ĐÀO TRUNG ĐẠO

thi sĩ / thi ca

    (1)

                                                                                                                                                                                                              Comment vivre sans inconnu devant soi?

                                                                                                                                                                                                    René Char  (Le poème pulvérisé/Argument)

                                                                                                                                                                               Làm sao sống mà không có cái không biết ở  phía trước?

      

Bài thơ khai sinh thi sĩ sau khi thi sĩ viết xuống ngày tháng sáng tác và kư tên. Không bài thơ nào lại không có ngày tháng. Ngày tháng và chữ kư thuộc về quá khứ nhưng thi sĩ bao giờ cũng là thi sĩ vị lai, thi sĩ của tương lai (le poète à venir). V́ bài thơ viết ra phải chờ người đọc. Không gian văn chương giữa thi sĩ và người đọc mở ra trong tương lai này là một không gian tuy thân hữu nhưng là một tương quan hiện diện khiếm diện. Người làm thơ chỉ là thi sĩ đích thực khi hắn viết ra bài thơ toàn thể những bài thơ hắn đă viết ra chỉ là một bài thơ duy nhất trong đó Thi ca là một ẩn mật: bằng ngôn ngữ riêng ḿnh thi sĩ gián tiếp biểu đạt quan niệm của ḿnh về Thi ca. Không thể có một định nghĩa cho Thi ca. V́ mỗi thi sĩ tuy hướng đến Thi ca nhưng lại có một quan niệm riêng về Thi ca: ngay cả đối với thi sĩ Thi ca là một cái “chưa/không được biết”(inconnu) v́ vậy làm thơ là trả lời tiếng gọi của Thi ca. Thay v́ hỏi “Thi ca là ǵ?”một câu hỏi vô nghĩa để t́m kiếm yếu tính của Thi ca chúng ta hỏi theo cách đặt câu hỏi của Heidegger về Hữu “Thi ca đến đâu rồi?” (Qu’en est-il de la Poésie?) Những bài thơ thi sĩ viết ra là những dấu vạch của từ (word traces) của ngôn ngữ thi ca. Đi theo những những dấu vạch thi sĩ để lại này là cách tiếp cận Thi ca thích đáng nhất. V́ vậy những bài viết đoạn rời về một số thi sĩ thân hữu sau đây tuy không theo thứ tự thời gian trên khai sinh của các thi sĩ này nhưng có trung tâm là những dấu vạch của từ trên muôn ngả Thi ca.

  

    PAUL CELAN (1)

      (1920-1970)

  

Có thể nói Paul Celan (1) là một trong những thi sĩ lưu đầy vô xứ kiệt xuất nhất của Thi ca thế giới nửa sau thế kỷ 20. Tuy Paul Celan nổi tiếng ở Pháp và Đức từ những năm cuối thập niên 60 thế kỷ trước nhưng hơn một thập kỷ sau thơ của Celan mới được một số ít người đọc Anh-Mỹ biết tới qua những chuyên gia về lư thuyết phê b́nh văn chương có khuynh hướng ngả theo tư tưởng văn chương triết học Đức-Pháp hiện đại với những Hans-Georg Gadamer, Theodor Adorno, Peter Szondi, Maurice Blanchot, Otto Pöggeler, Emmanuel Levinas, Jacques Derrida, Michel Foucault, Jean Bollach, Philippe Lacoue-Labarthes, Werner Hamacher… đều là những người ngưỡng mộ và đă viết những chuyên luận đặc sắc về Celan. Ngoài ra cũng phải kể mối liên hệ khá đặc biệt và phức tạp giữa Celan và Heidegger trong sự ngưỡng mộ Celan. Từ những năm cuối thập niên 80 cho đến nay những chuyên khảo về Paul Celan xuất hiện ngày càng nhiều ở Đức, Pháp, và Mỹ với con số không thua kém những sách viết về Kafka. Tuy nhiên cho đến nay dường như thơ của Celan vẫn c̣n khá xa lạ với người đọc Việt Nam.

   Thi ca của Celan chống lại Thi ca: đó là Thi ca chống lại sự xóa bỏ, lăng quên, tức là chống lại thứ Thi ca muốn xóa bỏ, đẩy lịch sử vào lăng quên qua việc đeo mặt nạ cho lịch sử hay bóp méo sự thật lịch sử do quyền lực bạo động trị v́ một thời. Thế nên thi ca của Celan cũng có thể hiểu theo nghĩa đem bạo động quay trở lại để chống lại bạo động, tra vấn lịch sử như một từ khước việc xóa bỏ lịch sử một cách bạo động, làm/viết thơ như một hành vi bạo động. Trên hết thảy là chống lại sự quên lăng những “thời điểm” những ngày tháng (dates) của những biến cố tang thương trong lịch sử nhân loại. Thời gian tự nó có thể chạy trốn nhưng văn tự vẫn ghi lại những biến cố đó bằng những dấu vạch không thể bị xóa bỏ, chuyển vận sự thật lịch sử vào ngôn ngữ thi ca. Trong toàn bộ những bài thơ của Celan xuyên suốt vị thế chống lại sự lăng quên, xóa bỏ này. Sống trong thời khổ nạn thi sĩ là “kẻ cuối cùng lên tiếng” (le dernier à parler) như Blanchot đă nói.

   Trong bài diễn từ Der Meridian/Kinh tuyến Celan định nghĩa bài thơ, coi bài thơ như cuộc đối thoại không những với [những] hữu mà c̣n với những sự vật:

         Khi chúng ta nói với những sự vật theo cách đó chúng ta luôn luôn thấy ḿnh chạm mặt với câu hỏi về nguồn cội và sự tàn tạ của chúng: một câu hỏi “luôn luôn mở” và “không đi đến một kết thúc,” câu hỏi chỉ hướng về tính chất mở, về tự do – chúng ta ở bên ngoài, ở một khoảng cách xa đáng kể.

         Bài thơ, tôi tin rằng, cũng t́m kiếm nơi chốn đó.

         Bài thơ?

         Bài thơ với những h́nh ảnh và những chuyển nghĩa của nó?

         Thưa quí Ông quí Bà, phải chăng điều tôi thật sự muốn nói về, khi, từ hướng này, trong hướng này, với những từ này, là nói về bài thơ – không, về thơ?

         Tôi nói về bài thơ không hiện hữu!

         Bài thơ tuyệt đối – không, nó không hiện hữu, nó không thể hiện hữu.

         Nhưng mỗi bài thơ có thật, ngay cả bài thơ ít khoe khoang nhất, đều chứa đựng câu hỏi không thể tránh được này, sự đ̣i hỏi lạ thường này.

         Và rồi, những h́nh ảnh sẽ là ǵ?

         Cái h́nh ảnh đă được quan nhận và được quan nhận một lần, một lần nữa và lại một lần nữa, và chỉ bây giờ và chỉ tại đây. Và bài thơ như vậy sẽ là nơi chốn ở đó mọi sự chuyển nghĩa và ẩn dụ được triển khai ad absurdum.

 

   Trước khi t́m hiểu tiếp vế Thi ca của Celan chúng ta hăy đọc ba bài thơ trong tập Von Schwelle zu Schwelle (1955) của Paul Celan: (2) kèm những bản dịch sang Pháp văn và Anh văn:

SPRICH AUCH DU                                       NÓI ĐI CẢ NGƯƠI NỮA   

Sprich auch du,                                                Nói đi cả ngươi nữa,

sprich als letzter,                                               nói như kẻ cuối cùng nói,                           

sag deinen Spruch.                                           nói lời ngươi.                                

 

Sprich –                                                            Nói –                          

Doch scheide das Nein nicht vom Ja.              Nhưng đừng tách rời Không khỏi Có.

Gib deinem Spruch auch den Sinn:                  Hăy cho lời ngươi ư nghĩa này:      

gib ihm den Schatten.                                     Hăy cho nó bóng.

 

Gib ihm Schatten genug,                                  Cho nó đủ bóng,                           

gib ihm so viel,                                                 cho nó thật nhiều bóng                  

als du um dich verteilt weisst zwischen           ngươi biết quanh ngươi bóng rộng trải

Mittnacht und Mittag und Mittnacht.              giữa nửa đêm giữa trưa nửa đêm.

 

Blicke umber:                                                   Hăy nh́n quanh đây:                    

sieh, wie’s lebendig wird rings –                      Nh́n như thấy quanh đây mọi vật vẫn sống – 

Beim Tode! Lebendig!                                     Trong cái chết! C̣n sống!                        

Wahr spricht, wer Schatten spricht.                 Nói đúng thật, kẻ nói bóng.    

 

Num aber schrumft der Ort, wo du stehst:      Hăy nh́n nơi ngươi đang đứng như co rút lại:

Wohin jetzt, Schattentblösster, wohin?           nay ngươi muồn về đâu, ngươi kẻ không bóng,

  về đâu?          

Steige. Taste empor.                                         Hăy trèo lên. Hăy vươn cao lên nữa.

Dünner wirst du, unkenntlicher, feiner!           Thật mảnh dẻ, không thể nhận diện,

thật mảnh!

Feiner: ein Faden,                                             Chính là thứ ngươi trở thành, thật mảnh,

                                                                                                           một sợi chỉ,

an dem er herabwill, der Stern:                        dọc theo sợi chỉ này ngôi sao muốn hạ    

um unten zu schwimmen, unten,                      để bơi lội, dưới thấp,

nơi nó tự thấy ḿnh lung linh  

wo er sich schimmern sieht:                             lấp lánh: trong gợn chuyển

in der Dünnung                                                của những từ/lời lang thang.                     

wandernder Worte.

                                    

 

ARGUMENTUM E SILENTIO                  ARGUMENTUM E SILENTIO

                               Für René Char                                                             Tặng René Char

 

An die Kette gelegt                                      Khóa chặt vào xiềng xích

zwischen Gold und Vergessen:                     giữa Vàng và Quên lăng:

die Nacht.                                                      Đêm.

Beide griffen nach ihr.                                  Cả Vàng cùng Quên lăng gh́ xiết Đêmt.

Beide ließ sie gewähren.                               Đêm phó mặc.

 

Lege,                                                                         Hăy đặt, đến lượt ngươi

lege auch du jetzt dorthin, was herauf  –      đặt điều ngươi nghĩ tưởng bên Đêm

dämmern will neben de Tagen:                     nhắm đến những ngày:

das sternüberflogene Wort,                                       lời vút bay trên sao trời,

das meerübergossne.                                          ngập tràn đại dương.

                                                                                                           

Jadem das Wort     .                                      Lời hắn gửi cho mỗi người,

Jadem das Wort, das ihm sang,                     Lời với hắn thành bài ca

als die Meute ihn hinterrücks anfiel  –          khi sát thủ tấn công hắn, nham hiểm;

Jadem das Wort, das ihm sang und erstarrte.           lời cho mỗi người

                                                                   trước khi lời đóng băng                            

đă là bài ca

                                                                     

                                                                    

Ihr, der Nacht,                                                           Nhưng Lời cho Đêm,

das sternüberflogne, das das meerübergossne,  vút bay bên trên sao trời, ngập tràn đại dương, 

ihr das erschwiegne,                                                  lời cho Đêm,

dem das Blut nicht gerann, als der Giftzahn            trái của niềm im lặng,

die Silben durchstieß.                                                mà máu huyết

                                                                                tích tụ ở những con chữ

                                                                               bị xuyên thủng bởi răng tẩm độc           

 

Ihr das erschwiegne Wort.                            Cho đêm Lời của niềm im lặng.

Wider die andern, die bald,                                      Chung cuộc làm nhân chứng,

die umhurt von den Schinderohren,                          chống lại những kẻ, bị mê hoặc,

auch Zeit und Zeiten erklimmen,                  bởi đôi tai đồ tể,

zeugt es zuletzt,                                             nhảy múa trên thời gian và những thời đại,

zuletz, wenn nur Ketten erklingen                     chung cuộc, khi xiềng xích ngân vang,

zeugt es von ihr, die dort liegt                                  lời chứng nhân của đêm thiếp ngủ

zwischen Gold und Vergessen,                     giữa vàng và quên lăng,

beiden verschwistert von je  –                                   em gái muôn đời –

 

Denn wo                                                        Hăy nói cho ta nghe

dämmerts denn, sag, als bei ihr,                             nơi đâu Lời sẽ b́nh minh nếu chẳng phải bên Đêm,

die im Stromgebiet ihrer Träne                      đêm ngập lệ tràn

tauchenden Sonnen die Saat zeigt                cho mặt trời ngụp lặn nh́n thấy những hạt giống

aber und abermals?                                        không chỉ một lần?

 

SCHIBBOLETH                                                SCHIBBOLETH    

 

Mitsamt meinen Steinen,                                    Xuôi theo những đá tảng của tôi,

den grossgeweiten                                               lệ tràn mi

hinter den Gittern,                                               sau chấn song ngục tù

 

schleiften sie mich                                               chúng nó lôi tôi

in die Mitte des Marktes,                                    ra ngay giữa chợ,

dorthin                                                                 chính là nơi

wo die Fahne sich aufrollt, der ich                      lá cờ mở tung ra, nhưng tôi

keinerlei Eid schwor.                                           chẳng cất lời thề.

 

Flöte,                                                                   Sáo,

Doppelflöte der Nacht:                                       sáo đôi của đêm:

denke der dunklen                                              hồi tưởng màu tối đậm

Zwillingsröte                                                       rạng đông đỏ thắm song sinh         

In Wien und Madrid.                                          ở Vienne và Madrid.              

 

Setz deine Fahne auf Halbmast,                         Hăy treo lửng lơ trên cột lá cờ của ngươi,

Erinnrung.                                                           Kư ức              

Auf Halbmast                                                      Nơi khúc giữa cột cờ

für heute und immer.                                           hôm nay và măi măi.

 

Herz:                                                                    Tim:

gib dich auch hier zu erkennen,                           ngay nơi đây hăy cho mọi người biết

hier, in der Mitte des Marktes.                          đây nơi giữa chợ

Ruf’s, das Schibboleth, hinaus                         gào lớn hết sức schibboleth

in die Fremde der Heimat:                                  vào sự lạ lẫm của quê nhà

Fabruar. No parasan.                                           Tháng Hai. No parasan.

 

Einhorn:                                                               Thiên mă độc sừng:

du weisst um die Steine,                                     ngươi biết trong đá là ǵ        

du weisst um die Wasser,                                    ngươi biết trong nước là ǵ

komm,                                                                 hăy tới đây,

ich führ dich hinweg                                           ta sẽ đưa ngươi đi thật xa

zu den Stimmen                                                  về nơi những tiếng nói

von Erstremadura.                                               của thành phố Erstremadura.

 

[1. Shibboleth: theo điển cố trong Kinh Do thái giáo đó mật khẩu của người bộ lạc Gileadites dùng để chống lại sự xâm nhập của người Ephraimites cũng là một bộ lạc khác cũng của Israel. Từ đó “Shibboleth” như từ ngữ được dùng để nhận nhau của những người thuộc về cùng nhóm/đoàn thể…2. Einhorn cũng c̣n là tên người bạn thân thiết thời trẻ tuổi của Celan khi cả hai theo phe ủng hộ chế độ Cọng ḥa ở Roumania. 3. No parasan: là câu ḥ hét của cuộc tập hợp biểu dương của những người ủng hộ phe Cọng ḥa trong cuộc Nội chiến Tây Ban Nha hô lớn “No parasán!”(chúng không tiến qua được). 4. Estremadura: tên một thành phố ở Tây Ban Nha biên giới với Bồ Đào Nha nằm phía Tây-Nam Madrid nơi xảy ra cuộc chiến đẫm máu thời Nội chiến.]

 

 

_______________________________

(1)       Sơ lược tiểu sử Paul Celan: tên thật là Paul Antschel sinh ngày 23 tháng 11, 1920 ở thành phố Czernowitz thuộc Vương quốc Roumania (nay là thành phố Chernivtsy, Ukraine) tự trầm ở sông Seine, Paris ngày 20 tháng 4, 1970. Gia đ́nh gịng dơi Do thái. Sau khi tốt nghiệp Trung học ở quê nhà năm 1938 Celan qua thành phố Tours, Pháp theo học ngành Y nhưng khi Đai chiến II bùng nổ Celan trong khi về thăm cha mẹ bị kẹt lại ở Czernowitz nên phải theo học Văn chương Pháp-Đức ở đại học quê nhà. Thế chiến II bùng nổ Phát xít Đức chiếm đóng Czernowitz, Celan bị bắt đi cưỡng bách lao động. SS đốt phá đền thờ Do thái, tạo cuộc phần thư truyền thống Roumania, tập trung dân gốc Do thái vào đêm 20 tháng 6, 1942 đưa lên xe lửa chở đến những trại tập trung xa xôi hẻo lánh. Trước đó Celan đă thuyết phục cha mẹ nên chạy trốn Phát xít Đức nhưng cha mẹ Celan không chịu. May mắn cho Celan là đă vắng mặt vào đêm 20/6/1942. Cha của Celan chết v́ bệnh ban sốt (typhus) và mẹ bị xử bắn trong trại tập trung. Về phần ḿnh Celan bị tù trong trại lao động khổ sai cho măi tới tháng 2, 1944 khi trại lao động khổ sai này buộc phải đóng cửa v́ băo tuyết dữ dội nên Celan được phép ra tù về sống ở Czernowitz cho tới năm 1947. Khi Hồng quân chiếm đóng Czernowitz Celan tiếp tục theo học đại học ở tỉnh nhà và làm công nhân cho một dưỡng trí viện tâm thần để tránh bị xung vào quân đội. Năm 1945  Liên Xô đột ngột cho phép dân Roumania trở về quê quán. Celan về sống ở Bucarest nên có dịp gặp gỡ giới trí thức văn nghệ sĩ đồng hương và kiếm sống bằng nghề phiên dịch, làm nhân viên cho nhà xuất bản các tác phẩm văn học Nga và làm thơ bằng tiếng Roumania và tiếng Đức. Năm 1947 Celan di dân qua Vienna và năm sau qua Paris sống bằng nghề trợ giáo và dịch thuật, tiếp tục học đại học chuyên về Văn chương Đức, tốt nghiệp và được tuyển dụng làm giáo sư Đức văn ở École Normale Supérieure, kết thân với các thi sĩ, học giả, nghệ sĩ nổi tiếng như René Char, Henri Michaux, André du Bouchet (dịch giả thơ Celan sang Pháp văn), Jean Bollach, Beda Allemann, E.M Cioran, Edmond Jabès…, các nữ thi sĩ Nelly Sachs, Ingeborg Bachmann và kết hôn với họa sĩ Gisèle de Lestrange. Đây là khoảng thời gian Celan sáng tác sung sức nhất: cho ra đời những tập thơ quan trọng như Mohn und Gedächtnis (1952), Von Schwelle zu Schwelle (1955), Sprachgitter (1959), Die Niemandrose (1963), Atemwende (1967), Fadensonnen (1968), Lichtzwang (1970), Schneepart (xuất bản năm 1971 sau khi Celan tự vẫn) và Zeitgehöft (1976). Làm thơ bằng tiếng Đức  – ngôn ngữ của những kẻ đă giết chết cha mẹ ḿnh  – là vết thương đau đớn nhất trong đời Celan. Vào ngày 22 tháng Mười năm 1960 Paul Celan được trao tặng giải văn chương Georg Büchner và đă đọc bài diễn từ nói về Thi ca của ḿnh Der Meridian.   

 

(2)         Maurice Blanchot dịch sang Pháp văn:   

PARLE, TOI AUSSI:

Parle, toi aussi,                                              

Parle le dernier à parler,

Dis ton dire.

                             

Parle –                                                            

Cependant ne sépare pas du Oui le Non.

Donne à ta parole aussi le sens:

Lui donnant l’ombre

 

Donner-lui assez d’ombre,

Donne-lui autant d’ombre

qu’autour de toi tu en sais répandue entre

Minuit Midi Minuit.

 

Regarde tout autour:

vois comme cela devient vivant à la ronde –

Dans la mort! Vivant!

Dit vrais, qui larle d’ombre.

 

Vois comme se rétrécit le lieu où tu te tiens:

         Où veux-tu aller à present, toi en défaut d’ombre, où  aller?

Monte. En tâtonnant, monte.

Plus mince, plus méconnaissable, plus fin!

C’est ce que tu deviens, plus fin, un fil,

 

le long duquel elle veut descendre, l’étoile:

pour en bas nager, tout en bas,

là où elle se voit

scintiller: dans le mouvement de houle

des mots qui toujours vont.

                          (Le dernier à parler trong Une voix venue d’ailleurs, trang 102-105)

Bản dịch Anh văn của Pierre Joris:

SPEAK, YOU TOO

Speak, you too,

speak as the last one,

have your say.

 

Speak –

But do not separate the no from the yes.

Give your saying also meaning:

give it its shadow.

 

Give it enough shadow,

give it as much

as you know to be parceled between

midnight and midday and midnight.

 

Look around:

see how alive it gets all around –

At death! Alive!

Speaks true, who speaks shadow.

 

But now the place shrinks, on which you stand:

Whereto now, shadow-stripped one, whereto?

Climb. Feel yourself upwards

Thinner you become, unrecognizable, finer!

Finer: a fathom

along which it wants to descend, the star:

to swim down below, below

where he sees himself swimming: in the swell

of wandering words.

Bản dịch Anh văn của John Felstiner:

SPEAK YOU TOO

Speak you too,                                               

speak as the last,                                             

say out your say                                             

                                                                                                                              

But don’t split off No from Yes.                                        

Give your say this meaning too:

give it the shadow.                                          

                                                                  

Give it shadow enough,                                                    

give it as much                      

as you see spread round you from                 

midnight to midday and midnight.      

 

Look around:

see how things all come alive –

By death! Alive!

speaks true who speaks shadow.

 

But now the place shrinks, where you stand:

Where now, shadow stripped, where?

Climb. Grope upwards.

Thinner you grow, less knowable, finer!

Finer: a thread

the star wants to descend on:

so as to swim down below, down here

                                                where it sees itself shimmer: in the swell

     of wandering words.

 

(3)     Bản Pháp văn của Jean-Pierre Lefebvre:

 

ARGUMENTUM E SILENTIO

 

Rivée à la chaîne,

entre l’or et l’oubli:

La Nuit.

Empoignée par l’un et par l’autre,

soumise.

 

Pose, toi aussi,

pose près d’elle,

ce qui songe à poindre

quand poindront les jours:

la Parole

survolée d’asres,

inondée d’océans.

 

À chacun sa parole,

la parole qui pour lui se fit chant

quand la meute l’attaqua, sournoise;

à chacun la parole

qui avant d’être glace

fut chant.

 

Mais à la Nuit la Parole

survolée d’astres,

inondée d’océans;

à elle, la Parole,

fruit du silence,

et dont le sang

survécut aux syllables

transpercées par la dent à venin.

 

À elle la Parole de silence.

Pour porter enfin témoignage

contre les autres qui, aguichés

par l’oreille de l’écorcheur,

gravissent le temps et les ages;

pour témoigner, à la fin,

quand seules des chaînes résonnent,

de la Nuit qui gît là,

entre l’or et l’oubli,

le sœur de tous temps.

 

Car où, dis-moi, poindrait

une aube sinon près d’elle

qui dans le lit de sa larme

montre aux soleils qui immergent

les semailles

encore et toujours?

 

[Trong PAUL CELAN, Choix de poems réunis par l’ateur, Gallimard Jean-Pierre Lefebre

cho in bản dịch sang Pháp văn của chính Celan với những sửa đổi thủ bút của tác giả.]

 

Bản Anh văn của John Felstiner:

                                           Linked in the chain

                                          between Gold and Forgetting:

                                          Night.

                                          Both grasped at it.

                                          Both had their way.

 

                                          Link it,

                                          now you too link up what

                                          wants to dawn with each day:

                                          the Word star-overflown,

                                          sea-overflown.

 

                                          To each his word.

                                          To each the word that sang to him

                                          when the pack snapped at his heels –

                                          to each the word that sang to him and froze.

 

                                          To it, to night, the Word

                                          star overflown, sea overflown,

                                          to it the ensilenced Word

                                          whose blood did not clot when a venomed tooth

                                          pierced its syllables.

 

                                          To Night the ensilenced Word.

 

                                          Against the others,

                                          enticed by swindlers’ ears,

                                          who’ll soon climb on time and seasons,

                                          the Word at last testifies,

                                          at last, when only chains ring out,

                                          testifies to Night that lies

                                          between Gold and Forgetting,

                                          their kin for all time –

                                         

                                          Then where’s

                                          the Word dawning, tell me, if not with Night

                                          in its riverbed of tears,

                                          Night that shows plunging suns the sown seed

                                          over and over again?        

 

          (c̣n tiếp)

 

ĐÀO TRUNG ĐẠO

 

http://www.gio-o.com/DaoTrungDao.html

 

 

© gio-o.com 2015