ĐÀO TRUNG ĐẠO

thi sĩ / thi ca

(7)

 

       Kỳ 1, Kỳ 2, Kỳ 3, Kỳ 4, Kỳ 5, Kỳ 6, Kỳ 7, 

 

Trong bài diễn từ Das Meridian Celan lặp đi lặp lại từ Nhưng cả chục lần một mặt để chuyển ư mặt khác mặt khác để người nghe chú ư theo dơi hơn. Trong tất cả những lần Celan chuyển ư bằng từ Nhưng này Derrida chú ư hơn cả tới ba lần Celan dùng từ Nhưng có lẽ v́ những đoạn này quan trọng hơn cả: Lần Nhưng thứ nhất tiếp theo đoạn “Có thể nào người ta có thể nói bất kỳ bài thơ nào cũng có cái ngày ’20 tháng Giêng’ của nó không? Có thể sự mới mẻ của những bài thơ được viết ra hôm nay được t́m thấy chính ở điểm này không: rằng ở đây cái nỗ lực được làm  rơ ràng nhất là vẫn nhớ đến những thời điểm đó? Nhưng phải chăng tất cả chúng ta chẳng xuất phát từ những thơi điểm đó sao? Và chúng ta qui cho ḿnh vào thời điểm nào?” (32) Theo Derrida từ Nhưng Celan dùng ở đây tuy không mấy mạnh mẽ, đối nghịch, và một lần nữa lại đưa ra cùng những câu hỏi về những dấu vạch/tích của người khác như Tôi: làm thế nào mà một thời điểm khác như thế, vốn không thể thay thế và riêng biệt, thời điểm của người khác, thời điểm cho người khác lại có thể được đọc thấy, chép lại và dịch (déchiffrer, transcrire, traduire)? Câu hỏi: Làm thế nào tôi có thể chiếm lấy (appropier) cho ḿnh, chép vào (transcrire) trong thời điểm đó, kư ức về nó có thể nào vẫn tùy nghi sử dụng cho một tương lai, chúng ta chuẩn bị những thời điểm vị lai nào cho việc chép lại như thế? V́ câu văn trên của Celan quá tỉnh luợc nên Derrida chỉ trích dẫn ra mà không thể b́nh luận ǵ hơn: “Aber schreiben wir uns nicht alle von solchen Daten her? Und welchen Daten schreiben wir uns zu?/ Nhưng phải chăng tất cả chúng ta chẳng xuất phát từ những thời điểm đó sao?

Từ Aber/Mais/Nhưng thứ hai Derrida t́m hiểu trong câu văn của Celan: “Aber das Gedicht spricht ja! Es bleibt seiner Daten eingedenk, aber, es spricht. Gewiss, es spricht immer nur in seiner, allereigensten Sache/Nhưng bài thơ nói! Nó vẫn ghi nhớ những thời điểm của nó, nhưng, nó nói, chắc chắn thế, nó chỉ nói trong nguyên do cá nhân của nó, riêng của nó.” Derrida nhận xét từ Nhưng ở đây, sau một khoảng để trống là dấu hiệu của một im lặng dài, thời gian của một sự suy tư dọc theo đó câu hỏi trước [Và chúng ta qui cho ḿnh vào thời điểm nào?”] đi lên, suy tư này để lại dấu vết của một sự xác nhận chống lại xác nhận thứ nh́ và sức mạnh của sự đối nghịch đem đà của nó tới tận dấu than (!). Derrida đặt câu hỏi: “Từ Nhưng này muốn nói ǵ? chắc chăn rằng mặc dù cái thời điểm, bất kể kỷ niệm của nó mọc rễ trong tính chất cá biệt của một biến cố, bài thơ nói: với mọi người và một cách chung, trước hết là với người khác. Từ nhưng dường như chuyên chở lời của bài thơ ra ngoài thời điểm: nếu như bài thơ triệu hồi một thời điểm, triệu hồi trở lại thời điểm của nó, cái thời điểm trên đó nó viết hay nó viết về, nó viết kể từ thời điểm đó, song le nó nói! Với mọi người, với người khác, với bất kỳ ai không chia sẻ kinh nghiệm hay sự hiểu biết về tính chất riêng biệt đă được ghi thời điểm. Trong câu trước đó ‘Aber schreiben wir uns nicht alle von solchen Daten her? Sức mạnh không rơ rệt của từ von gom lại từ trước tất cả những nghịch lư của chúng ta: chúng ta viết về thời điểm, về chủ đề của những thời điểm nào đó.” (33) Từ nhận định về à trong tiếng Pháp có nghĩa chỉ về hướng đi tới chưa biết trong tương lai tuy không hẳn thực sự nói lên được điều được nói trong câu trích dẫn trên của Celan nhưng Derrida cho rằng nó cũng tương ứng về mặt luận lư tổng quát với câu văn trên: “Như thể viết một thời điểm không chỉ có nghĩa viết vào một ngày nào đó, giờ nào đó, vào thời điểm nào đó nhưng cũng có nghĩa viết tới thời điểm bằng cách nói với thời điểm, gửi ḿnh tới thời điểm cũng như tới người khác, thời điểm đă qua cũng như thời điểm hứa hẹn.”(34) Viết về thời điểm trong quá khứ không đặt ra vấn đề nan giải nhưng viết về thời điểm vị lai như thời điểm (en tant que date) cần được giải thích rơ. Derrida cho rằng “bài thơ nói, bất chấp thời điểm dù rằng nó nói nhờ thời điểm, từ thời điểm, về thời điểm và hướng về thời điểm, và luôn luôn nói về chính nó trong cái nguyên do của nó hay [nhân danh] trong chính cái tên của riêng nó (in seiner eigenen allereigensten Sache) mà chẳng bao giờ thỏa nhượng (transiger) với tính chất riêng biệt tuyệt đối, với đặc tính không thể nào xuy xuyển (l’inaliénable propriété) mà nó triệu dẫn. Thế nhưng cái không thể xuy xuyển này phải nói về người khác, nó phải nói với người khác. Thời điểm khêu gợi bài thơ, nhưng chính là bài thơ nói! Và nó nói về cái khêu gợi nó, nói với thời điểm khêu gợi nó, tức là được triệu dẫn từ tương lai của chính cùng một, thời điểm, nói thế khác là sự quay trở lại của thời điểm này tới một thời điểm khác.”(35)

Derrida đặt câu hỏi về dấu (!) đặt ở cuối câu sau khi bắt đầu bằng từ Aber/Nhưng  trong câu Aber das Gedicht spricht ja! cho rằng đó là để gây ngạc nhiên, để nhấn mạnh, đánh dấu giọng nói ngưỡng mộ, ngạc nhiên trước lời la lên có tính chất thi ca (l’exclamation poétique): rằng bài thơ [quả thật, có] nói và nói với thời điểm nó nói về, thời điểm cho thi sĩ/bài thơ dịp may, cơ hội để nói với người khác. Theo nghĩa này nếu như bài thơ nợ thời điểm, nợ thời điểm của nó như cái riêng của chính nó (Sache), nguyên do của nó hay chữ kư của nó, và nếu như nó nợ chính nó về sự bí ẩn của nó th́ nó lại chỉ nói bằng cách trả nợ (acquitter) một thời điểm được coi như một tặng phẩm để ra khỏi sự ràng buộc mà không phủ nhận thời điểm ḿnh đă nợ. Bài thơ miễn xá nợ nần để lời của nó có thể cộng hưởng và lớn tiếng ra khỏi một tính chất riêng tư có nguy cơ vẫn là không thể đọc được (indéchiffrable), câm nín hay bị gắn chặt vào thời điểm của nó: đó là cái không thể lập lại. “Bài thơ phải, tuy không đánh mất kư ức của nó, nói về thời điểm, thời điểm này đă nói về chính nó: thời điểm, bằng sự xảy ra đơn giản của nó, bằng việc ghi lại một dấu chỉ “cho kư ức” sẽ phá vỡ sự im lặng của tính chất riêng tư thuần túy. Nhưng để nói về thời điểm này, người ta cũng phải xóa bỏ nó đi, làm cho nó có thể đọc được, nghe thấy được, hiểu được bên ngoài tính chất thuần túy riêng tư mà nó nói về. Hay bên ngoài tính chất riêng tư tuyệt đối, cơ hội để cho sự cất tiếng của bài thơ, đó không phải chỉ là sự xóa bỏ thời điểm trong một tính chất tổng quát, mà đó là sự xóa bỏ của nó trước một thời điểm khác, cái thời điểm mà bài thơ nói với, thời điểm của một người nam khác hay của một người nữ khác phối ngẫu với nhau một cách lạ lùng, trong sự bí ẩn của một gặp gỡ, một sự bí ẩn của sự gặp gỡ, với cùng một thời điểm.”(36) Trước câu hỏi: Nơi đâu đă diễn ra kinh nghiệm về thời điểm này, cái thời điểm phải xóa bỏ để giữ lại sự tưởng nhớ biến cố duy nhất đến với bài thơ – bài thơ phải vượt qua thời điểm đó để có thể di chuyển nó và làm cho nó được nghe bên ngoài mă số không thể đọc được của nó – Derrida t́m thấy câu trả lời của Celan: nơi chốn đó nằm trong sự bí ẩn của gặp gỡ (Geheimnis der Begenung). Derrida cho rằng theo tiếng Pháp rencontre/gặp gỡ có thể hiểu theo hai trường hơp bằng không một thời điểm sẽ không xảy ra: gặp gỡ như sự xảy đến đột nhiên bất ưng (alea), cơ may, t́nh cờ, t́nh cảnh (conjuncture) đến đóng kín một lần (une fois) một hay nhiều hơn một biến cố, ở vào một giờ, một ngày, một tháng một năm, một nơi nào đó, và khi cuộc gặp gỡ người khác như một sự riêng biệt không thể tránh khỏi (singularité inéluctable) bài thơ nói từ đó và hướng tới đó trong tha tính (altérité) và trong sự cô đơn của nó, sự gặp người khác này có thể ở trong t́nh cảnh của cùng một thời điểm. Đó là cái xảy ra, rằng sự gặp gỡ theo tất cả các nghĩa trong một thành ngữ.

Từ Aber/Mais/Nhưng thứ ba trong câu văn của Celan “Abe ich denke”… “heute und hier”: “Nhưng tôi nghĩ – và ư nghĩ này giờ đây sẽ không làm quí vị ngạc nhiên – tôi nghĩ rằng măi măi quan trọng đối với niềm hy vọng của bài thơ, để nói một cách chính xác và cũng theo cách này, về nguyên do lạ kỳ ấy…từ này, không, từ nay tôi không dùng từ này nữa – để nói về nguyên do ấy, đúng hơn, nó liên quan tới một người khác – ai mà biết được, có thể là hoàn toàn người khác (tout autre/wholly other). Câu “ai mà biết được” này, tôi thấy ḿnh đă tới được nó, là thứ duy nhất tôi có thể thêm vào cho niềm hy vọng xưa cũ, trong ngày hôm nay và ở nơi đây.” Theo Derrida, hoàn toàn người khác mở ra tư tưởng của bài thơ trên một sự vật hay một nguyên do (in eines Anderen Sachein eines ganz Anderen Sache) mà tha tính phải không được mâu thuẫn nhưng phải hợp cùng với, trong khi chiếm đoạt nó, cái “nguyên cớ riêng tư nhất” vừa được nêu ra nhờ đó bài thơ nói về thời điểm của nó, từ thời điểm của nó và luôn luôn nhân danh chính nó. Rất nhiều biến cố riêng rẽ có thể nối kết nhau tập trung lại trong cùng một thời điểm thế nên thời điểm này có thể trở thành vừa là cùng một vừa là khác với nhưng có thể nói với người khác về cái khác, với những ai không thể nhận ra một thời điểm nào đó tuyệt đối cận kề, chẳng hạn một nấm mồ phủ choàng lên biến cố nó đánh dấu. Celan dùng từ tập trung để nói về sự kiện này mà bài thơ phải chú ư tới trong sự gặp gỡ, chú ư cũng là tập trung để lưu giữ trong kư ức “mọi thời điểm của chúng ta” chỉ ở một nơi chốn duy nhất một bài thơ, một bài thơ ḿnh nó, cô đơn và riêng biệt. Derrida cho rằng bài Das Meridian không chỉ là một hành vi của lời nói (acte de parole/Rede) bài siêu-diễn-ngôn (métadiscours) về chủ đề thời điểm, mà đúng ra là nơi cư ngụ (habitation), bằng một bài thơ, thời điểm của chính bài thơ, đưa vào tác phẩm thi ca tạo nên một thời điểm của riêng thi sĩ cho người khác, trở thành thời điểm của người khác hay ngược lại. Tặng phẩm này xoay tṛn như một ngày kỷ niệm, một bước chân thi sĩ nhờ đó để tự chuyển biên hay để hứa hẹn trong thởi điểm của người khác. Thế nhưng trong cái ṿng tập hợp duy nhất này, “cùng” một thời điểm truy niệm những biến cố khác nhau tuy bỗng nhiên thành hàng xóm tuy vậy phải vẫn là tuyệt đối xa lạ nhau. Và đó chính là sự gặp gỡ người khác, là “ bí mật của sự gặp gỡ” và cũng chính là sự khám phá ra Kinh tuyến vậy. Tuy nhiên điều này chỉ xảy ra một lần, và luôn luôn rồi lại một lần nữa, mỗi-lần-chỉ-một-lần (chaque-fois-une-seule-fois) tạo nên luật tắc chung (loi générique), một luật tắc của thể loại, luôn chạm trán đối đầu thể loại. Về mặt triết học Derrida lưu ư ở đâu cần tái định vị (resituer) thuyết niệm thức siêu nghiệm (schématisme trascendantal) về trí tưởng tượng và về thời gian như một vấn đề của thời điểm, về lần (de la fois), đọc lại xem Celan đă nói ǵ về h́nh ảnh trong bài diễn từ: “Vậy th́ những h́nh ảnh sẽ là ǵ? Cái chỉ một lần được tri nhận và được tri nhận một lần thôi, một lần rồi lại một lần nữa, và chỉ ở đây thôi, chỉ một thời khắc thôi, kiểm chứng và phải kiểm chứng như thế cho chúng ta. Và đến lượt nó bài thơ sẽ là cái nơi chốn ở đó mọi chuyển nghĩa và ẩn dụ thúc dục chúng ta đưa chúng tới sự phi lư (ad absurdum). Derrida diễn giải: “Cái ad absurdum triệt để này, bất khả tính của cái, mỗi lần chỉ một lần, chỉ có ư nghĩa khi không có ư nghĩa, không có ư nghĩa lư tưởng hay tổng quát, hay chỉ có ư nghĩa để viện dẫn, để phản bội chúng, ư niệm, luật tắc hay thể loại – đó chính là bài thơ thuần túy. Thế nhưng bài thơ thuần túy không hiện hữu, hơn thế nữa, đó là cái “không có ở đó”. C̣n về câu hỏi: Tôi nói về cái ǵ khi tôi không phải nói về những bài thơ mà nói về bài thơ, Celan trả lời: “Vâng, tôi nói về bài thơ – bài thơ này không hiện hữu!/ Bài thơ tuyệt đối – không, chắc chắn vậy, không hiện hữu, nó không thể hiện hữu!” Nhưng nếu bài thơ tuyệt đối không diễn ra, nếu không có cái ǵ như thế, th́ vẫn có h́nh ảnh, cái mỗi lần chỉ một lần, cái thi pháp của thời điểm và sự bí ẩn của sự gặp gỡ: cái tôi-khác, một ngày 20 tháng Giêng này cũng là của tôi sau khi đă là một ngày của Lenz. Xem đây: “Mấy năm trước đây tôi đă viết một đoạn tứ tuyệt nhỏ như sau: “Những tiếng gọi của cây tầm gai trên đường:/Ngươi hăy mang bằng tay đến chúng tôi./Kẻ chỉ có một ḿnh với cây đèn,/ chỉ có bàn tay để đọc.” Và năm ngoái, trong dịp tưởng nhớ một cuộc gặp gỡ hụt trong Engadine, tôi đă viết ra một truyện kể ngắn trong đó, theo gương Lenz, tôi đă mở ra cho một người nào đó một con đường vào trong núi. “Lần này cũng như lần trước tôi đă khởi đi từ một ngày “20 tháng Giêng”, ngày của tôi, ghi chép trên bước đi như thế. “Một sự gặp gỡ đă đặt tôi trong sự có mặt của…chính tôi.”

Câu nói khá lạ trên của Celan có thể hiểu là tôi gặp tôi, chính tôi như người khác, một ngày 20 tháng Giêng như một ngày khác, và như Lenz, như chính Lenz (“wie Lenz”), dấu mở ngoặc kép “…” ở đây có nghĩa một diện mạo không chắc thực, và từ như đó là dấu chỉ một thứ hiện diện chính đáng (comparution) trong cùng một sự so sánh. Theo Derrida từ “wie” có giá trị của từ “als”. Nhưng đồng thời (en même temps) chính là tôi bởi trong diện mạo người khác như người khác này tôi gặp tôi ở thời điểm đó. Và đó là ṿng quay kỷ niệm của thời điểm, cũng là việc kiếm ra, gặp được nơi chốn của gặp gỡ, sự khám phá ra kinh tuyến. Nhưng đó lại không chỉ là kinh tuyến Celan khám phá ra trong giờ phút này nhưng c̣n là từ ngữ và h́nh ảnh, sự chuyển nghĩa kinh tuyến cho ra thí dụ của luật tắc trong đa chuyển nghĩa bất tận (inépuisable polytropie) là cái nối với, cái trung gian tạo nên một cách thanh thiên bạch nhật, đúng ngọ (à midi) sự gặp gỡ người khác chỉ tại một nơi chốn, một điểm của bài thơ này “…trong sự hiện diện, tại đây, của bài thơ – bài thơ luôn  luôn gắn liền với sự hiện diện đúng lúc (présence ponctuelle), độc nhất này – trong chính sự gần gũi, nhường cho người khác một phần chân lư của nó: thời gian của người khác.”

_________________________________

(32)  Derrida dùng bản dịch sang Pháp văn bài Der Meridian của André du Bouchet: Mais, partis de telles dates, quel circuit, tous, ne nous est-il donné de décrire ? Et, nous-même, pour quelle date, à venir, nous transcrivons-nous? Và cũng ghi lại nguyên văn tiếng Đức của Celan: Aber schreiben wir uns nicht alle von solchen Daten her? Und welchen Daten schreiben wir uns zu? So với bản dịch Anh văn của Jerry Glenn, Pierre Joris hay của John Felstiner tuy bản Pháp văn không khác mấy về ư tưởng nhưng cú pháp không sát với nguyên bản bằng các bản dịch Anh văn.

(33) Jacques Derrida, Schibboleth, pour Paul Celan trang 21: Que veut dire ce mais? sans doute que malgré la date, en dépit de sa mémoire enracinée dans la singularité d’un événement, le poème parle: à tous et en général, à l’autre d’abord. Le mais semble porter la parole du poème au-delà de la date: si le poème rappelled  une date, se rappelle à sa date, à celle il écrit ou dont il écrit, depuis laquelle il s’écrit, pourtant il parle! à tous, à l’autre, à quiconque ne partage pas l’expérience ou le savoir de la singularité ainsi datée, depuis ou datée de tel lieu, tel jour, tel mois, telle année. Dans la phrase précédente, la force ambiguë du von rassemble d’avance tous nos paradoxes (Aber schreiben wir uns nicht alle von solchen Daten her?) nous écrivons de la date, au sujet de telles dates mais aussi depuis telles dates, à telles dates.

(34) Sđd, trang 21: Comme si écrire à une date signifiait écrire non seulement tel jour, à telle heure, à telle date mais aussi écrire à la date en s’adressant à elle, se destine à la date comme à l’autre, la date passée autant que la date promise.

(35) Sđd, trang 22: Pourtant il parle, le poème. Malgré la date, même s’il parle aussi grâce à elle, depuis elle, d’elle et vers elle, et parle toujours de lui-même dans sa cause ou sa chose la plus proper  in seiner eigenen allereigensten Sache, en son nom propre, sans jamais transiguer avec l’absolue singularité, avec l’inaliénable propriété de ce qui le convoque. Et pourtant, cet inaliénable doit parler de l’autre, et à l’autre, il doit parler. La date provoque le poème, mais celui-ci parle! Et il parle de ce qui le provoque, à la date qui le provoque, ainsi convoqué depuis l’avenir de la même date, autrement dit de son retour à une autre date.

(36) Sđd, trang 22-23: Il faut, sans perdre la mémoire, parler de la date qui déjà parle d’elle-même: la date, par son simple événement, par l’inscription d’un signe “pour mémoire” aura rompu le silence de la singularité pure. Mais pour parler d’elle, on doit aussi l’effacer, la rendre lisible, audible, intelligible au-delà de la pure singularité dont elle parle. Or l’au-delà de la singularité absolue, la chance pour l’exclamation du poème, ce n’est pas simple effacement de la date dans une généralité, c’est son effacement devant une autre date, celle à laquelle il parle, la date d’un autre ou d’une autre qui s’allie étrangement, dans le secret d’une rencontre, un secret de rencontre, avec la même date.

(37) Sđd, trang 26-27: Cet ad absurdum radical, l’impossibilité de ce qui, chaque fois une seule fois, n’a de sens qu’à n’avoir pas de sens, pas de sens idéal ou général, ou n’a de sens qu’à en appeler, pour les trahir, au concept, à la loi, au genre, c’est le poème pure. Or le poème pure n’existe pas, mieux, c’est ce “qu’il n’y a pas!” (das es nicht gibt!)…”Une rencontre m’a mis en présence de…moi même.”

(38) Sđd, trang 28: “dans cette présence, ici, du poème – le poème tient toujours à cette présence ponctuelle, unique – dans sa proximité même, elle concède à l’autre une parcelle de sa vérité: le temps de l’autre.”

(c̣n tiếp)

ĐÀO TRUNG ĐẠO

 

http://www.gio-o.com/DaoTrungDao.html

 

 

© gio-o.com 2016