ĐÀO TRUNG ĐẠO

thi sĩ / thi ca

(12)

 

       Kỳ 1, Kỳ 2, Kỳ 3, Kỳ 4, Kỳ 5, Kỳ 6, Kỳ 7, Kỳ 8, Kỳ 9, Kỳ 10, Kỳ 11, Kỳ 12,  

 

Stéphane Mosès*: Thi pháp Kư ức trong tác phẩm của Paul Celan

Tŕnh bày của Stéphane Mosès về Thi pháp Kư ức trong thơ văn Celan đặt trên hai cơ sở: kinh nghiệm của một thi sĩ gốc Do thái đă sống trải tai họa lịch sử chung (catastrophe historique universelle/welt-geschichtlich) và nỗi khổ phải sử dụng ngôn ngữ Đức – ngôn ngữ của đao phủ – để làm thơ. Ngoài ra cũng phải kể tới kinh nghiệm Do thái về ngôn ngữ của Celan với diễn ngôn cá thể (discours personnel) đối nghịch với diễn ngôn vô ngă (discours impersonnel) của truyền thống Âu châu. Để minh họa cho quan điểm nêu trên Stéphane Mosès – tuy giản lược – đă dẫn chứng khá đầy đủ những bản văn của Celan từ hai bài thuyết tŕnh Das Meridian, diễn văn nhận giải văn chương của thành phố Bremen, bài Gespräch im Gebirg/Đàm đạo trong núi và những tạp thơ buổi đầu như Mohn und Gedächtnis/ Anh túc và Kư ức… cho đến những tập thơ cuối cùng xuất bản sau khi Celan tự sát như Atemwende/Xoay ngược Hơi thở, Fadensonnen/Sợi nắng v.v… Điều thú vị là khi dẫn chứng để minh họa luận cứ của ḿnh Stéphane Mosès đồng thời đưa ra thông diễn những trích dẫn này một cách khá độc đáo, có nhiều soi sáng mới lạ của một người đọc thơ gốc Do thái như tác giả. Khác với đa số những chuyên gia viết về Celan trước đây Stéphane Mosès tiếp cận thơ Celan trong toàn thể tác phẩm của Celan, không bỏ qua những bài thơ Celan viết khi c̣n trẻ và nhất là tập Mohn und Gedächtnis/ Anh túc và Kư ức cũng như những tập thơ được xuất bản sau khi Celan từ trần.

Stéphane Mosès bắt đầu bằng bài thuyết tŕnh Das Meridian/Le Méridien v́ đây là bản văn trong đó Celan nói rơ nhất về quan niệm thi ca của ḿnh. Trước hết bài này chỉ ra thi ca của Celan được nuôi dưỡng bởi sự căng thẳng (tension) giữa tai họa lịch sử thi sĩ đă trải qua và ngôn ngữ Đức. Tác giả cũng mạnh dạn đưa ra giả thiết: “Rất có thể là sự căng thẳng này là một trong những nguyên nhân đưa đến vụ tự tử của ông ta, ngày 20 tháng Tư 1970, mười năm sau bài Le Méridien.”(62) Stéphane Mosès cho rằng bài thuyết tŕnh này cũng chỉ ra một bước ngoặt quyết định trong tiểu sử của Celan có thể lấy làm khởi điểm để tái xác lập thế giới riêng tư và sáng tạo của thi sĩ. Những hoàn cảnh ngoại tại trong đó bản văn này được viết ra và được đọc là minh họa kiểu mẫu vấn nạn chủ đạo của cuộc đời cũng như tác phẩm của Celan: tuy đă là một thi sĩ nổi tiếng nhưng giải văn chương Büchner được trao cho Celan được coi là một sự nh́n nhận chính thức của nước Đức dành cho một thi sĩ gốc Do thái kẻ sống sót sau Shoah (Ḷ Thiêu) và cha mẹ bị bị quốc xă sát hại. Stéphane Mosès cũng đưa ra một chi tiết thú vị: trong số những người dự lễ trao giải có một số người trước đây là thành viên quốc xă. Chính v́ vậy Celan đă tỏ ra không thoải mái nên chúng ta không lạ khi đọc Le Méridien thấy lời lẽ của Celan không mạch lạc, hay lập lại câu “Thưa Quí Bà, Quí Ông”, những mệnh đề chính và phụ của bài thuyết tŕnh có ngữ pháp lộn xộn chồng chéo, nhiều lần Celan lập lại những lời tạ lỗi nhún nhường không cần thiết. Theo Mosès lễ trao giải này là dịp đánh thức những nghi ngờ và những nỗi đau khổ sâu thẳm nhất nơi Celan. Ngoài ra cũng không thể bỏ qua nỗi khổ đau của Celan khi Claire Goll, vợ của nhà thơ Ivan Goll đưa ra lời tố cáo Celan đạo thơ của Ivan Goll. Mosès cho rằng chính v́ những biến cố này khởi từ thập niên 60 Celan nhấn mạnh trong thơ cũng như trong những trao đổi riêng tư nhân thân Do thái của ḿnh khi th́ trực tiếp khi th́ gián tiếp, nhất là trong tập thơ Die Niemandsrose xuất bản năm 1965 và những tập thơ cuối đời như Atemwende, Fadensonnen, Lichtzwang/Cưỡng bức của Anh sáng. Và toàn bộ những bài thơ khởi hứng từ kinh nghiệm Do thái này tạo nên ṿng thi ca thứ nh́ của Celan từ tập thơ Zeitgehöft/Ngôi nhà Thời gian được xuất bản năm 1976 gồm những bài thơ Celan viết sau chuyến thăm Jérusalem vào mùa Thu  1969. Trong những bài thơ viết sau chuyến đi này Celan bày tỏ sự yêu mến cảnh thổ Jérusalem và những suy tưởng về những chủ đề về lịch sử và truyền thống Do thái giáo cho thấy Celan lần đầu có giọng điệu an b́nh, điều không có ở những tác phẩm trước.

Tuy những chủ đề về người Do thái đă được Celan bộc lộ rơ trong tập Die Niemandsrose chẳng hạn như trong bài thơ Todesfuge/Tâu khúc Chết, sau đó là trong bài diễn từ nhận giải thưởng văn chương ở thành phố Brême (Bremen), trong bài thơ Engführung/Đoạn cuối Tẩu khúc kết thúc tập Sprachgitter và trong bài Gespräch im Gebirg. Nhưng có điều lạ là chủ đề Do thái giáo đă không được Celan đả động ǵ tới trong Le Méridien. Mosès viết: “Bài diễn từ này bao gồm, và điều này từ ḍng đầu tới ḍng cuối, một ướm thử định nghĩa thi ca hay đúng hơn là cách Celan quan niệm thi ca. Ở trung tâm của việc t́m kiếm yếu tính thi ca của Celan này sự đối nghịch giữa nghệ thuật và thi ca được đặt ra. Nghệ thuật đối với Celan biểu trưng tất cả những phương cách, những cách phát biểu, những chuyển nghĩa và những phương tiện kỹ thuật khác ban phát cho bài thơ cái h́nh thức “thẩm mỹ” của nó. Đối mặt với dạng thức chung và vô ngă này của bài thơ, ông ta chỉ ra tính chất độc nhất của phát ngôn cá thể, theo ông, định tính chất thi ca. Mỗi bài thơ đối với Celan là bản dịch độc nhất của một kinh nghiệm đặc thù, chắc chắn rằng kinh nghiệm này không thể từ chối t́m kiếm sự trợ giúp của những phương cách truyền thống của ngôn ngữ thi ca, nhưng những phương cách này chỉ được sử dụng như phương tiện để bày tỏ dưới những loại h́nh của một lời nói riêng tư một cách triệt để. Và thực vậy, tác phẩm của Celan không thể nào được thu giảm vào bất kỳ một mẫu số chung nào: mỗi bài thơ tạo nên một đối tượng tự lập và riêng rẽ, nó sáng tạo ngôn ngữ và kư hiệu ngữ nghĩa riêng của nó theo cách để mỗi bài thơ phải được đọc với một cái ch́a khóa biến thiên.”(63)

Trong bài Gespräch im Gebirg/Đàm đạo trong núi Celan đă trực tiếp nói về sự đối nghịch giữa hệ thống vô ngă của ngôn ngữ (système impersonnel du langage) tức là kư hiệu ngữ học (code linguistique)  và diễn ngôn cá nhân (discours personnel) hay phát biểu riêng biệt của chủ thể nói, trên hết thảy là kinh nghiệm Do thái về ngôn ngữ. Theo Celan có mối tương quan giữa lư thuyết ngữ học của Emile Benveniste chủ trương có sự khác biệt giữa hệ thống ngữ học vô ngă với sự chấp hành (appropriation) của chủ thể nói và quan niệm về ngôn ngữ của Martin Buber giữa ngôn ngữ của Cái đó và ngôn ngữ của Tôi-Bạn (langage du Cela et langage du Je-Tu) và từ đó rút ra một phản đề mở rộng giữa ngôn ngữ vô danh của thiên/tự nhiên (langage anonyme de la nature) – một thứ ngôn ngữ “không Tôi và không Bạn, thuần túy Nó/Hắn, thuần túy Cái đó – và ngôn ngữ của đối thoại (langage du dialogue) trong đó một chủ thể nói với người khác. Theo Mosès “H́nh thức có tính chất thao tác chủ quan của ngôn ngữ này, trong đó kinh nghiệm cá nhân của chủ thể được ghi vào, đối với Celan định tính cung cách truyền thống người Do thái xưa nay vẫn dùng để biểu bạch.”(64) Điều Emmanuel Levinas nhận xét rằng trong thơ của Celan có con đường đi qua từ Hữu sang Người khác được chính Celan đặt ở trọng tâm bài Le Méridien khi nói “bài thơ đứng trong niềm bí ẩn của sự gặp gỡ…Bài thơ muốn đi về hướng một Người khác, nó cần Người khác này, nó cần một sự đối với.”(Le poème se tient dans le mystère de la rencontre…Le poème veut aller vers un Autre, il a besoin de cet Autre, il a besoin d’un vis-à-vis). Quan niệm ngôn ngữ thi ca là đối thoại này của Celan hoàn toàn đối nghịch với những lư thuyết ngữ học hiện đại đang thịnh hành, lấn lướt, chính yếu hướng về kư hiệu/biểu tượng học (sémiotique) của thế kỷ 20. Chính v́ quan niệm như thế nên Celan bác bỏ quan niệm: bài thơ tuyệt đối” (le poème absolu) như một đối tượng ngôn ngữ thuần túy h́nh thức của Mallarmé. Ngôn ngữ thơ của Celan là “ngôn ngữ nhập thể của một cá nhân […] Có mặt và hiện diện” (langage incarné d’un individu […] Présent et présence). Stéphane Mosès cho rằng cần phân biệt thơ được viết trong ngôn ngữ của “truyện kể” (langue du “récit”) chính yếu dùng những đại từ ngôi thứ ba và những h́nh thức câu nói ở th́ quá khứ với thơ như “diễn ngôn” (discours) sử dụng những đại từ chỉ định (pronoms personnels) Tôi và Bạn và ở thời hiện tại. “Sự “cá nhân hóa triệt để” này của ngôn ngữ tương ứng với một sự cá nhân hóa cũng hoàn toàn căn bản của những chuyển nghĩa và ẩn dụ, một cách nào đó, được sáng tạo dường như lần đầu trong mỗi bài thơ mới viết ra, cốt để biểu lộ cái “độc nhất, luôn độc nhất lại bắt đầu và nó đă không được nhận biết và chỉ quan nhận ở đây và lúc này.”(65)

_________________________

·         Stéphane Mosès (1931-2007) là một chuyên gia uy tín về Franz Kafka, Franz Rosenzweig, Emmanuel Levinas, Gershom Scholem, Walter Benjamin và nhất là Celan (hầu hết là những tác gia gốc Do thái). Khi c̣n là sinh viên, ngưỡng mộ Celan, Stéphane Mosès mong ước một ngày nào đó được hỏi Celan: “Sau tất cả những ǵ ông đă nh́n thấy và hứng chịu trong thời gian chiến tranh, làm sao ông lại có thể quyết định viết trong cái ngôn ngữ của những tên đồ tể của ông?” Nhưng rất tiếc Celan đă tự trầm khi Stéphane Mosès c̣n là sinh viên nên đă không có cơ hội gặp được Celan và t́m được câu trả lời cho thắc mắc của ḿnh. Stéphane Mosès khi đă là giào sư ở đại học Hebrew ở Jérusalem (từ năm 1969) được mời tham dự Hội thảo Quốc tế về Paul Celan ARGUMENTUM E SILENTIO năm 1986 ở thành phồ Seatle, bang Washington cùng với những tên tuổi lớn như Hans-Georg Gadamer, Beda Allemann, Jacques Derrida… Dịp này Mosès đọc bài thuyết trinh Weg auf denem die Sprache stimmhaft wird. Paul Celans “Gespräch im Gebirg

(62) Stéphane Mosès, La Poétique de la Mémoire chez Celan (trang 73-88) trong tập Approches de Paul Celan, nhà xuất bản Verdier, Paris 2015. Quyển này là tuyển tập những khảo luận về Celan của Stéphane Mosès đă đăng rải rác trên các tạp chí được Mosès viết suốt trong nhiều năm nghiên cứu Celan, có bài được viết bằng tiếng Pháp có bài viết bằng tiếng Đức. Stéphane Mosès viết bài này bằng tiếng Đức và được Emmanuel Moses dịch sang tiếng Pháp. Trích dẫn: Il est fort probable que cette tension fut une des causes de son suicide, le 20 Avril 1970, dix ans après Le Méridien.

(63) Sđd trang 75-76: Ce discours consiste, et cela de la première ligne à la dernière, en une tentative de définition de la poésie ou plus exactement de la façon dont Celan conçoit la poésie. Au centre de cette recherche de l‘essence de la poésie Celan place l’opposition entre art et poésie. L’art représente pour lui la somme des procédés, des locutions, des tropes et autres moyens techniques qui confèrent au poème sa forme “esthétique”.  Face à cet aspect général et impersonnel du poème, il signale le caractère unique de l’énonciation individuelle qui carctérise, selon lui, la poésie. Chaque poème est pour Celan la traduction unique d’une expérience spécifique qui, certes, ne peut renoncer à avoir recours aux procédés traditionnels du langage poétique, mais ne les utilise que comme moyen pour se manifester sous les espèces d’une parole radicallement personnelle. Et en effet, l’œuvre de Celan ne peut être réduite à aucun commun dénominateur: chaque poème construit un objet autonome et singulier, qui crée son langage et son code sémantique propres de manière à ce que chaque poème soit lu “mit wechselndem Schlüssel” (“avec une clé variable”)

(64) Sđd, trang 77: Cette forme foncièrement subjective du langage, où l’expérience personnelle du sujet est inscrite, caractérise pour lui la façon traditionnelle dont les juifs s’expriment depuis toujours.

(65) Sđd trang 78: Cette “individuation radicale” du langage correspond à une individuation tout aussi fondamentale des tropes et métaphors qui, d’une certaine manière, se voient créés comme pour la première fois dans chaque nouveau poème, afin d’exprimer “l’unique, l’unique toujours recommençant et qui n’est perçu et ne perçoit qu’ici et maintenant.

(c̣n tiếp)

đào trung đąo

http://www.gio-o.com/DaoTrungDao.html

 

 

© gio-o.com 2016