đào trung đạo
thi sĩ / thi ca
(93)
Kỳ 1, Kỳ 2, Kỳ 3, Kỳ 4, Kỳ 5, Kỳ 6, Kỳ 7, Kỳ 8, Kỳ 9, Kỳ 10, Kỳ 11, Kỳ 12, Kỳ 13, Kỳ 14, Kỳ 15, Kỳ 16, Kỳ 17, Kỳ 18, Kỳ 19, Kỳ 20, Kỳ 21, Kỳ 22, Kỳ 23, Kỳ 24, Kỳ 25, Kỳ 26, Kỳ 27, Kỳ 28, Kỳ 29, Kỳ 30, Kỳ 31, Kỳ 32, Kỳ 33, Kỳ 34, Kỳ 35, Kỳ 36, Kỳ 37, Kỳ 38, Kỳ 39, Kỳ 40, Kỳ 41, Kỳ 42, Kỳ 43, Kỳ 44, Kỳ 45, Kỳ 46, Kỳ 47, Kỳ 48, Kỳ 49, Kỳ 50, Kỳ 51, Kỳ 52, Kỳ 53, Kỳ 54, Kỳ 55, Kỳ 56, Kỳ 57, Kỳ 58, Kỳ 59, Kỳ 60, Kỳ 61, Kỳ 62, Kỳ 63, Kỳ 64, Kỳ 65, Kỳ 66, Kỳ 67, Kỳ 68, Kỳ 68,Kỳ 66, Kỳ 69, Kỳ 70, Kỳ 71, Kỳ 72, Kỳ 73, Kỳ 74, Kỳ 75, Kỳ 76, Kỳ 77, Kỳ 78, Kỳ 79, Kỳ 80, Kỳ 81, Kỳ 82, Kỳ 83, Kỳ 84, Kỳ 85, Kỳ 86, Kỳ 87, Kỳ 88, Kỳ 89, Kỳ 90, Kỳ 91, Kỳ 92, Kỳ 93,
GIUSEPPE UNGARETTI
Chương II
Thi pháp và Thi ca của Ungaretti
THƠ UNGARETTI (tiếp theo)
GIROVAGO
In nessuna
parte
di terra
mi posso
accasare
A ogni
nuovo
clima
che incontro
mi trovo
languente
che
una volta
già gli ero stato
assuefatto
E mi ne stacco sempre
Straniero
Nassendo
tomato da epoche troppo
vissute
Godere un solo
minuto di vita
iniziale
Cerco un paese
Innocente
Campo di Mailly maggio 1918
KẺ LANG THANG
Không
nơi nào
trên mặt đất
tôi có thể
ở lại
Trong mỗi
mới
khí hậu
mà tôi ghé ngang
tôi thấy mình
chán chường
rằng lần trước
tôi đã
ở đó
Và tôi luôn luôn rời nơi đó như
kẻ xa lạ
Tái sinh
từ những thời kỳ đã
sống qua
Vui thú chốc lát
cuộc sống
lúc đầu
Tôi đi tìm một xứ sở
hồn nhiên
O NOTTE
Dall’ ampia ansia dell’alba
Svelata alberatura.
Dolorosi risvegli.
Foglie, sorelle foglie,
Vi ascolto nel lamento.
Autunni,
Moribonde dolcezze.
O gioventù,
Passata è appena l’ora del distacco.
Cieli alti della gioventù,
Libero slancio.
E già sonno deserto.
Perso in questa curva malinconia.
Ma la notte sperde le lontananze.
Oceanici silenzi,
Astrali nidi d’illusione.
O notte.
1919
ÔI ĐÊM
Với đầy khao khát rạng đông
Cột buồm mở toang.
Thức giấc đớn đau.
Lá, lá chị em của tôi
Tôi nghe chị em thở than.
Thu,
Những cơn hấp hối dịu dàng.
Ôi tuổi trẻ,
Thời khắc chia xa vừa qua.
Bầu trời cao của tuổi trẻ,
Tự do băng băng.
Và tôi đây đã sa mạc.
Mất hút trong vòng u sầu.
Nhưng đêm tối trải những khoảng cách.
Niềm im lặng của biển cả,
Tổ sao trời của ảo ảnh.
Ôi đêm.
INNO ALLA MORTE
Amore, mio giovine emblema,
Diffuso entro il giorno rupestre,
È l’ultima volta che miro
(Appiè del botro, d’irruenti
Acque sontuoso, d’antri
Funesto) la scia di luce
Che pari alla tortora lamentosa
Sull’erba svagata si turba.
Amore, salute lucente,
Mi pesano gli anni venturi.
Abbandonata la mazza fedele,
Scivolerò nell’acqua buia
Senza rimpianto.
Morte, arido fiume...
Immemore sorella, morte,
L’uguale mi farai del sogno
Baciandomi.
Avrò il tuo passo,
Andrò senza lasciare impronta.
Mi darai il cuore immobile
D’un iddio, sarò innocente,
Non avrò più pensieri né bontà.
Colla mente murata,
Cogli occhi caduti in oblio,
Farò da guida alla felicità.
1925
TỤNG CA GỬI CÁI CHẾT
Tình yêu, biểu tượng thanh xuân của tôi,
Trở lại dát vàng trái đất,
Xuyên vào ngày sỏi đá,
Đây lần cuối tôi nhìn
(Dưới chân hẻm núi, nước
Bỗng tối xậm, mầu sầu thảm
của hố sâu) vệt ánh sáng
Trông giống như con chim gáy không ngưng thở than
Trên cỏ thờ ơ.
Tình yêu, sức khỏe rạng ngời,
Những năm tháng sẽ tới đè nặng vai tôi.
Buông cây gậy chống trung thành,
Tôi sẽ trườn mình trong nước xậm tối
Không hối tiếc.
Cái chết, dòng sông khô cạn...
Người em không ký ức, cái chết,
Chỉ bằng một nụ hôn
Sẽ làm tôi ngang bằng giấc mơ.
Tôi sẽ có cùng bước chân em,
Tôi sẽ ra đi không để lại dấu vết.
Em sẽ cho tôi trái tim bất động
Của một thần linh, tôi sẽ hồn nhiên,
Tôi sẽ chẳng còn có tư tưởng, tính thiện.
Đầu óc bưng kín,
Mắt rơi vào quên lãng,
Tôi sẽ làm kẻ dẫn đường tới hạnh phúc.
LA PIETÀ
1.
Sono uomo ferito
E me ne vorrei andare
E finalmente giungere,
Pietà, dove si ascolta
L’uomo che è solo con sé.
Non ho che superbia e bontà.
E mi sento esiliato in mezzo agli uomini.
Ma per essi sto in pena.
Non sarei degno di tornare in me?
Ho popolato di nomi il silenzio.
Ho fatto a pezzi cuore e mente
Per cadere in servitù di parole?
Regno sopra fantasmi.
O foglie secche,
Anima portata qua e là...
No, odio il vento e la sua voce
Di bestia immemorabile.
Dio, coloro che t’implorano
Non ti conoscono più che di nome?
M’hai discacciato dalla vita.
Mi discaccerai dalla morte?
Force l’uomo è anche indegno di sperare.
Anche la fonte del rimorso è secca?
Il paccato che importa,
Se alla purezza non conduce più.
La carne si ricorda appena
Che una volta fu forte.
È folle e usata, l’anima.
Dio, guarda la nostra debolezza.
Vorremmo una certezza.
Di noi nemmeno più ridi?
E compiangici dunque, crudeltà.
Non ne posso più di stare murato
Nel desiderio senza amore.
Una traccia mostraci di giustizia.
La tua legge qual è?
Fulmina le mie povere emozioni,
Liberami dall’inquietudine.
Sono stanco di urlare senza voce.
2.
Malinconiosa carne
Dove una volta pullulò la gioia,
Occhi socchiusi del risveglio tanco,
Tu vedi, anima troppo matura,
Quel che sarò, caduto nella terra?
È nei vivi la strada dei defunti,
Siamo noi la fiumana d’ombre,
Sono esse il grano che ci scoppia in sogno,
Loro è la lontananza che ci resta,
E loro è l’ombra che dà peso ai nomi.
La speranza d’un mucchio d’ombra
E null’altro è la nostra sorte?
E tu non saresti che un sogno, Dio?
Almeno un sogno, temerari,
Vogliamo ti somigli.
È parto della demenza più chiara.
Non trema in nuvole ni rami
Come passeri di mattina
Al filo delle palpebre.
In noi sta e langue, piaga misteriosa.
3.
La luce che ci punge
È un filo sempre più sottile.
Più non abbagli tu, se non uccidi?
Dammi questa gioia suprema.
4.
L’uomo, monotono universo,
Crede allargarsi i beni
E dalle sue mani febbrili
Non escono senza fine che limiti.
Attaccato sul vuoto
Al suo filo di ragno,
Non teme e non seduce
Se non il proprio grido.
Ripara il logorio alzando tombe,
E per pensarti, Eterno,
Non ha che le bestemmie.
1928
LÒNG TRẮC ẨN
1.
Tôi là một người bị thương.
Và tôi muốn bỏ đi
Và rút cục tôi muốn đi tới,
Lòng trắc ẩn, nơi người đời nghe nói rằng
Con người cô độc với chính mình.
Tôi chỉ có sự kiêu hãnh và tính thiện.
Và tôi cảm thấy mình bị lưu đầy giữa trần gian.
Nhưng tôi khổ đau cho trần gian.
Tôi có xứng đáng trở về với chính mình?
Tôi ngụ cư niềm im lặng bằng những cái tên.
Tôi có xé đầu óc và trái tim thành từng mảnh
Để có thể phục vụ những từ không?
Tôi trị vì những ảo tượng.
Ôi những chiếc lá khô,
Linh hồn mang theo nơi đây và nơi đó.
Nhưng tôi thù ghét gió, và tiếng gió
Của quái vật không ký ức.
Hỡi Thượng đế, người biết chăng những kẻ van xin người
Chỉ biết người bằng một cái tên?
Người đã xua đuổi tôi khỏi đời sống.
Người có sẽ xua đuổi tôi khỏi cái chết?
Có lẽ con người bất xứng ngay cả niềm hy vọng.
Phải chăng cả suối nguồn của ân hận cũng cạn khô?
Tội lỗi quan trọng gì đâu
Nếu không là con đường dẫn tới thuần khiết?
Thân xác mấy khi nhớ rằng
Đã từng rất mạnh mẽ.
Linh hồn cuồng điên và ruỗng mục.
Thượng đế, người hãy nhìn sự yếu đuối của chúng tôi.
Chúng tôi mơ tưởng một sự chắc thực.
Người có còn nhạo báng chúng tôi?
Hãy thương cảm, một cách tàn bạo.
Tôi không còn bị vây hãm
Trong sự ham muốn không có tình yêu.
Hãy chỉ ra cho chúng tôi thấy dấu vết của công lý.
Phải chăng đó là luật tắc của người?
Xin hãy trừng phạt những cảm xúc nghèo nàn của chúng tôi,
Xin giải thoát tôi khỏi âu lo.
Tôi đã chán hú gào mà không có tiếng nói.
2.
Thân xác của u sầu
Nơi trước đây niềm vui tràn đầy,
Mắt nhắm mắt mở không muốn tỉnh dậy,
Người thấy chăng, tâm hồn đã quá chín mọng,
Tôi sẽ ra sao, dưới trái đất?
Con đường những người đã chết băng ngang qua chúng ta.
Chúng ta là dòng sông những hình bóng,
Chúng là những hạt mầm nở bung trong những giấc mơ của chúng ta,
Chúng là khoảng cách còn đó dành cho chúng ta,
Hình bóng cho những cái tên sức nặng.
Số phần của chúng ta sẽ chẳng hơn gì
Niềm hy vọng của một đống bóng hình?
Người, Thượng đế, nào có khác gì một giấc mộng?
Giấc mộng đó, ít ra,
Chúng tôi liều lĩnh muốn nó giống như Người.
Nó là trái kết của sự điên khùng sáng tỏ hơn hết.
Nó không lay động dọc theo mi mắt
Như nơi những cành cây mây phủ
Những con chim sẻ của ban mai.
Nó trong ta và khóc than, vết thương bí ẩn.
3.
Ánh sáng cứa chúng ta
Là một sợi luôn căng cứng.
Người có còn làm chói mắt mà không giết chết?
Hãy ban cho tôi niềm vui tối thượng đó.
4.
Con người, vũ trụ đơn điệu,
Tưởng chừng có thể phóng đại vương quốc của hắn
Và từ những bàn tay nóng hổi
Chỉ đưa ra được những những giới hạn.
Treo lửng lơ trên khoảng trống
Một sợi mạng nhện,
Hắn chỉ than phiền và chỉ quyến dụ
Không gì khác ngoài tiếng kêu của chính mình.
Hắn sửa chữa sự sụp đổ bằng cách dựng lên những nấm mồ,
Và để nghĩ tưởng về ngươi, Vĩnh cửu
Hắn không có gì khác ngoài những lời báng bổ.
Thi pháp và Thi ca của Ungaretti (tiếp theo)
Ungaretti chịu ảnh hưởng của Petrarque và Leopardi ra sao? Đây là một vấn đề khá phức tạp, chỉ xin giản lược và sẽ triển khai hơn khi nói về thi ca của Ungaretti. Trong phần trên ảnh hưởng của Léopardi đã được Ungaretti sơ lược. Nay xin nói thêm về ảnh hưởng của Pétrarque: Pétrarque là thi sĩ của Ký ức và Ánh sáng. Trong bài khảo luận về Pétrarque “Punto di mira” Ungaretti đưa ra ba khuôn mẫu thi ca Dante, Pétrarque và Léopardi chủ yếu để chỉ ra trách nhiệm của thi ca: trên hết là soi sáng thế giới nội tại của thi sĩ. Ungaretti gián tiếp nói đến Petrarque trong bài thơ Il porto sepolto/Hải cảng chìm lấp qua hai câu cuối “quel nulla/d’inesauribile segreto”/một cái không gì hết này/của sự bí mật không thể cạn kiệt.” Cũng trong bài này Ungaretti nói đến sự mất đi giá trị tôn giáo trong ngôn ngữ tạo nên một khoảng trống cần được lấp đầy bằng xây dựng một truyền thống mới. Chính vì lý do này Ungaretti nghiêng về Pétrarque và Léopardi hơn Dante để nối lại truyền thống giá trị tôn giáo của thi từ. Ungaetti cho rằng thi ca của Dane thuộc thể loại “sử thi” (epic) trong khi thi ca của Pétrarque thuộc thể loại “trữ tình” (lyric). Cũng theo Ungaretti, sau Pétrarque diễn ngôn ẩn dụ đã cạn kiệt cho nên thi ca hiện đại phải giải quyết vấn nạn này. Một trong những cách làm là phục hồi nhạc tính của ngôn ngữ.
Vì là bài diễn văn đọc trước những thính giả trí thức chọn lọc nên Ungaretti rất ngắn gọn khi nói về thi pháp của mình. Khi nhắc đến ảnh hưởng của Léopardi, Pétrarque, Bergson, Mallarmé, Appolinaire ông đã giả thiết những thính giả này tất nhiên có kiến thức về triết lý của Bergson, thi ca và thi pháp của Léopardi, Pétrarque, Mallarmé, và Appolinaire nên Ungaretti đã không đi vào chi tiết những vấn đề này. Vì vậy người đọc phải tự tìm hiểu. Những chủ đề này được Ungaretti quảng diễn ở quyển Innocence et Mémoire [7]. Điều Ungaretti nhấn mạnh là: tuy phải có “thầy” nhưng nếu là thi sĩ đúng nghĩa thì phải có cách riêng để thu nhận ành hưởng của người thầy mình đã chọn lựa và tính chất độc đáo của thi sĩ thực sự được khởi hứng từ tiểu sử. Cũng vì vậy thi sĩ thực sự chỉ thể là độc nhất.
Như chúng ta thấy “từ” (mot) trong thơ của Ungaretti là những “thi từ” trần trụi (naked), câu thơ ngắn, đoạn rời (fragmented) và đa số các bài thơ gồm những câu thơ không có dấu phết/phẩy (,) hay chấm (.). Cú pháp thơ Ungaretti cũng giản lược, không theo lối đặt câu theo văn phạm thông thường, nhiều khi đảo ngược trật tự hay vắt ngang. Hai tính chất này cho thấy Ungaretti chủ ý buộc người “đọc” phải nỗ lực tự tìm ra ý nghĩa của từ và của câu thơ. Chính vì vậy chuyển ngữ thơ của Ungaretti tưởng như dễ dàng nhưng thật ra rất khó.
__________________________________
[7] Giuseppe Ungaretti, Innocence et Mémoire, do Philippe Jaccottet dịch, nxb Gallimard 1969.
(còn tiếp)
đào trung đạo
http://www.gio-o.com/DaoTrungDao.html
© gio-o.com 2018