đào trung đạo

thi sĩ / thi ca

(29)

 

                       Kỳ 1, Kỳ 2, Kỳ 3, Kỳ 4, Kỳ 5, Kỳ 6, Kỳ 7, Kỳ 8, Kỳ 9, Kỳ 10, Kỳ 11, Kỳ 12, Kỳ 13, Kỳ 14, Kỳ 15, Kỳ 16, Kỳ 17, Kỳ 18, Kỳ 19, Kỳ 20, Kỳ 21, Kỳ 22, Kỳ 23, Kỳ 24, Kỳ 25, Kỳ 26, Kỳ 27, Kỳ 28, Kỳ 29,

 

Dietlind Meinecker kể lại trong một cuộc đàm đạo với ḿnh Celan đưa ra nhận xét rằng việc đặt/gọi tên diễn ra trong những tầng sâu của ngôn ngữ (172) Qua đó Aris Fioteros cho rằng việc gọi/đặt tên có ư nghĩa quan trọng trong nhiều bài thơ của Celan nhất là trong bài “Tübingen, Jänner”. “Nơi Celan, chính là xuyên qua việc nhận ch́m nghịch lư vào trong cái tuy vẫn ở ngoài mà những từ dường như nhận được diện mạo của chúng và có thể lần lượt gọi/đặt tên.”(173) Tuy ngôn ngữ là môi trường (medium) của hồi ức nhưng môi trường này lại không nhập nội cái được hồi ức mà  chỉ lập lại một cách bóng gió, chẳng hạn như câu thơ “Ein Räthsel ist Reinentsprungenes/Bí ẩn là những ǵ nảy sinh từ nguồn gốc thuần túy” của Hölderlin. Trong bài “Tübingen, Jänner” của Celan câu thơ “käme ein Mensch zur Welt, heute, mit/một người tới thế giới, hôm nay, với” vắt lên câu “bei diesen/tauchenden Worten:/những từ ch́m đắm” ở khổ thơ trên nên việc báo trước thực sự nằm ở cụm từ “diesen…Worten:” và dấu hai chấm (:) chỉ ra một mối tương quan và v́ vậy phải được hiểu như sự giả định. C̣n cụm từ “lallen und lallen/ấp úng và ấp úng” chỉ một trạng thái có trước việc đặt tên nên chỉ được đặt tên sau khi “diesen…Worten” của bài thơ “nhào” xuống những chiều sâu của ngôn ngữ. Theo Aris Fioteros, trái ngược với bài “Der Rhein” của Hölderlin trong đó ngôn ngữ đă xuất phát một cách thuần túy và không bị ô nhiễm những từ lặn sâu trong “Tübingen, Jänner” không cố ǵn giữ ư nghĩa trong chuyển vận cấu trúc của ngôn ngữ và phủ nhận thời gian tính. Thế nhưng, thi ca của Celan không những không bỏ quên ư nghĩa quan trọng của những biến cố lịch sử mà c̣n duy tŕ sự thường hằng (constancy) của chúng trong việc sắp đặt ngôn ngữ. Những từ trong thơ Celan sau khi xuyên thủng bề mặt lóng lánh của kư ức nổi trôi sở hữu một cái tên. Trong bài “Tübingen, Jänner” kư ức được phóng về tương lai, ngôn ngữ trước khi được đúc thành những cái tên treo lửng lơ giữa một quá khứ, quá khứ này chỉ có thể được lập lại một cách bóng gió từ xa, và một tương lai giả định chỉ thể được biểu đạt bằng cú pháp đă bị tổn thương của sự ấp úng. Từ “heute/hôm nay” trong câu “käme ein Mensch zur Welt, heute, mit” và cụm từ “dürftige Zeit/thời khổ nạn” trong khổ 7 bài “Brod und Wine” của Hölderlin được Celan lập lại trong câu “Patriarchen: er dürfte,/spräch er von dieser/Zeit, er/ dürfte/nur lallen und lallen”. Theo Aris Fioretos,  cụm từ “er dürfte” trong câu thơ nêu trên ở th́ khẩn cầu dự báo (subjunctive prediction) lây truyền sang Tương lai – như một giả thiết – theo cách chơi chữ trở thành một phần của sự khủng hoảng bài thơ tiên liệu. Nhưng có lẽ thú vị hơn cả là mối tương quan liên nhập (interpenetration) nội giới/ngoại giới của câu cuối trong bài “Tübingen, Jänner”: (“Pallakch. Pallakch”) khó hiểu đối với người đọc b́nh thường. Bernard Böschenstein là người đầu tiên chỉ ra từ Pallakch này được Hölderlin dùng ở giai đoạn điên loạn khi trú ngụ trên tháp Necker ở Tübingen có nghĩa “có” vừa có nghĩa “không”, nghĩa là đó không phải là một từ mà là “không từ” (non-word) vay mượn Schelling. Giải thích việc Celan đưa từ này vào cuối bài thơ không những trong (…) mà c̣n trong “…” Aris Fioteros cho rằng Celan không những duy tŕ tính chất ngoại ngữ của những từ này mà c̣n muốn chỉ ra một cái ǵ đó ngoại bản văn trong khi dấu (…) không những đóng khung việc lập lại của một từ vốn có ư nghĩa không rơ rệt mà c̣n nói lên sự nội nhập (interiorization) của từ này trong bài thơ. Cũng như cụm từ đảo nghịch “tauchenden Worten/những từ lặn ch́m” ở trên, một lần nữa cho thấy ngoại giới nhập vào nội giới, tức là một cái ǵ ở bên ngoài tuy được đem sâu vào bản văn nhưng vẫn thuộc về bên ngoài. Việc cho vào bản văn này có đặc điểm là ta chỉ nhận thấy được khi đọc chứ không thể nhận ra khi nói.

Theo Aris Fioteros bài “Tübingen, Jänner” có thể được đọc như một Auseinandersetzung/chạm mặt (tranh biện) với việc viết lịch sử văn học căn cứ trên sự triển khai trong đó thi ca dần trở thành quan tâm nhiều hơn tới những vấn đề nội tại của chính thi ca để sau cùng thi ca chỉ c̣n nói về chính thi ca nên thành bí hiểm, một thứ “poésie pure/thi ca thuần túy” như của Mallarmé. Hơn nữa, bài thơ này của Celan cũng có thể được coi là việc phá hủy những cách thế qui chiếu về lịch sử của ngôn ngữ ước lệ, chỉ ra một ngôn ngữ thi ca được đánh dấu bởi lịch sử có khả năng nh́n thấy trước cái ǵ sẽ xảy ra nhưng thấu thị này không đáng tin chắc không những v́ sự mù quáng ngự trị mà c̣n v́ những ẩn dụ thường biểu đạt sự hiểu biết triển khai có tính lịch sử của văn chương đi từ mô phỏng tới phúng dụ là không khả tín v́ “käme ein Mensch zur Welt, heute, mit/…nur lallen und lallen.” Phản bác phê phán thơ của Celan là bí ẩn, hũ nút, Aris Fioteros viết: “Bài thơ của Celan không phải là một thí dụ/ kiểu mẫu của thi ca bí hiểm bị khóa kín trong tháp ngà, nhưng đúng ra là một cách viết được đánh dấu bởi sự “làm giàu” ngôn ngữ không thể đặt tên tạo nên chính lịch sử của riêng nó. Bản văn có thể có tính chất phúng dụ, nhưng nó lại là một phúng dụ “chỉ có thể lập lại một cách mù quáng kiểu mẫu trước đó của nó, mà không có sự hiểu biết sau cùng,” như [Paul] de Man chỉ ra, phơi lộ “bản chất nghịch lư của một cấu trúc biến thi ca trữ t́nh thành một bí ẩn, bí ẩn này không ngừng đ̣i hỏi câu trả lời không thể đạt tới cho chính lời bí ẩn của nó.”(174)  

Trích dẫn ư kiến của Adorno trong bài Lư thuyết thẩm mỹ cho rằng “Những bài thơ của Celan biểu đạt sự kinh hoàng không thể nói ra bằng cách im lặng, nội dung chân lư của những bài thơ này chính nó trở thành một cái ǵ đó tiêu cực. Những bài thơ này ganh đua một ngôn ngữ nằm dưới lời bi bô vô vọng của con người – nằm dưới ngay cả mức độ đời sống hữu cơ như vậy. Đó là ngôn ngữ của vấn nạn cái chết, của đá tảng và sao trời,” Aris Fioteros cho rằng nhận xét này thật quan trọng và nhấn mạnh đến cái không thể nhấn mạnh hơn: thi ca của Celan cố gắng nói thay cho những kẻ đă chết. Tuy nhiên, Aris Fioteros phê b́nh diễn giải của Adorno là đă đưa một ư nghĩa tủi hổ vào thi ca Celan xuất phát từ sự bất khả của “ kinh nghiệm hay thăng hoa đau khổ,” v́ nếu như quả thực kinh nghiệm về cái chết không thể được diễn tả bằng ngôn ngữ sống như trong rất nhiều bài của Celan, nhất là bài “Tübingen, Jänner” thật ra đă làm cho kinh ngiệm đau khổ có thể tiếp cận được dù bằng một cách thế khác với cách bằng ngôn ngữ như Adorno muốn. Về ư kiến của Adorno cho rằng “nội dung chân lư/sự thực” của thi ca Celan tự đặt tương quan với tính phủ nhận (negativity) Aris Fioteros cho rằng những bài thơ của Celan được cưu mang bằng niềm hy vọng nghịch lư hướng về một ánh sáng không vị trí chúng đề nghị những chỉ định luôn mới mẻ như chính Celan đă phát biểu “trong ánh sáng của cái vẫn đang được t́m kiếm: trong ánh sáng của ảo tưởng” (GW 3:199/CP 51). Thi ca của Celan chứa đựng ánh sáng trong chính nó và chính ở đó Celan hiểu câu nói của Kafka “không có ǵ của tiếng nói” có một ư nghĩa riêng biệt bởi “nội dung chân lư” của chính ánh sáng này trở thành một cái ǵ đó phủ nhận/tiêu cực. Để giải thích tính phủ nhận này Aris Fioteros dẫn lời Derrida “Làm thế nào người ta có thể không viết ǵ?” câu nói này đă ngầm cho rằng sự hiểu biết của tính phủ nhận trong ánh sáng của topoi trong văn chương có thể xác định như vậy là khả dĩ.

Trong phần c̣n lại của bài khảo luận Aris Fioretos kết thúc bằng thông diễn bài Engführung của Celan. Tựa đề bài thơ nói đến một dụng cụ được dùng trong việc viết tẩu khúc, bằng dụng cụ này chủ đề và h́nh thái tu từ (figure) chồng lấp nhau, khúc cuối tẩu khúc được thể hiện nhanh hơn, bài thơ được viết theo cách tỉnh lược và, như Renate Böschenstein-Schäfer gợi ư, đó là đặc điểm thi ca Celan thời trưởng thành và Szondi cũng đưa ra nhận xét “có một sự chuyển dịch trong giọng điệu từ người được ca ngợi sang hành vi ca ngợi hay sáng tác.” Celan cũng đă gián tiếp nói tới điều này trong bài Der Meridian “ḍng chảy nhanh hơn của cú pháp hay một ư nghĩa tỉnh thức hơn của tỉnh lược” trong “bài thơ hôm nay.” Aris Fioretos dẫn ư Derrida cho rằng Engführung là “nhịp điệu của những khoảng trống của chính nó” và nhận xét của Szondi cho rằng bài thơ này là một sự phủ nhận ngôn từ tranh biện, những đường nối kết của bản văn “được thực hiện theo âm nhạc.” Cả hai nhận định này nhấn mạnh đến sự quan trọng của việc chuyển dịch, ngay trong khổ đầu của bài thơ người đọc đă chạm mặt ư nghĩa của việc chuyển nghĩa bằng lời khẳng định:

                        VERBRACHT ins

                        Gelände

                        mit der untrüglichen Spur

 

                        BỊ CHUYỂN vào

                        vùng đất

                        với những dấu vết không thể nhầm lẫn

    

Celan muốn tạo ra một tương quan không chỉ giữa việc trục xuất đưa tới trại tử (death camp) nhưng cũng là sự trục xuất mang người đọc không chỉ từ ngoại giới vào nội giới của bản văn bằng h́nh thức phúng dụ mà c̣n cho người đọc kinh nghiệm trục xuất bạo động trong hành vi đọc, như nhắc ta nhớ tới kinh nghiệm này trong bài “Tübingen, Jänner.” Dựa trên lệnh kế tiếp “Lies nicht mehr – schau!/Schau nichtmehrr – geh!/ Thôi đừng đọc nữa – nh́n/ Thôi đừng nh́n nữa – đi!” và “có một con đường bản văn mở ra” Szondi kết luận “đó là con đường người đọc phải theo.” Theo Szondi bài thơ này không đ̣i hỏi người đọc phải cố gắng hiểu ư nghĩa của những từ bằng hiểu chức năng của những từ này. Trong bài thơ cũng không có dung tưởng (representation) mà bản văn bài thơ đă trở thành một thực tại v́ thi ca không phải là mô phỏng. Chính v́ bài Engführung được viết không chú trọng nhiều đến ư nghĩa của những từ bằng cách sử dụng tu từ nên Szondi cho rằng người đọc bài thơ được đồng hóa với chủ đề/thể của bài thơ được đọc. Aris Fioretos phản bác quan điểm trên của Szondi: Nếu bài thơ này của Celan đưa ra một phúng dụ về đọc (allegory of reading) th́ điều này cũng có nghĩa quan niệm việc viết (writing) là sự sản xuất lời nói phải được xét lại.Thế nhưng Szondi đă đọc bản văn bài thơ được viết ra như lời nói được sản xuất cho nên sự phân biệt giữa bản văn và thực tại ngoài ngôn ngữ (extralinguistic reality) Szondi căn cứ vào đó để diễn giải nhằm qui định mối tương quan giữa thi ca mô phỏng và thi ca phúng dụ không đi đôi với sự phân biệt giữa ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết. Ngoài ra, khi Szondi khai triển ư cho rằng cái bài thơ mở ra là “vùng đất của cái chết và truy niệm” th́ việc đọc trở thành một kinh nghiệm được chuyển nghĩa một cách phúng dụ trên đường đi xuyên qua Gelände/vùng của một trại tử. Thế nhưng, kinh nghiệm, theo bài thơ đ̣i hỏi, lại chỉ khả hữu qua một hành vi từ bỏ “Lies nicht mehr – schau!/Schau nichtmehrr – geh!” như vậy sẽ bị bỏ sót. Và việc đọc trở thành một vấn đề không tuân hành lệnh của bản văn và như thế lại phải đặt sự bạo động trên mỗi bước của tiến tŕnh của bài thơ. Aris Fioretos cũng nhận thấy sự bất lợi của Szondi là đă không xem xet thấu đáo tính chất vật thể (Schriftlichkeit/materiality) của bài thơ của Celan, tính chất này không thể được hiểu như dung tượng của lời nói (representation of speech).

___________________________________

(172) Aris Fioteros lấy chi tiết này từ quyển Wort und Name bei Paul Celan. Zur Widerruflichkeit des Gesdichts (Berlin: Gehlen, 1970) trang 189 của Dietlind Meinecker.

(173 Sđd trang 316: In Celan, it is through the paradoxical submerging into that which nevertheless remains external that words seem to receive their identity and can in turn name.

(174) Sđd trang 319: Celan’s poem is no example of hermetic poetry locked into an ivory tower, but rather a way of writing marked by that unnameable linguistic “enrichment” constituting its particular history. The text may be allegorical, but then it is an allegory which “can only blindly repeat its earlier model, without final understanding,” as de Man points out, revealing “the paradoxical nature of of a structure that makes lyric poetry into an enigma which never stops asking for the unreachable answer to its own riddle.”

(c̣n tiếp)

 

đào trung đạo

 

http://www.gio-o.com/DaoTrungDao.html

 

 

© gio-o.com 2016