đào trung đạo

(107)

Kỳ 1, Kỳ 2, Kỳ 3, Kỳ 4, Kỳ 5, Kỳ 6, Kỳ 7, Kỳ 8, Kỳ 9, Kỳ 10, Kỳ 11, Kỳ 12, Kỳ 13, Kỳ 14, Kỳ 15, Kỳ 16, Kỳ 17, Kỳ 18, Kỳ 19, Kỳ 20, Kỳ 21, Kỳ 22, Kỳ 23, Kỳ 24, Kỳ 25, Kỳ 26, Kỳ 27, Kỳ 28, Kỳ 29, Kỳ 30, Kỳ 31, Kỳ 32, Kỳ 33, Kỳ 34, Kỳ 35, Kỳ 36, Kỳ 37, Kỳ 38, Kỳ 39, Kỳ 40, Kỳ 41, Kỳ 42, Kỳ 43, Kỳ 44, Kỳ 45, Kỳ 46, Kỳ 47, Kỳ 48, Kỳ 49, Kỳ 50, Kỳ 51, Kỳ 52, Kỳ 53, Kỳ 54, Kỳ 55, Kỳ 56, Kỳ 57, Kỳ 58, Kỳ 59, Kỳ 60, Kỳ 61, Kỳ 62, Kỳ 63, Kỳ 64, Kỳ 65, Kỳ 66, Kỳ 67, Kỳ 68, Kỳ 68,Kỳ 66, Kỳ 69, Kỳ 70, Kỳ 71, Kỳ 72, Kỳ 73, Kỳ 74, Kỳ 75, Kỳ 76, Kỳ 77, Kỳ 78, Kỳ 79, Kỳ 80, Kỳ 81, Kỳ 82, Kỳ 83, Kỳ 84, Kỳ 85, Kỳ 86, Kỳ 87, Kỳ 88, Kỳ 89, Kỳ 90, Kỳ 91, Kỳ 92, Kỳ 93, Kỳ 94, Kỳ 95, Kỳ 96, Kỳ 97, Kỳ 98, Kỳ 99, Kỳ 100, Kỳ 101, Kỳ 102, Kỳ 103, Kỳ 104, Kỳ 105, Kỳ 106, Kỳ 107,

GIUSEPPE UNGARETTI

Chương II

Thi pháp và Thi ca của Ungaretti

Từ Sentimento del Tempo/Thời Cảm qua Il dolore/Khổ Đau đánh dấu giai đoạn thứ ba trong lộ trình thi ca của Ungaretti chúng ta thấy có những chuyển dịch về kinh nghiệm nhận thức mới trong Đất Hứa dù đó là thứ “nhận thức hãi hùng” về hư vô dưới ảnh hưởng tư tưởng của Pascal. Thực tại nay được nhận thức không qua giác quan mà qua trí tuệ, cái chết được đặt trong tương quan với hiện hữu. Từ nhận thức về mối tương quan này Ungaretti lặng lẽ thốt lên tiếng kêu cô đơn trong niềm ẩn mật của thi sĩ:

                               SEGRETO DEL POETA

                               Solo ho amica la notte.

                               Sempre potrò trascorrere con essa

                               D’attimo in attimo, non ore vane;

                               Ma tempo cui il mio palpito trasnetto

                               Come m’aggrada, senza mai distrarmene.

 

                               Avviene quando sento,

                               Mentre riprende a distaccarsi da ombre,

                               La speranza immutabile

                               In me che fuoco nuovamente scova

                               E nel silenzio restituendo va,

                               A gesti tuoi terreni

                               Talmente amati che immortali pervero,

                               Luce.

      

                               Tôi chỉ có người bạn là đêm tối.

                               Cùng cô ta tôi có thể băng qua

                               Thời khắc này sang thời khắc khác, những giờ không còn trống trải

                               Nhưng với thời gian nhịp tim tôi đập theo như

                               Tôi muốn, không hề sao nhãng.

 

                               Nên khi cảm thấy,

                               Lúc thời gian lại tách rời khỏi bóng,

                               Niềm kỳ vọng bất động

                               Nơi tôi, ngọn lửa lại bùng cháy,

                               Trong im lặng trao gửi

                               Về những dáng điệu trần thế của em,

                               Đáng yêu biết bao chúng dường như bất tử,

                               Ánh sáng.

                              

Corrado Pavolini nhận định về âm nhạc trong thơ Ungaretti: “Hầu như tất cả các phạm trù của tình cảm và phản tư đều có chỗ đứng trong bài ca của Ungaretti từ tập Allegria cho tới Terra Promessa. Tôi đặc biệt muốn nói tới một trong những phạm trù này: sự hiện hữu của một nỗi hoài nhớ, nỗi hoài nhớ này trong tác phẩm của ông ta, luôn luôn có mặt, luôn luôn được làm mới, tới điểm tạo thành yếu tố liên kết trong tác phẩm. Đây không phải là một hoài nhớ có tính cách tình cảm, nhưng là sự hoài nhớ của một người bị bật rễ và vết thương “giống nòi” của sự hoài nhớ sẽ không thành sẹo: Ungaretti của Alexandrie xứ Ai Cập (sau khi những con sông của Ý, của Âu châu và của những xứ Châu Mỹ đã mài nhẵn sỏi đá trong trái tim ông ta) sau bao nhiêu thăng trầm, vẫn là Ungaretti của Alexandrie xứ Ai Cập quấn chặt một cách trung thành vào những gốc rễ của cây cọ:

Vào buối chiều Thứ Bảy, giờ này

Những người Do thái

dưới kia

khiêng những người chết của họ...

Bầu trời trên đỉnh cao

những tháp giáo đường

những dải ánh sáng lung linh...

hay với những cội nguồn của sự chào đời của ông ấy:

Và đây là con sông Nil

nó nhìn thấy tôi

chào đời...

và với sụ mênh mông của phương Đông:

Tôi có một sự hối hận

như một tiếng chó sủa

đã mất

trong

một sa mạc... [44]

Ungaretti có một niềm hoài nhớ về tổ quốc và về sa mạc khá riêng biệt. Pavolini nhận ra trong niềm hoài nhớ này có hai yêu tố khác biệt và năng động trong đó yếu tố thứ nhất – yếu tố tình cảm có xuất xứ từ Thánh Kinh cho rằng chỉ trong sa mạc chứ không ở nơi nào khác là có cái nôi của lịch sử con người và rằng ta phải hoặc vứt bỏ nó đi hoặc chấp nhận mà không bao giờ được rời bỏ nó cả. Pavolini dẫn chứng việc khi Ungaretti dịch tập thơ Anabase của Saint-John Perse cũng như ở một số bài thơ khác (Lamento Arabo – Tam Tam degli animali) đã cho thấy cái thân phận con người như trong Thánh Kinh đã chỉ ra khi đối diện với sự mênh mông im lìm và tràn đầy của lục địa đen (continent noire): như thể Ungaretti là người đầu tiên cảm nhận được điềm báo của trái đất, chắp cánh bay theo hương thơm của trái đất. Yếu tố thứ nhì của hoài nhớ được tạo nên bởi tố chất làm lên men với những hiệu ứng đóng vai trò xác định trong sự biểu đạt nhịp nhàng những câu thơ do những nghiên cứu về thi ca cổ điển Ý của Ungaretti kể từ Petrarque. Ungaretti đã khám phá ra trong nỗi hoài nhớ những trống rỗng và những ngưng bặt để tạo dựng âm nhạc cho thơ. Giống như một kẻ thuộc bộ lạc du cư ở sa mạc (le bédouin) Ungaretti đã tìm thấy được thứ âm nhạc mô tả trung thực tình cảm xé rách cõi lòng mình: “Vậy hãy bỏ mặc tôi/như một/sự vật/được đặt trong/một góc/và bị bỏ quên/Nơi đây, người ta chỉ cảm thấy/hơi nóng tốt.” Đôi khi âm nhạc trong thơ Ungaretti cũng được ánh sáng mặt trời kích động: “Tôi nghiêng sang bên phải/Tôi quay sang bên trái/Tôi làm con cá/lướt đi trong nước, lướt đi/nó uốn mình, nó nhảy lên cao!/Sống, khiêu vũ, ca hát hết mình...” tới mức cuồng điên “nhấc cao gót giầy, tay vỗ/và cây kèn clarinette với những tiếng réo rắt chát chúa,” lóe lên để rồi vụt tắt như một tia chớp.

Pavolli cho rằng ngợi ca Ungaretti mà không nói đến mối tương quan giữa âm nhạc và thi ca không những là thiếu sót mà còn tạo sự hiểu nhầm về bản chất độc đáo của thông điệp Ungaretti đưa ra. Trước hết, Ungaretti hầu như là thi sĩ duy nhất – ngoại trừ Debussy, có thể – nhắm đến việc giảm trừ cường độ âm thanh tới tận những hiệu ứng thật nhỏ bé của những lời thầm thì, những tiếng thở dài và những chuyển động mờ ảo. Ungaretti cũng là thi sĩ duy nhất chỉ nói phân nửa-tiếng-nói (mi-voix): tất cả thi ca của ông ta là một sự xôn xao (grouillement) của những linh cảm (pressentiments), của những giật mình (sursauts), những run[g] nhẹ (frémissements), những rùng mình (frissons), những vuột chạy lảo đảo trên cỏ ban mai, và những bay bổng huyền ảo trong không khí của những hoàng hôn thanh khiết. Kẻ nào đi vào thi ca này, sẽ phải nhón gót, để khỏi làm kinh động những tư tưởng, những con vật bé nhỏ và những tình yêu...”[45] Cũng chẳng có nghệ sĩ nào – ngoại trừ Valéry, có thể –  hướng về tụng ca (hymne) ngay từ mẫu tự đầu tiên để lên tới cao điểm số không/trắng của những biến thái nội giới (variations intérieures), tới những  thanh âm không thể nào duy trì được. Thế nhưng, tụng ca lại liên kết chặt chẽ với bài hát và với khiêu vũ. Tuy nhiên, theo ý kiến của Pavolini, người ta có thể cho rằng có mâu thuẫn giữa “nửa-tiếng-nói” với “tiếng kêu” của Ungaretti nếu như “nửa-tiếng-nói” thuộc về âm sắc biểu lộ (timbre expressif) và “tiếng kêu” thuộc về trào lòng (élan du cœur). Sẽ không có mâu thuẫn với điều kiện vượt lên trên cái khuynh hướng của quan niệm tầm thường lẫn lộn âm thanh hòa điệu (son harmonieux) của thi ca với những lý lẽ nghiêm cẩn của âm nhạc. Dựa trên quan niệm cho rằng âm nhạc là một phạm trù của tinh thần chứ không phải là ảo tưởng của cái tai (la musique est une catégorie de l’esprit et non une illusion de l’oreille) và tự nội những nhạc sĩ chẳng có cái gì gọi là “có tính chất âm nhạc”(musical) – “âm nhạc” hiểuctheo nghĩa chúng ta thường cho là hòa điệu ngoại tại (harmonie extérieure) của thi từ (mot poétique) – đưa đến câu hỏi tại sao tư tưởng, triết lý lại không dược diễn tả bằng âm nhạc vốn là một nghệ thuật từ chối mọi nội dung cụ thể. Như thế câu hỏi tiếp theo sẽ là: Những câu thơ của Ungaretti là gì? Những từ Ungaretti dàn trải lần lượt nhau có ý nghĩa (sens) gì? Theo Pavolini, thi sĩ không suy tưởng bằng những khái niệm (concepts) có thể trực tiếp diễn dịch ra từ nhưng bằng những khái niệm với “việc chỉ nghĩa” (la signification) có thể biểu lộ, đúng như việc chỉ nghĩa này có thể biểu lộ, bằng những nốt nhạc. Nói thế khác Ungaretti tư tưởng bằng âm nhạc, ý nghĩa không thể nói bằng lời (sens ineffable) thi ca của Ungretti gợi ra cùng lúc hình ảnh trực tiếp cũng như gián tiếp. Khác với những thi sĩ khác thường tư tưởng bằng từ (penser en mots) và những từ này được bao bọc trong một vòng hào quang hòa điệu (aura harminieuse) rút ra từ, phụ thuộc vào (de dérivation), thứ cấp (secondaire) trong khi đó “Ungaretti tư tưởng bằng những chỉ nghĩa thuần âm nhạc và ngôn ngữ của ông ta, được khai sinh trong phạm trù tuyệt đỉnh của âm nhạc bừng sáng trong một hòa điệu dược cấu thành sơ cấp như thể chúng ta (chẳng phải thi sĩ sơ cấp hay thứ cấp) có thể tưởng tượng – khi hòa điệu này vang vang trong thời khắc khởi đầu của trái đất – tiếng nói của con người kẻ ra đời cùng lịch sử, tiếng ca của con họa mi cất lên trong ánh chập choạng của ban mai đầu tiên của thế giới, dưới cái nhìn của Thượng Đế.”[46]

_________________________________

[44] Corrado Pavolli, Ungaretti le bédouin trong L’Herne:Ungaretti trang 158.

[45] Sđd trang 160; Ungaretti, tende à réduire l’intensité sonore jusqu’aux plus petits effets de sussurements, et de chuchottements, de soupirs et de mouvements furtifs. Aucun poète ne parle “à mi-voix” comme Ungaretti: toute sa poésie est un grouillement de pressentiments et de sursauts, de frémissements et de frissons, de fuites éthérées sur les herbes matinales et de vols magiques dans l’air des purs crépuscules. Celui qui entre dans cette poésie, devra le faire sur la point des pieds, pour ne pas épouvanter pensées, petites bêtes et amours...

[46] Sđd trang 160: Ungaretti pense en significations purement musicales et son langage, né dans la sublime catégorie de la musique resplendit dans une harmonie de formation primaire telle que nous (qui ne sommes ni poètes primaires, ni poètes secondaires) pourrions imaginer – lorsqu’elle resonne dans le moment initial de la terre – la voix de l’homme qui naît à l’histoire, le chant du rossignol qui monte dans la lueur de la première aurore du monde, sous le regard de Dieu.

(còn tiếp)

đào trung đạo