ĐÀO TRUNG ĐẠO

(111) 

Edmond Jabès [1]

Kỳ 1, Kỳ 2, Kỳ 3, Kỳ 4, Kỳ 5, Kỳ 6, Kỳ 7, Kỳ 8, Kỳ 9, Kỳ 10, Kỳ 11, Kỳ 12, Kỳ 13, Kỳ 14, Kỳ 15, Kỳ 16, Kỳ 17, Kỳ 18, Kỳ 19, Kỳ 20, Kỳ 21, Kỳ 22, Kỳ 23, Kỳ 24, Kỳ 25, Kỳ 26, Kỳ 27, Kỳ 28, Kỳ 29, Kỳ 30, Kỳ 31, Kỳ 32, Kỳ 33, Kỳ 34, Kỳ 35, Kỳ 36, Kỳ 37, Kỳ 38, Kỳ 39, Kỳ 40, Kỳ 41, Kỳ 42, Kỳ 43, Kỳ 44, Kỳ 45, Kỳ 46, Kỳ 47, Kỳ 48, Kỳ 49, Kỳ 50, Kỳ 51, Kỳ 52, Kỳ 53, Kỳ 54, Kỳ 55, Kỳ 56, Kỳ 57, Kỳ 58, Kỳ 59, Kỳ 60, Kỳ 61, Kỳ 62, Kỳ 63, Kỳ 64, Kỳ 65, Kỳ 66, Kỳ 67, Kỳ 68, Kỳ 68,Kỳ 66, Kỳ 69, Kỳ 70, Kỳ 71, Kỳ 72, Kỳ 73, Kỳ 74, Kỳ 75, Kỳ 76, Kỳ 77, Kỳ 78, Kỳ 79, Kỳ 80, Kỳ 81, Kỳ 82, Kỳ 83, Kỳ 84, Kỳ 85, Kỳ 86, Kỳ 87, Kỳ 88, Kỳ 89, Kỳ 90, Kỳ 91, Kỳ 92, Kỳ 93, Kỳ 94, Kỳ 95, Kỳ 96, Kỳ 97, Kỳ 98, Kỳ 99, Kỳ 100, Kỳ 101, Kỳ 102, Kỳ 103, Kỳ 104, Kỳ 105, Kỳ 106, Kỳ 107, Kỳ 108, Kỳ 109, Kỳ 110, Kỳ 111,

 

Tác phẩm của Edmond Jabes rất phong phú và đa dạng. Về thơ – như lời tuyên bố của chính Jabès năm 1959 coi như chỉ có tập Je bâtis mon demeure/ Tôi xây nơi cư trú của tôi  – nhưng năm 1980 Jabès lại  cho xuất bản thêm tập Récit/Truyện kể, La Mémoire et la Main/Ký ức và Bàn tay gồm hai phần Les deux mains (Hai Bàn tay) và Les sang ne lave pas le sang/Máu không rửa sạch máu và tập L’April/Tháng Tư. Về tản văn có Le Livre des Questions/Sách Câu hỏi gồm bảy tập, Le Livre des ressemblances/Sách về những cái giống nhau (ba tập), Le Petit Livre de la subversion hors de soupçon/Quyển sách nhỏ về lật đổ ngoài sự ngờ vực, Le Livre des Limites/Sách về những Giới hạn (bốn tập) và Un étranger avec, sous le bras, un livre de petit format/Một kẻ xa lạ với, bên dưới cánh tay, một quyển sách khổ nhỏ. Tổng cộng cả thảy 15 tập. Ngoài bốn tập Je bâtis mon demeure, Récit, La Mémoire et la MainL’April được coi là thơ những sách khác hầu như không thể xếp loại theo cách thông thường. Do đó câu hỏi được đặt ra là: Edmond Jabès là thi sĩ, nhà văn, nhà văn Do thái (écrivain juif) hay nhà tư tưởng? Hay gọi Jabès là gì đều không hẳn sai không hẳn đúng tùy theo quan niệm của mỗi người?

Edmond Jabès thi sĩ: theo nghĩa thông thường nhất không chỉ vì đã viết những quyển sách người đời thưng xếp vào loại hình thi ca nhưng cũng vì nghĩa này phần nào có tính cách trực tiếp, tức thời khiến người đọc thơ Jabes với những từ (les mots) và những niềm im lặng từ mang trong nó, bởi một lời (parole) được viết giữa các từ. Nói cho gọn, Jabès trên hết và trước hết là thi sĩ do sự gặp gỡ (rencontre) hoặc chia phần (partage) của một năng hướng (disposition) và một thái độ (attitude): năng hướng nghe từ trước khi nghe động từ biểu đạt, năng hướng nghe tiếng nói lặng lẽ của từ xuyên qua ngôn từ (vocable). Jabès tuân thủ qui luật do mình tự đặt ra: “Toute porte a pour gardien un mot. Mot de passe, mot magique” (Mọi cánh cửa đều có một từ làm kẻ canh cửa. Từ mật khẩu, từ ma thuật). Quan niệm này khá tương tự với Schibbleth của Paul Celan.

Edmond Jabes nhà văn và là người Do thái như chính Jabès sau cùng tự nhận: không chỉ vì là người Do thái và là nhà văn nhưng “trở thành người Do thái trong khi trở thành nhà văn” như  Didier Cahen nhận định và cũng như chính Jabes tuyên bố trong Elya “J’aurai donc été juif par le trajet”: là nhà văn và là người Do thái trên một lộ trình.

Edmond Jabès nhà tư tưởng: Ngay trong Je bâtis mon demeure đã có tư tưởng triết lý và tư tưởng triết lý của Jabès ngày càng rõ nét trong Le Livre des Questions, Le Livre des ressemblancesLe Livre des Limites. Cần chú ý những từ như “bâtir”, “demeure” là những từ đặt ra những tra vấn triết học, “ressemblance”, “dialogue”, “partage” cũng là những chủ đề triết học đã được Heidegger và Char nói đến.

____________________________________

[1] Sơ lược tiểu sử: Sinh năm 1912 trong một gia đình gốc Do thái giầu có ở thủ đô Caire (Cairo) Ai Cập và sống trong cộng đồng nói tiếng Pháp ở Caire. Sau khi tốt nghiệp trung học quyết định không tiếp tục học để dành thì giờ cho viêc đọc và viết. Cuối tháng 9, 1929 trong kỳ nghỉ hè ở Pháp gặp gỡ Arlette Cohen (cũng ở Caire) và du lịch cùng Arlette từ Marseille tới Alexandrie và hai người chỉ gặp  nhau lại bốn năm sau đó. Năm 1930 ghi danh vào đại học Sorbonne theo chương trình cử nhân văn chương nhưng cảm thấy chương trình giảng dậy buồn nản nên bỏ học, trở về Alexandrie vào làm ngân hàng của cha. Năm 1935 làm quen thi sĩ Pháp Max Jacob, bắt đầu một tình thân hữu lâu dài cho đến khi Max Jacob từ  trần vào năm 1944. Kết hôn với Arlette Cohen ngày 11 tháng 2, 1935. Gặp gỡ Paul Éluard năm 1937 ở Paris. Từ trước khi thế chiến 2 xảy ra Edmond Jabès rất tích cực tham dự và tổ chức các tổ kháng chiến chống-Phát xít ở Ai Cập. Cuối 1945 gặp gỡ kết thân với chủ nhà xuất Pierre Sheghers. Năm 1946    quen biết Henri Michaux, Philippe Soupault và Roger Caillois. Năm 1947 bắt đầu mối liên hệ thân thiết lâu bền với Jean Grenier (cũng là thầy của Albert Camus) giáo sư Triết ở Alexandrie cho tới khi Grenier từ trần năm 1972. Năm 1952 lđánh dấu một biến cố quan trong: vốn hâm mộ những bài viết văn chương của Gabriel Mounoure trên NRF nên khi Gabriel Mounoure nhận ghế giáo sư văn chương ở đại học Ein-Sham ở Caire Jabès đi đón vợ chồng Bounoure ngay khi vừa tới thủ đô Ai Cập.  Gabriel Bounoure là người đầu tiên viết về tác phẩm của Jabès (quyển Edmond Jabès, la demeure et le livre do Mercure de France xuất bản năm 1965 và sau đó được nxb Fata Morgana tái bản nhiều lần). Năm 1953 kết thân với René Char. Năm 1955 Nasser lên cầm quyền, khá nhiều người Do thái di cư sang Israel, Arlette cùng con gái Viviane qua Pháp sống. 1956 Nasser vào ngày 26 tháng 9 quốc hữu hóa kênh đào Suez, Bounoure và Jabès qua Pháp một thời gian ngắn và trở lại Caire. Đêm 29 tháng 10 Israel tấn công Ai Cập, 5 tháng 11 lực lượng Anh-Pháp đổ bộ ở Cảng Saïd làm tăng thêm “cuộc khủng hoảng Suez. Vì Jabès bị chính quyền Ai Cập coi công dân Pháp nên bị cưỡng chế cư trú, Jabès qua Pháp cùng Nimet con gái thứ nhì sau đó trở lại Caire kiếm luật sư bênh vực tình trạng cư trú và từ đó hoàn toàn mất liên lạc với vợ con. Năm 1957  Jabès bị buộc rời khỏi Ai Cập. Năm 1959 nhà xuất bản Gallimard cho ra mắt bản tập thơ  Je bâtis mon demeure với bài Tựa tuyệt vời của Gabriel Mounoure, tập thơ này được giới phê bình đón nhận nồng nhiệt. Mùa hè 1959 Jabès bắt đầu viết quyển Le Livre des Questions. Năm 1961 dù bận rộn với công việc Jabès hoàn tất tập đầu quyển Le Livre des Questions. Năm 1962 được tin cha qua đời ở Caire, bệnh xuyễn phát tác cùng với bệnh tim. 1963 nhà Gallimard xuất bản Le Livre des Questions. Năm 1964 Jabès đề nghị Galliamard xuất bản Le Livre de Yukel, quyển này được một ủy ban đọc duyệt gồm những nhà văn nhà phê bình danh tiếng như Caillois, Paulhan, Arlan, des Forêts, Lamarchand...sau đó xuất hiện những bài phê bình quyển sách của Bounoure, Blanchot, Derrida và bắt đầu trao đổi thư tín với Levinas và nhận được những lời ca ngợi từ Char. 1966 Jabès cùng một người bạn lập hãng phim Le Petit Lion, bài viết “Edmond Jaès ou la guérison par le livre” của Bounoure đăng trên tạp chí Les Lettres nouvelles vào tháng 7 nhấn mạnh đến những kích thước siêu hình, lịch sử, và tiểu sử của Le Livre des Questions. 1967 Derrida cho in lại bài viết về Jabès trong L’Écriture et la Différence và viết thêm bài Ellipse với lời đề tặng Bounoure in ở phần cuối quyển này. Derrida quay trở lại vấn đế chuyển dịch và hoàn tất trong tính chất cặp ba (triplicité) của Quyển Sách trong tác phẩm của Jabès. Arlette và Edmond vào quốc tịch Pháp. Năm 1968 Claude Mauriac cho đăng những bài viết về Jabès trên Le FigaroCritique thúc đẩy Jabès đi tiếp con đường tư tưởng đã vạch. Ở Anh Anne-Marie Albiach và Claude Royer-Journoud hai thi sĩ trẻ viết bài “Le Lien et le Livre” đăng trên tạp chí Nothing Doing in London nói về thi ca Edmond Jabès. Tháng 5, 1969 Bounoure từ trần và để tưởng niệm Jabès đề tặng quyển Elya cho Bounoure. Qua giới thiệu của Claude Royer-Journoud Jabès kết thân với  Joseph Guglielmi thi sĩ và viết phê bình thơ sau này viết sách về Jabès khá đặc sắc. Năm 1970 Jabès nhận giải thưởng văn chương Critiques do Caillois, Nadeau, Grenier, Blanchot...đề nghị. Qua giới thiệu của Claude Royer-Journoud lần đầu Jabès gặp Rosmarie Waldrop, người Mỹ gốc Đức cùng chồng là Keith Waldrop sau này là những dịch giả khả tín sách cúa Jabès nhờ vậy tác phẩm của Jabes đến với độc giả Anh-Mỹ. Từ những năm đầu thập niên 70 trở đi danh tiếng Edmond Jabes lan rộng sang Tây Ban Nha, Thụy Điển và Canada. Nhà Gallimard tiếp tục xuất bản các tác phẩm mới như Le Livre des ressemblance, Le Petit Livre de la subversion hors de soupçon.Thảng 3, 1983 Jabès sang Mỹ (San Diego) do lời mời của Michel de Certeau tham dự thuyết trình Regent và được các đại học San Francisco, Los Angeles, Stanford ở Mỹ mời viếng thăm và diễn thuyết. Ngày 2 tháng Giêng 1991 Edmond Jabes từ trần vì bệnh tim.

(còn tiếp)

ĐÀO TRUNG ĐẠO

http://www.gio-o.com/DaoTrungDao.html

 

© gio-o.com 2018