đào trung đạo

thi sĩ / thi ca

(16)

 

 

    ĐỌC THƠ PAUL CELAN

 

  Kỳ 1, Kỳ 2, Kỳ 3, Kỳ 4, Kỳ 5, Kỳ 6, Kỳ 7, Kỳ 8, Kỳ 9, Kỳ 10, Kỳ 11, Kỳ 12, Kỳ 13, Kỳ 14, Kỳ 15, Kỳ 16,     

 

Szondi tiếp tục giải thích cặn kẽ hơn về “cái ǵ đó” để củng cố lư luận “cái ǵ đó” là thời gian tính: câu thơ trong khổ III “euch zu, /euer Atem/ gehorchte/Hơi thở của quí vị/đă tuân phục” cho thấy “cái ǵ đó” có thể nghe thấy được nhưng thực sự lại không được nghe thấy, tuy nhiên nó t́m cách dùng ngón tay để chạm vào/sờ và hành động này không bị giấc ngủ, “thở” làm gián đoạn. Thế nhưng, việc kiểm soát được “thở” của họ không đủ để “cái ǵ đó” đạt tới mục tiêu, bằng không bài thơ sẽ chẳng thể tiếp tục v́ “quí vị đang ngủ”. Szondi lưu ư người đọc rằng schlafen không chỉ có nghĩa là “ngủ”mà c̣n thường được dùng một cách uyển ngữ (euphemistically/nói trại đi) có nghĩa “đă chết” và trong câu thơ này c̣n thêm nghĩa “không nghe.” Nếu đúng vậy th́ rất có thể nói rằng “sống” có nghĩa là “nghe” và giả thiết này được xác nhận bằng tính chất “bản văn” của bài Engführung ngay từ đầu (Gras, auseinandergeschrieben/ cỏ, được viết ra rời rạc) đă thực sự buộc người đọc hiểu rằng “hiện hữu” là “lời.” Szondi kết luận: “Như vậy chúng ta phải kết luận rằng “cái nằm giữa họ” khi họ nằm đó, đang ngủ say trên “cánh đồng đen kịt” tức là cái chết (rằng cái chết là), không-thời gian – “cái ǵ đó” thông qua nghĩa đôi của động từ ticken, rơ ra là thời gian (hay một thời gian nào đó, một thời gian tính nào đó), và nó cũng là ngôn ngữ, lời nói – phải có cơ may, bằng cách tự làm cho họ nghe thấy được, đánh thức họ, nghĩa là: đưa họ vào sự hiện hữu, cho họ đời sống. Mục tiêu này đă không được hoàn thành: “và quí vị đang ngủ.” Thế nhưng “cái ǵ đó”-thời gian-lời nói (“lời nói” hiểu theo nghĩa nhấn mạnh) đă là “nghe thấy được” tái xác nhận với chúng ta “nó là/Tôi vẫn”. “Không có cái ǵ mất đi,” người ta rất có thể nói thế, đoán trước một gịng thơ  ở khổ áp chót của bài thơ. Và thực vậy việc xác nhận, sự “lập lại” câu thơ của cuối khổ III ở phía tay phải mép trang giấy, bắt đầu cho khổ IV.” (78)

[IV]                                                                                    Bin es noch immer –

 

Jahre.

Jahre, Jahre, ein Finger

tastet hinab und hinan, tastet

umber:

Nachtstellen, fühlbar, hier

klafft es weit auseinander, hier

wuchs es weider zusammen – wer

dechte es zu?

 

Những năm.

Những năm, những năm, một ngón tay

lần ṃ, lên cao, xuống thấp, lần ṃ

quanh suốt:

những đường khâu vết thương, cảm thấy được, ở đây

mở toang hoác, ở đây

đă khép miệng – ai

đă che đậy nó lại?

 

                                                                               Đă che dậy nó lại

                                                                                                           – ai?

 

Trong khi khổ III chứa đựng luận ngôn về “cái ǵ đó” vừa là lời nói vừa là thời gian th́ khổ IV đưa/gợi ra mô tả thời gian là ǵ và việc con người giao dịch với thời gian ra sao. Gọi là “gợi ra/triệu dẫn” v́ đă được biểu lộ chính trong luận ngôn và cấu trúc của những lời/từ vượt ra ngoài  mức chỉ nghĩa (semantic level) không những tạo nên tính chất liên tục, vô hạn mà c̣n tạo ra sự ngắt quăng (caesura) của thời gian nội giới (inner time) được kư ức về quá khứ tạo ra ngay trong nhân hữu. Tuy Celan viết “Jahre/Jahre, Jahre/Những năm/Những năm, những năm” nhưng người đọc phải chú ư sự kiện không có ǵ được thực sự nói tới về thời gian này và thi sĩ chỉ nhắc đến những năm và lặp lại trong câu thơ kế tiếp để chỉ ra tính chất thiết yếu của diễn biến thời gian kéo dài (duration). Bởi v́ thời gian cũng trở thành không gian ngay khi ta t́m cách mô tả thời gian nên “vủng” kư ức có h́nh thức một bề mặt của một quang cảnh không rơ rệt những thung lũng và những ngọn đồi không có điểm qui chiếu, và người ta không thể băng ngang nên phải lần ṃ sờ soạng như thể là một ngón tay. Theo Szondi, nếu dùng cách giảng văn (explication de texte) cổ điển để giải thích cụm từ “như thể” ở đây th́ cả ngôn từ và việc đọc khổ này đều bị bóp méo v́ không thấy được tác gia đă dùng cách cải dung (synecdoche) (“một ngón tay”) tuy chỉ là một phần nhưng lại biểu trưng cho toàn thể sự hồi tưởng, nhưng thực sự thiết yếu phải nhận ra rằng “ngón tay” ở đây biểu trưng một cái ǵ đó là không quan trọng v́ trong suốt cả khổ thơ không cho thấy nó tuợng trưng cho cái ǵ là quan trọng cả. Nói cho gọn ở đây hoàn toàn không phải là vấn đề dung tượng (représentation). Nếu giải thích ngón tay sờ soạng lần ṃ ở đây là hành vi của kư ức th́ bản văn bài thơ bị hiểu sai, bị bóp méo v́ tác giả dùng động từ tasten có hai nghĩa vừa là sờ soạng vừa là tạo liên hệ chứ không có nghĩa tưởng nhớ. V́ vậy tasten cũng tạo lập được mối quan hệ thân thuộc (affinité) giữa sự hiện hữu và thời gian, giữa những nguời đang ngủ với cái ngón tay lần ṃ sờ soạng, tức là mở ra thời gian nội tại (inner time). Đẩy xa diễn giải thêm một bước Szondi cho rằng kẻ lần ṃ sờ soạng tuy đă mất nhưng vẫn cố trở thành “nghe thấy được” đối với mọi người, để làm cho họ t́m kiếm nó. Thế nhưng nếu việc trở lại quá khứ không xảy ra th́ có lẽ hẳn v́ tính chất của quá khứ này là “Nahtstellen, fühlbar, hier/klafft es weit auseinander, hier/wuchs es wieder zusammen – wer/ deckte es zu?/Những đường khâu, sờ được, ở đây/nó mở rộng toác miệng, ở đây/ chúng lại liền miệng với nhau – ai/đă phủ chúng lại?” Đó là một quá khứ chĩu nặng thương tích, một quá khứ chấn thương (a traumatic past). Chính v́ vậy thời gian được cho là “mở ra” ở đây đồng thời cũng là bị che đậy lại. Szondi nhận xét: “Hai qui kết trái nguợc nhau được nói lên bởi hai tiếng nói khác nhau: bởi tiếng nói của “cái ǵ đó”-thời gian (như trong khổ III) và bởi tiếng nói  của những người là những kẻ, chỉ sờ soạng với một ngón tay, ngần ngại thọc sâu vào ngả mở rộng kư ức của họ (khổ IV). Để không làm sai lệch việc đọc bởi diễn giải (và bởi cái mà chúng ta vừa nói là để đánh dấu, nói một cách chung chung, sự khác biệt giữa đọc và diễn giải), chúng ta hăy khẳng định rằng khổ IV của bài thơ đă không nói rằng “cái ǵ đó” này đă được che phủ (hay ngay cả “chủ đề” của khổ IV là một cái ǵ đó “nằm giữa họ,” khổ II). Tất cả cái được nói lên chỉ là câu hỏi: “ai/che phủ nó lại?”(79) Câu hỏi này được đặt ngược bằng cách đảo nghược chủ từ “Deckte es zu - wer?” dẫn khởi cho khổ V.

      

Khổ V là khổ trung tâm của bài thơ như cấu trúc 4+1+4 đă định:

[V]                                                                  Dechte es

                                                                     zu – wer?

      

Kam, kam.

Kam ein Wort, kam

kam durch die Nacht,

wollt leuchen, wollt leuchen.

 

Asche

Asche, Asche.

Nacht.

Nacht-und-Nacht. – Zum

Aug geh, zum feuchten.

 

                                                         Đă che dậy nó lại

                                                                                     – ai?

 

Đă tới, đă tới

Đă tới một lời, đă tới,

đă tới qua đêm tối

muốn tỏa sáng, muốn tỏa sáng.

 

Tro.

Tro, tro.

Đêm tối.

Đêm tối-và-đêm tối. – Đi

tới con mắt, tới con mắt đẫm lệ.

 

Chuyển vận tiệm tiến bắt đầu từ khổ I của bản văn được viết từ vị trí người đọc đến đây xoay chiều bằng cách thay đổi động từ từ thời hiện tại sang quá khứ. Từ khổ V đến khổ IX ngược lại động từ ở thời quá khứ lại chuyển sang hiện tại. Szondi nhận xét chuyển vận này cũng được thấy ở tầm mức nhỏ hơn ở khổ V với cặp hai câu thơ đầu “Kam, kam./Kam ein Wort, kam/ kam durch die Nacht,/wollt leuchen, wollt leuchen” động từ ở thời quá khứ, và “Asche./Asche, Asche./Nacht./Nacht-und-Nacht.” động từ ở thời hiện tại, c̣n câu thơ cuối

“– Zum/ Aug geh, zum feuchten.” động từ ở thể mệnh lệnh bắt đầu bởi gạch ngang “–” Thế nên nếu ta “đọc” khúc nối khổ IV với khổ V như đọc một khung nhạc ta sẽ khám phá ra có sự gián đoạn ngay trong câu hỏi chứa đựng trong sự lập lại “Dechte es/ zu – wer?” và cái vực sâu phân chia hai đoạn thơ này là do câu hỏi đưa vào. Sự gián đoạn này được báo cho biết bằng cú pháp đảo ngược từ “– wer/ dechte es zu?” sang thành “Dechte es/  zu – wer?” và bằng dấu gạch “–” đánh dấu chính nơi gián đoạn. Trước câu hỏi: ta có nên lư giải ư nghĩa của sự gián đoạn này không Szondi cho rằng làm vậy tức là bỏ nguyên tắc đọc âm nhạc, nhưng ta cũng vẫn có thể giải thích ư nghĩa của sự gián đoạn v́ trước mặt ta là một bản văn thi ca và ta có thể dùng những kỹ thuật đọc khác nhau. Thế nhưng nguyên tắc đọc này dường như gợi ư rằng sự gián đoạn không cần có lời giải thích bởi v́ ngả vào có trước câu hỏi gián đoạn này – hay nói rơ hơn mối tương quan giữa câu hỏi và ngả đi vào kế tiếp – chính nó soi sáng chức năng của sự gián đoạn. Szondi giải thích tại sao dùng từ “chức năng” thay v́ “ư nghĩa”: chức năng thuộc về khoa từ nghĩa học (semantics), và cũng bởi v́ được cứu xét  ớ “cấp độ cú pháp” (syntactical level) theo nghĩa rộng của từ này tức là ở cấp độ của việc soạn thảo bản văn. Nếu ngả đi vào này “Kam, kam./Kam ein Wort, kam/kam durch die Nacht” soi sáng chức năng của sự gián đoạn ở trong câu hỏi th́ chính chỉ bởi nó không thể được dùng như một câu trả lời cho câu hỏi “Dechte es/ zu – wer?”. Việc tỉnh lược câu thơ này gây khó khăn cho người đọc về từ “ – wer?” Celan muốn chỉ cái ǵ.  Theo Szondi không thể quan niệm từ này để chỉ lời nói tới/đến bởi v́ nó mong ước chiếu sáng trong đêm tối của những lời ngủ say như ở khổ II cho biết (“… nein/, redeten /Không một/ tỉnh thức” đă che phủ (zugedeckt) sự rộng mở của kư ức. Tuy nói là không thể quan niệm được đồng thời kết luận rằng danh từ “wer” dùng để hỏi trong câu hỏi được lập lại “Dechte es/ zu – wer?” lại không cùng là “wer” ở câu hỏi trong câu thơ cuối của khổ IV “wer/ dechte es zu?” và v́ vậy “wer” ở câu hỏi ở khổ II không phải là chủ từ cho thuộc từ nữa. Szondi cho rằng luận điểm này là gượng ép hay có thể là sai dù rằng nó sẽ là sai nếu người ta không thể tính tới sự kiện từ “wer?” này tự nó tŕnh diện mặc dù có sự lật ngược và có dấu “– ” như chủ từ của thuộc từ “Che phủ nó lại” nhưng đó lại không phải là thuộc từ. Szondi cho rằng mô tả trên trung thành với phương pháp phân tích âm nhạc hơn là phương pháp giảng văn, và mô tả này rất tương tự với việc soạn nhạc khi thay thế một nốt  bằng nốt ḥa âm tương đương. Và một khi người ta đồng ư rằng từ “wer?” trong câu “Dechte es/  zu – wer?” đồng thời được coi như chủ từ của câu hỏi và đứng rời ra khỏi câu th́ từ này có một chức năng mới như một câu hỏi tương ứng với câu trả lời được đưa ra ở khổ kế tiếp “Kam, kam./Kam ein Wort”. “Việc đọc này khẳng định sự hiện hữu của hai chức năng khác nhau và một sự chuyển từ chức năng này sang chức năng kia – điều này chính là hậu quả của việc sử dụng một sự trùng âm (enharmonic). Nó chỉ dùng để xác nhận giả định của chúng ta rằng việc đọc bài “Engführung” đ̣i hỏi người ta đừng quá quan tâm đến ư nghĩa của các từ hơn chức năng của chúng.”(80)

Celan ngắt khổ V thành hai đoạn thơ và Szondi t́m hiểu chức năng của sự phân chia này thay v́ thông dịch cấu thức này thành một diễn ngôn ở cấp độ ư nghĩa. Ngắt đoạn, kẽ nứt này chỉ ra sự đối chọi triệt để mà không có một h́nh thức trung gian nào. (81) Một mặt giữa vũ trụ của“lời” tới “xuyên qua đêm” mong “tỏa sáng” và cái thực sự đă tới (Kam, kam./Kam ein Wort) và mặt khác thế giới của “Ash/Tro” th́ “đêm” tuyệt đối này chỉ biết về chính nó và “Nacht-und-Nacht/Đêm-và-Đêm” do đó chúng ta chỉ có thể nh́n thấy sự đối nghịch thuần túy, ngắt quăng. Szondi cho rằng chức năng của sự ngắt quăng này chỉ thể nhận ra được trong ánh sáng của việc soạn thảo toàn thể bài thơ mô tả một diễn tiến từ một khởi điểm và một trở lại (từ hiện tại sang quá khứ và từ quá khứ sang hiện tại) và đó là một diễn tiến được kinh nghiệm bởi ư thức như kư ức, kinh nghiệm này liên hệ tới một sự  quay trở lại điểm khởi hành nhưng nguồn gốc này lại bị biến đổi bởi chính kinh nghiệm đó và đấy là cuộc phiêu du hay một biến cố/sự và cuối cùng không là ǵ hết ngoài bản văn bài thơ trong tiến tŕnh được thực hiện. “Ở khúc giữa dọc ngả đường này, một con đường không được mô tả ra nhưng được đi theo – được đi, hay một cách chính xác hơn, được mở ra bởi chính bài thơ – chúng ta t́m thấy một điểm ngoặt ở đó hai thế giới đứng đối nghịch nhau. Chính sự đối nghịch này khiến cho kinh nghiệm là cần thiết, một sự đối nghịch chỉ được giải quyết qua sự hiện đến là biến cố của bài thơ, biến cố này bài thơ.”(82) Theo Szondi nói về sự đối nghịch này một cách trắng ra là điều xa lạ đối với diễn ngôn của Celan v́ trong bài thơ này sự đối nghịch chỉ được thực hiện trong sự đối mặt nhau của hai đoạn thơ trong khổ V và bài thơ ép buộc sự đối mặt  xảy ra ở quăng giữa và chính nó cho thấy sự tiệm tiến của nó thay v́ mô tả sự đối mặt này. Mệnh lệnh ở cuối khổ II được lập lại nguyên văn nhưng theo một nhịp điệu chậm hơn như Celan chỉ ra bằng ba ḍng thơ “lập lại” ở chỗ nối tiếp khổ V và khổ VI:

                                                                                          Zum

                                                                          Aug geh,

                                                                                    zum feuchten –

                                                                                                                          Đi

                                                                                               tới con mắt

đẫm lệ

 

Mệnh lệnh này như thể nói với lời/từ ở khổ V “Kam, kame/Đă tới, đă tới” nhưng trong chức năng ra lệnh của nó dường như nó cũng như đang nhắc nhở những mệnh lệnh ở khổ I: “Lies nicht mehr – schau!Schau nicht mehr – geh!/Đừng đọc – hăy nh́n/ Đừng nh́n, hăy đi.” Thông thường mệnh lệnh được hiểu là nhắm tới hoặc lời nói hoặc tác giả-độc giả. Nhưng ở đây hai mệnh lệnh này không những tương hợp nhau mà c̣n giống hệt nhau lư do không những chỉ v́ bản văn là sự tiến diễn của hành vi thi ca và của việc đọc mà c̣n v́ diễn tiến này trùng hợp với sự cố/cái xảy ra (“und/es kam/và/nó đă tới” được thực hiện trong bài thơ. Sự đồng nhất tuy là ngược ngạo này nhưng nó đă phát sinh từ sự hợp lư của chính bài thơ nơi khổ VI là khổ dài nhất và người ta cũng có thể nói rằng nó được định tính bởi sự dài ḍng lúng túng (disconcerting verbosity) khiến cho người đọc không c̣n có thể theo dơi từng ḍng bản văn. Tuy vậy người đọc không được hài ḷng với việc nhận ra hay phê phán sự dài ḍng này mà phải t́m hiểu xem lư do tại sao. Chính điều này một lần nữa lại đưa chúng ta trở lại vấn đề vai tṛ của ngôn ngữ trong bài thơ.    ____________________________________

(78) Sđd trang 44: Thus, one must conclude that what “lay between them” as they lay there, sleeping upon the “blackish field” that is death (death that is), non-time – the “something” that, through the double meaning of ticken, appears to be time (or a certain time, a certain temporality), and that is also language, word – must have a chance, by making itself audible to them, to awake them, that is: to lead them into existence, give them life. This goal has not been achieved: “and you are asleep.” But the “something”-time-word (“word” in the emphatic sense) that was “audible” reassure us: “it is/I still.” Nothing is lost,” one might say, anticipating a line from the penultimate section of the poem. And it is in fact this confirmation, this “reprise” of the end of section III at the right hand edge of the page, that begins the fourth section.

(79) Sđd trang 46: The two contradictory attributions are spoken by two different voices: by the voice of the “something”-time (in the third section) and by the voice of the ones who, touching only with a finger, are hesitating to plunge into the opening that is their memory (section IV). In order not to distort the reading by the interpretation (and what we are about to say marks, in a general way, the difference between reading and interpretation), let us affirm that in the fourth section of the poem it is not stated that this “something” has been covered (or even the “subject” of IV is this “something” that “lay between them,” II). All that is given voice to is the question: “who/covered it up?”

(80) Sđd trang 49: This reading asserts the existence of two different functions and a shift from one to the other – which is precisely what the use of an enharmonic entails. This only serves to confirm our premise that reading “Enführung” demands that one consider not so much the meaning of the words as their function.

(81) Hai dịch giả sang Anh văn Susan Bernofsky và Harvey Mendelsohn chú thích: Diễn giải này của Szondi dựa trên bản dịch bài thơ sang Pháp văn không nhắc đến nhịp điệu giữa hai từ leuchen (tỏa sáng) và feuchten (ướt đẫm). Trong một cuộc truyện tṛ với sinh viên của ḿnh Szondi có lần nhắc đến bản tiếng Đức của bài khảo luận của ḿnh việc làm trung gian này sẽ được cứu xét.

(82) Sđd trang 50: Midway along this path, a path not described but followed – taken, or more precisely, opened by the poem itself – we find a turning point where the two worlds stand in opposition. It is this opposition that makes the experience necessary, an opposition that is resolved only through the advent that is the poem’event, that is the poem.

(c̣n tiếp)

     đào trung đạo

 

http://www.gio-o.com/DaoTrungDao.html

 

 

© gio-o.com 2016