đào trung đạo

thi sĩ / thi ca

(80)

 

                   RENÉ CHAR

 

Kỳ 1, Kỳ 2, Kỳ 3, Kỳ 4, Kỳ 5, Kỳ 6, Kỳ 7, Kỳ 8, Kỳ 9, Kỳ 10, Kỳ 11, Kỳ 12, Kỳ 13, Kỳ 14, Kỳ 15, Kỳ 16, Kỳ 17, Kỳ 18, Kỳ 19, Kỳ 20, Kỳ 21, Kỳ 22, Kỳ 23, Kỳ 24, Kỳ 25, Kỳ 26, Kỳ 27, Kỳ 28, Kỳ 29, Kỳ 30, Kỳ 31, Kỳ 32, Kỳ 33, Kỳ 34, Kỳ 35, Kỳ 36, Kỳ 37, Kỳ 38, Kỳ 39, Kỳ 40, Kỳ 41, Kỳ 42, Kỳ 43, Kỳ 44, Kỳ 45, Kỳ 46, Kỳ 47, Kỳ 48, Kỳ 49, Kỳ 50, Kỳ 51, Kỳ 52, Kỳ 53, Kỳ 54, Kỳ 55, Kỳ 56, Kỳ 57, Kỳ 58, Kỳ 59, Kỳ 60, Kỳ 61, Kỳ 62, Kỳ 63, Kỳ 64, Kỳ 65, Kỳ 66, Kỳ 67, Kỳ 68, Kỳ 68,Kỳ 66, Kỳ 69, Kỳ 70, Kỳ 71, Kỳ 72, Kỳ 73, Kỳ 74, Kỳ 75, Kỳ 76, Kỳ 77, Kỳ 78, Kỳ 79, Kỳ 80,

Một vài vấn đề văn chương quanh René Char

Để hiểu rơ Thi ca của René Char hơn thiết tưởng cũng cần xem xét một số quan niệm văn chương được Char tŕnh bày rải rác trong những bài viết trải dài suốt hơn nửa thế kỷ.

1.      Kư ức Văn chương: Theo Didier Alexandre [285] tuy không  như Paul Claudel hay André Gide viết những sách về Lịch sử Thi ca Pháp nhưng René Char đă để lại những bản viết cho thấy thi sĩ tŕnh bày một Kư ức Lịch sử Thi ca. Hơn thế nữa trong những bản viết này Char tuy không đưa ra một lịch sử thi ca nhưng lại lập thuyết (théoriser) về thi ca. Trong bài Fenêtres dormantes et porte sur le toit/Những cửa sổ ngủ say và khung cửa trên mái nhà Char viết: “Thi ca thống trị phi lư. Thi ca là sự phi lư tuyệt đỉnh: [đó là] nơi cái b́nh được nâng cao lên tầm của cái miệng si t́nh rót đầy vào đó sự ham muốn và khao khát, khoảng cách xa và buông bỏ. Thi ca là sự linh hoạt trong chung thủy. Thi ca cận kề với cái cách biệt.” [286] Trong trích dẫn này ta thấy Char nói tới “l’absurde/cái [sự] phi lư” khiến ta dễ dàng liên tưởng tới Albert Camus trong L’homme révolté khẳng định “sự đối mặt tuyệt vọng giữa tra vấn của con người và niềm im lặng của thế giới.” Tương tự Camus, Char coi thi ca như sự thực hành nổi loạn và phi lư không phải sự thiếu vắng đáp lời nhưng là sự bất ḥa điệu, chỏi nhau (discordance) giữa chân lư xa cách với thời gian, v́ thời gian luôn tiến về phía trước (en avant). Những đoạn rời thơ của Char được nuôi dưỡng bởi kư ức về những tác phẩm thi ca Char đă đọc và ghi nhớ chứ không bởi một Lịch sử Thi ca được viết ra một cách hàn lâm, thống hệ. Theo Didier Alexandre có ba dạng thức (modalités) kư ức lịch sử văn chương nơi Char: dạng thứ nhất là diễn ngôn tranh biện với lịch sử văn chương bác học, dạng thứ nh́ ẩn dấu dưới sự thâm cảm của diễn ngôn phê b́nh với những chân dung văn chương, và dạng thứ ba gồm trong kịch bản kư ức (scénario mémoriel), kịch bản kư ức này luôn luôn có tính chất cơ sở chỉ ra cấu trúc biến sự của thi ca được quan niệm như một đáp ứng đối với thảm họa tạo thành cơ sở (catastrophe fondatrice).

2.       

René Char chống đối thứ lịch sử văn chương viết theo cung cách hàn lâm. Chi tiết này thấy rơ trong những bài thơ viết về tuổi thơ như Le bruit de l’allumette, L’adolescent souffleté trong đó Char đặt sự hiểu biết (le savoir) về phía câm lặng (mutisme). Điều này không đáng ngạc nhiên v́ trong thời niên thiếu Char vốn là tên học tṛ trốn học, có thái độ chống đối những qui củ trường ốc, qui phạm. Trong nhiều hoàn cảnh khác nhau Char đọc những tác gia tự ḿnh khám phá, t́m kiếm theo một danh sách những nhà văn và thi sĩ yêu thích do Char lập ra. Chúng ta có thề qui chiếu về bài Pages d’Ascendants pour l’An 1964 [287] để biết danh sách các thi sĩ, nhà văn, triết gia Char  liệt kê không theo thứ tự thời gian liên tục theo đường thẳng, trường phái hay khuynh hướng: Có thể coi lịch sử này là những quần đảo (archipels) biểu trưng các thời kỳ cổ đại, trung cổ, lăng mạn, tượng trưng và hiện đại: Villon, Dante, Aubigné, Pétrarque, Shakespeare, Louise Labé, Chénier, Ronsard...Chataubriand, Racine, Vigny, Baudelaire, Brontë, Woolf, Nerval, Hölderlin, Nietszche, Poe, Mallarmé, Verlaine, Lautréamont, Jarry, Claudel, Kafka, Synge, Rilke, Proust, Reverdy, Éluard...Héraclite, Anaximandre...

 

Char quan niệm phong trào văn chương bắt đầu trong giai đoạn khởi đầu, trong việc tham dự vào một tạp chí văn chương, điển h́nh là tạp chí Empédocle.mà Char đóng góp bài vở ngay ở số đầu tiên. Trên tạp chí này Char viết bài tranh biện Lettre à Benjamin Péret trong đó Char bác bỏ thẩm quyền của André Breton v́ Breton đă mắc phải “sai lầm chiến thuật” (erreur de tactique) khi đưa chủ nghĩa Siêu thực vào con đường tháo lui về căn nhà Hưu ẩn của Văn chương (maison de Retraite des Belles-Lettres) và của sự bạo động kết hợp, cũng như lên án chủ nghĩa siêu thực trong ṿng những năm qua, nhất là  đă thiếu can đảm  không dám vứt bỏ vẻ đẹp thuần túy và đơn giản để tránh khỏi bị xấu hổ khi tự cho ḿnh là trung tâm.Char cũng chỉ ra những phạm trù thẩm mỹ tương ứng với những khoảnh khắc nghệ thuật. Thay v́ ngợi ca những phong trào văn chương có tầm vóc lớn Char cho rằng  chính đôi ba diện mạo văn chương thủ lănh đă tạo nên phong trào. Với phong trào Siêu thực Char cho rằng “Hậu thế không yêu mến những thủ lănh, đoàn trưởng (brigades)” ám chỉ Breton và Aragon. Char đặc biệt đánh giá cao giai đoạn văn chương tan ră,  lúc khởi đầu và kết thúc của một phong trào văn chương. Với Char, đối với một thế kỷ thi ca Pháp hiện thời chỉ có những thi sĩ đương thời hay ở cực độ đương thời (l’extremité du contemporain) là quan trọng mà thôi. Theo Char thi sĩ vừa là b́nh minh vừa là hoàng hôn: Chẳng hạn Hölderlin là thi sĩ b́nh minh của chủ nghĩa lăng mạn, Nerval và Baudelaire là những thi sĩ hoàng hôn sau khi Vigny mở hé cánh cửa lăng mạn Pháp, Rimbaud trị v́ và Lautreamint để lại di sản cho hậu thế, Mallarmé xuyên suốt con đường thi ca với thật nhiều đồ trang sức của chủ nghĩa tượng trưng, Verlaine cắt tỉa những cành cây rậm rạp, Appolinaire riêng ḿnh t́m thấy chiều cao bị cấm đoán đối với mọi người trong thời đại của ḿnh và vạch ra con đường thiên hà mới giữa hạnh phúc, tinh thần, và tự do là ba đỉnh của tam giác lưu đầy trong bầu trời thi ca của thế kỷ bi thảm của chúng ta...

 

René Char hiếm khi trích dẫn bản văn của các tác gia. Thế nên mối quan hệ của Char với những tác gia có thể là mối quan hệ liên-bản-văn trong một chuyển vận xóa bỏ và tái h́nh dung chân dung các tác gia Jean-Claude Mathieu [288] đă chỉ ra như trong trường hợp Char sử dụng những đoạn rời của Hugo làm kiểu mẫu như trong bài Post-scriptum de ma vie. Kư ức văn chương của Char cung cấp những chất liệu sau đó sẽ bị phá bỏ với mục đích sử dụng sao cho  thích ứng chất liệu này. Char coi việc đọc những bản văn của các tac gia như Héraclite, Lautréamont, Rimbaud v.v...là để t́m “thực phẩm” cho kư ức văn chương. Theo Char cần phân biệt kư ức tái tạo (mémoire reproductive) với kư ức tưởng tượng theo nghĩa của Henri Bergson trong Matière et Mémoire. Kư ức tái tạo những h́nh ảnh trong hiện tại theo Char là “giả tạo”. Quan niệm về kư ức sáng tạo  được Char nói khá rơ trong La Lettre hors commerce gửi cho Breton năm 1947: “Tôi không thể yêu thích hai lần cùng một đối tượng” và “Cái phần năng động nhất của tôi đă trở thành...sự vắng mặt.Nay tôi chỉ c̣n có thể có mặt do t́nh yêu, sự bất tùng phục, và cái mái nhà to lớn của kư ức. Chẳng có văn chương nào trong sự hứa hẹn này cả. Không có sự mơ hồ. Không có làm dáng.”[289]

 

Theo Char cần phân biệt tac gia với bản văn: tác gia không phải là bản văn mà là năng lượng xuyên suốt người đọc cảm nhận được khi đọc bản văn lần đầu. Char tuyệt đối khu biệt tiểu sử tac gia với tác phẩm. Quan điểm này của Char gây tranh căi trong giới phê b́nh văn chương – nhất là những “giáo sư” văn chương – thường sử dụng tiểu sử tác gia để thông diễn tác phẩm. Sau này chính Jacques Derrida cũng quan niệm tiểu sử là một thứ “phụ đính nguy hiểm” (dangereux supplément) trong việc hủy tạo bản văn. Theo Char, lịch sử văn chương h́nh thành trong sự từ chối tính chất khoa học của các khoa học nhân văn, đoạn tuyệt lịch sử đám đông, với tiểu sử tac gia và với những bản văn. Lịch sử văn chương trên hết do t́nh cảm hướng dẫn: chẳng hạn t́nh huynh đệ của Char với Artaud và René Crevel, tính chất song sinh (gémellité) với É1uard, t́nh bạn với Camus... Những thành viên của gia đ́nh văn chương cùng chia sẻ một cội nguồn do  trái tim chỉ định. Những văn nhân thi sĩ trong gia đ́nh này được dẫn dắt bởi Thi ca được nghĩ tưởng như năng lượng làm sinh động trái tim, sáng tạo thiên tài. Nói cho gọn, trên hết chính thi ca tạo nên cộng đồng văn chương tuy là thu hẹp này.

 

Trung tâm của kư ức văn chương theo Char chính là nguồn cội. Thời gian của kư ức thi ca này được quan niệm theo biến cố (événement). Char phân biệt trật tự tự nhiên (l’ordre de la nature) vốn được điều khiển bởi những qui luật, bởi diên thành (le devenir) với nơi chốn của sự huyền ảo (le lieu du magique). Sự xuất hiện những biến cố huyền ảo làm đảo lộn và làm phong phú trật tự tự nhiên. Thi sĩ là kẻ chạy về phía trước (courir en avant) lập tức ghi nhận/chép (formuler) những biến cố này bằng không chúng sẽ mau chóng bị quên lăng. Didier Alexandre tóm tắt: “Thi ca và biến cố, văn tự và cấu trúc biến sự nhập vào nhau: theo định nghĩa, biến cố/sự là cái vuột khỏi mọi diễn ngôn, mọi khung nhận thức, mọi lịch sử trước đó. Việc đánh giá tính chất mới mẻ, ánh chớp, sự hiện xuất, là hậu quả, nơi René Char, của tính chất biến cố thi ca – hậu quả này không ngoại lệ, bởi cũng được thấy ở những thi sĩ khác, như Rimbaud trong Illuminations, Frenaud trong Passage de la Visitation, cũng như nơi Jaccottet trong Poésies.[290]

 

________________________________________

 

[285] Didier Alexandre, La Mémoire littéraire de René Char in René Char en son siècle  trang 37-50.

[286] René Char, O.C., 608: La poésie domine l’absurde. Elle est l’absurde suprême: la cruche élevée à hauteur de la bouche amoureuse emplissant celle-ci de désir et de soif, de distance et d’abandon. Elle est l’inscontance dans la fidélité. Elle envoisine l’isolé.

[287] René Char, O.C., Pages d’Ascendants pour l’An 1964 trang 711-712.

[288] Jean-Claude Mathieu, La Poésie de Rene Char, t.II trang 293-297.

[289] René Char, O.C. trang 661: Je ne peux aimer deux fois le même objet...Ma part la plus active est devenue...l’absence. Je ne suis plus guère présent que par l’amour, l’insoumission, et le grand toit de la mémoire. Nulle littérature dans cet aveu. Nulle ambiguïté. Nul dandysme.

[290] Didier Alexandre, La Mémoire littéraire de René Char in René Char en son siècle  trang 46: Poésie et événement, écriture et structure événementiale se confondent: par définition, l’événement est ce qui echappe à tout discours, à tout cadre cognitif, à toute histoire antérieure. La valorisation de la nouvauté, de l’éclair, du surgissement, est la conséquence, chez René Char, de cette événementialité poétique – qui n’est pas exceptionnelle, puisqu’elle se trouve chez d’autres poètes, le Rimbaud des Illuminations, le Frenaud du Passage de la Visitation, voir le Jaccottet des Poésies.

 

(c̣n tiếp)

đào trung đạo

http://www.gio-o.com/DaoTrungDao.html 

© gio-o.com 2017