớn hiện nay. Blanchot gắn chặt với cái chiều sâu mà cảm thức cô đơn ngăn lối, cũng là cái cảm thức mà sự nổi loạn được truyền điện nhưng không nhiệt t́nh, duy chỉ có cái chiều sâu là đáng kể, khi tất cả sẽ là tro hay cát, chỉ c̣n sự lạnh tanh, trong một hiện tại mới, của quá khứ.” Bài thơ của Char cũng chỉ ra ở Blanchot tác phẩm văn chương gắn kết với can đảm chính trị. Hai người dấn thân vào hành động trong tương lai, mở ra không gian không thể ngờ vực, chào đón “những mùa màng thực sự”, thách thức sự thôi miên do ngột ngạt, những âm mưu chính trị, đặt niềm tin tuyệt đối vào tương lai dù tương lai đến chậm “Sân khấu muôn thưở đúng nghĩa, có tính chất baroque không thể chữa trị, sẽ không chậm trễ trong việc lại làm cho những quyền của nó có giá trị, than ôi! Với một sự chậm chạp tối thượng.”

_____________________________________

 

[217] Theo tài liệu của Christophe Biden trong Maurice Blanchot, Le partenaire invisibe chú thích (1) trang 303  Char viết trong thư gửi Bataille vào tháng Chạp 1946: “Tôi tin rằng Blanchot không thể thiếu ở nơi hắn bày tỏ cũng như bạn là thiết yếu nơi của bạn. Cả một vùng chính yếu của con người ngày nay tùy thuộc vào bạn”. (Georges Bataille, Choix de lettres trang 402)

[218]  Bài thơ này trong tập La parole en archipel cũng như trong tuyển tập Présence commune có in ḍng chữ đề tặng Maurice Blanchot nhưng khi soạn Œuvres complètes cho nhà Gallimard René Char – cũng như với phần lớn những bài thơ có lời đề tặng khác – đă bỏ đi lời đề tặng này.

[219]

                                                    LE MORTEL PARTENAIRE

                                                                                                      À Maurice Blanchot

         Il la défiait, s’avançait vers son cœur, comme un boxer ourlé, ailé et puissant, bien au centre de la géométrie attarquante et défensive de ses jambes. Il pesait du regard les qualités de l’adversaire qui se contentait de rompre, cantonné entre une virginité agréable et son expérience. Sur la blanche surface où se tenait le combat, tous deux oubliaient les spectateurs inexorables. Dans l’air de juin voltigeaient le prénom des fleurs du premier jour de l’été. Enfin une légère grimace courut sur la joue du second et une raie rose s’y dessina. La riposte jaillit sèche et conséquente. Les jarrets soudain comme du linge tendu, l’homme flotta et tituba. Mais les poings en face ne pourvuivirent pas leur advantage, renoncèrent à conclure. À présent les têtes meurtries des deux battants dodelinaient l’une contre l’autre. À cet instant le premier dut à dessein prononcer à l’oreille du second des paroles si parfaitement offansantes, ou appropriées, ou énigmatiques, que celui-ci fila, prompte, totale, précise, une foudre qui coucha net l’incompréhensible combattant

         Certains êtres ont une signification qui nous manque. Qui sont-ils? Leur secret tient au plus profond du secret même de la vie. Ils s’en approchent. Elle les tue. Mais l’avenir qu’ils ont ainsi éveillé d’un murmure, les devinant, les crée. O dédale de l’extrême amour!

[220] Christophe Biden, Maurice Blanchot, Partenaire invisibe trang 303: L’amitié profonde qui lie Char à Blanchot trouve ici une expression poétique, qui ne sera étrangère ni aux conceptions futures sur l’amitié, effaçant toute limitation arbitraire du public et du privé, du politique et de l’intimité, ni aux qualités amicales de la présence (l’attention, l’écoute, la générosité) ou de la correspondance (la densité, le murmure, le pardon). Par le poème, l’amitié se révèle une fois encore le don, la métamorphose du désespoir désenchanté en un désespoir plus profond, qui ne sauve pas mais rend complice et libère la force et l’énergie de l’œuvre. Le “consentement à un temps sans avenir” devient avenir créateur, enfance, “innocence et oubli, commencement nouveau, jeu, roue qui se meut d’elle-même, premier mobile, affirmation sainte”. Il en figure la réserve et la source d’expiation. L’ami est le témoin, le guide et l’autorité de cette puissance...L’ami est l’avenir, la conscience du murmure. Il a pour nom “le mortel partenaire” car une telle amitié possède et excuse les langages du savoir et de l’amour, vit de l’immanence de deux paroles qui s’attendent et se défient de rester à la même hauteur, et cette hauteur est celle de la mort, de ce que la mort enjoint de penser, de braver, de refuser.

[221] Michael Holland, Avant-Dire, Essais sur Blanchot, nxb Hermann 2015, chương XII Parole(s) du Pugiliste: Entre Char et Blanchot trang 331: Or, ce qui frappe, quand Char en vient à parler de Blanchot, c’est que la figure qu’il évoque, dans un langage qui demeure toujours celui de la poésie, ce n’est ni le romancier, ni le critique, mais l’homme d’action et de l’engagement politique.

 

[222]

                       MAURICE BLANCHOT, NOUS N’EUSSIONS AIMÉ RÉPONDRE...

         Nous n’eussions aimé répondre qu’à des questions muettes, à des préparatifs de mouvement. Mail il y eut cette impromptue et fatale transgression...

         L’infini irrésolu et incompris: un tout établi, accédant et n’accédant pas, comme la mort, comme un ailleurs qu’à l’air captif un feu récite.

         Le temps est proche où ce qui sut demeurer inexplicable pourra seul nous réquirer.

         Rejeter l’avenir au large de soi pour le maintien d’une endurance, le déploiement d’une fumée.

         Tu déplois tes irrésistibles refus, terre. Tu as broyé, enseveli, ratissé! Ce que nous récusons, dont l’imprudence nous désœuvre, n’obtiendra pas de toi son sursis.

         La nuit où la mort nous recevra sera plane et sans tare; le peu de sirocco autrefois réparti par les dieux devenant soffle frais, distinct de celui qui, le premier, était éclos de nous.

         Il maintint la rose au sommet jusqu’à la fin des protestations.

 

[223] Le 14 Juillet là tờ tạp chí do Dionys Mascolo và Jean Schuster đứng chủ biên ra đời sau khi tướng de Gaulle lên nắm chính quyền và cuộc chiến giành độc lập của Algérie đang diễn ra. Ban biên tập gồm hầu hết là đảng viên đảng cọng sản Pháp (nhưng chống lại chủ nghĩa Stalin và không được đảng cộng sản Pháp chấp nhận) và những trí thức thiên tả do Marguerite Duras qui tụ như Edgar Morin, Maurice Nadeau, Claude Roy, Elio và Ginetta Vittorini, Robert Antelme...có chủ trương “trung thành với cách mạng, quay trở lại với kháng chiến đă bị những đảng viên theo de Gaule và Stalin tước đoạt, từ chối vô điều kiện quyền lực thiên mệnh, kêu gọi sự liên kết giới trí thức với giai cấp công nhân, chủ trương bất tuân”. Nhóm này thường hội họp tại căn hộ của Marguerite Duras ở phố Saint-Benoît và do lời kêu gọi của Mascolo và Robert Antelme là những người được Blanchot tin cậy nên Blanchot đă tham dự kể từ năm 1958 và những năm của thập niên 60 để tiếp tục những hoạt động chính trị. Vào tháng Chạp 1958 khi tướng de Gaule vận động tranh cử ngày 19 tháng 4, 1959 Le 14 Juillet ra số 3 đưa ra công chúng một bản câu hỏi (questionnaire) gửi cho hàng trăm nhà văn do Blanchot, Breton, và Schuster đứng kư tên nhưng chỉ được xuất bản trong số cuối cùng Le 14 Juillet vào 18 tháng 6.

 

NOTE À PROPOS D’UNE DEUXIÈME LECTURE DE “LA PERVERSION ESSENTIELLE” IN “LE 14 JUILLET” 1959 trong Recherche de la base et du sommet trang 124-125:

         Politiquement, Maurice Blanchot ne peut aller que de déception en déception, c’est-à-dire de courage en courage, car il n’a pas la mobilité oublieuse de la plupart des grands écrivains contemporaines. Blanchot est fixé à la profondeur que la détresse entrave, celle aussi que la profondeur révolte électrise mais ne toque pas, seule profondeur qui comptera lorsque tout sera cendre ou sable, n’ayant froide valeur, dans un nouveau présent, que du passé. L’œuvre de Blanchot ne commence, tel un arbre de plein vent, qu’au revers de ce “Dormez, vous n’étiez point heureux”. Elle n’est là que pour creuser et assoiffer des esprits très claivoyants en même temps que réversibles, en regard de saisons qui ne se perpétuent entre notre avenir et nous que grâce à des marges trompeuses et à des prodigalités de graminées.

.  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .

          On ne gouverne, de nos jours, les nations qu’avec les turpitudes et les fadaises des individus. Ce qui permet de tenir pour détestables leurs passions qui sont, avec leur finesse anxieuse, le meilleur d’eux-mêmes.

         La France s’illustre en ceci: le pouvoir, indifférent à l’homme et à son qualificatif, s’y accomplit inexorablement contre la société, la déconcerte et la deconfit. L’hypnose argentée succède à l’hypnose d’épouvante, la ruse affadissante à la terreur avocassière. Le sacrement qui propage ce malheur n’est, quant à lui, qu’une fiction, une obscénité au niveau d’une névrose particulière que l’exemple et l’étalement des récentes techniques ont implantée. Le vrai théâtre éternel, incurablement baroque, ne tardera pas à faire valoir de nouveau ses droits, hélas! Avec une suprême lenteur.

                                                                                                                                                         1964

(c̣n tiếp)

đào trung đạo