đào trung đo

THI SĨ THI CA

(128)

Kỳ 1, Kỳ 2, Kỳ 3, Kỳ 4, Kỳ 5, Kỳ 6, Kỳ 7, Kỳ 8, Kỳ 9, Kỳ 10, Kỳ 11, Kỳ 12, Kỳ 13, Kỳ 14, Kỳ 15, Kỳ 16, Kỳ 17, Kỳ 18, Kỳ 19, Kỳ 20, Kỳ 21, Kỳ 22, Kỳ 23, Kỳ 24, Kỳ 25, Kỳ 26, Kỳ 27, Kỳ 28, Kỳ 29, Kỳ 30, Kỳ 31, Kỳ 32, Kỳ 33, Kỳ 34, Kỳ 35, Kỳ 36, Kỳ 37, Kỳ 38, Kỳ 39, Kỳ 40, Kỳ 41, Kỳ 42, Kỳ 43, Kỳ 44, Kỳ 45, Kỳ 46, Kỳ 47, Kỳ 48, Kỳ 49, Kỳ 50, Kỳ 51, Kỳ 52, Kỳ 53, Kỳ 54, Kỳ 55, Kỳ 56, Kỳ 57, Kỳ 58, Kỳ 59, Kỳ 60, Kỳ 61, Kỳ 62, Kỳ 63, Kỳ 64, Kỳ 65, Kỳ 66, Kỳ 67, Kỳ 68, Kỳ 68,Kỳ 66, Kỳ 69, Kỳ 70, Kỳ 71, Kỳ 72, Kỳ 73, Kỳ 74, Kỳ 75, Kỳ 76, Kỳ 77, Kỳ 78, Kỳ 79, Kỳ 80, Kỳ 81, Kỳ 82, Kỳ 83, Kỳ 84, Kỳ 85, Kỳ 86, Kỳ 87, Kỳ 88, Kỳ 89, Kỳ 90, Kỳ 91, Kỳ 92, Kỳ 93, Kỳ 94, Kỳ 95, Kỳ 96, Kỳ 97, Kỳ 98, Kỳ 99, Kỳ 100, Kỳ 101, Kỳ 102, Kỳ 103, Kỳ 104, Kỳ 105, Kỳ 106, Kỳ 107, Kỳ 108, Kỳ 109, Kỳ 110, Kỳ 111, Kỳ 112, Kỳ 113, Kỳ 114, Kỳ 115, Kỳ 116, Kỳ 117, Kỳ 118, Kỳ 119, Kỳ 120, Kỳ 121, Kỳ 122, Kỳ 123, Kỳ 124, Kỳ 125, Kỳ 126, Kỳ 127, Kỳ 128,

Francis Ponge

NHẬP

Năm 1975 cuộc hội luận ở Cerisy-La-Salle được tổ chức với chủ đề Ponge Inventeur et Classique/Ponge người Sáng chế và Cổ điển với sự tham dự của những tên tuổi lớn của văn học Pháp: Philippe Bonnefis, Jean Tortel, Joseph Guglielmi, Michel Riffatere, Jean-Michel Adam, Jacques Derrida (phần thuyết trình của Derrida tựa đề Signépone chiếm trọn một ngày), Marcel Spada, Raymond Jean, Henri Maldiney (chuyên gia về Ponge), Gérard Farasse, Suzanne Allen, Serge Gavonsky, Jean-Luc Steinmetz, Christian Prigent, Jean Thibaudeau và những thính giả trẻ đến nghe và đặt những câu hỏi với Francis Ponge trong buổi cuối cùng. Đây là một cuộc hôi luận lớn để vinh danh Francis Ponge. Trong buổi gặp gỡ chót Ponge nói: “Trước hết, chỉ một từ thôi: Cám ơn. Cám ơn theo hai nghĩa: điều người ta gọi chung là những lời cám ơn, tới mọi người và mỗi người, tới những người chủ trì và những người tổ chức, tới tất cả những người đã làm bài thuyết trình, tới tất cả những ai đã nghe những bài thuyết trình, vân vân...Và xin cám ơn! Nghĩa là tôi đòi ân huệ. Mọi người đều hài lòng, và trước tiên là tôi, rằng cuộc hội luận đã diễn ra, và cũng hài lòng vì nó đã chấm dứt![2]

Hơn mười năm sau trong L’Herne, Francis Ponge nhà văn Julien Gracq nhận định về tác phẩm của Francis Ponge: “[...] một trong những tác phẩm vạm vỡ nhất thời nay, bởi nó hoàn toàn nhập vào những cội rễ khả cảm của nó, bởi nó cũng là toàn thể sự rung động của một ý nghĩa triệt để được tái vận động một cách cường tráng những từ của lời ông ta.”[3]  

________________________________

[1] Tóm lược tiểu sử: Sinh ngày 27 tháng Ba 1899 ở Montpellier trong một gia đình khá giả. 1914-1915: theo học lớp tu từ (classe de rhétorique) và bắt đầu làm những bài thơ đầu tiên, đậu tú tài triết hạng ưu nhưng muốn nhập ngũ nhưng bị bệnh ruột dư. Học trường Louis-Le-Grand ở Paris để chuẩn bị thi vào Trường Sư Phạm ENS. 1917-1918: Học Luật và Triết, tham gia hoạt động chính trị cánh Maurice Barrès, thi thoảng dự lớp dự bị của Victor Basch ở Sorbonne. Sau khi có bằng tú tài Luật được nhận vào học chương trình cử nhân Triết. Bị động viên, gia nhập binh chủng pháo binh. Mắc chứng bạch hầu (diphtérie) nên phải dưỡng bệnh ở Strasbourg nhưng tiếp tục chuẩn bị thi vào ENS, đậu thi viết nhưng rớt vấn đáp. Giải ngũ và gia nhập đảng xã hội. Quan hệ khó khăn với gia đình. 1921-1923: viết bài biện giải cho chủ nghĩa xã hội Esquisse d’une parabol in trong Le Mouton blanc. Hòa giải với gia đình. Gặp gỡ Jacques Rivière và Jean Paulhan ở tòa soạn tạp chí Nouvelle Revue Française, gửi cho Paulhan chùm thơ Trois Satires và bắt đầu trao đổi thư từ với Paulhan. 1924-1927: Du lịch ở Ý và giao du thân thiết với Jean Paulhan và Bernard Groethuysen, năm 1926 cho xuất bản Douze petits ecrits và viết bài quan trọng Le Galet (Tome premier trang 104-115) và quan tâm tới chủ nghĩa siêu thực. 1929-1930: Gặp gỡ Odette Chabanel và bất hòa với Jean Paulhan veeề quan điểm chính trị, gia nhập nhóm siêu thực và ký tên vào bản tuyên ngôn Le Surréalisme au service de la révolution của nhóm này cưới Odette Chabanel và làm việc ở nhà xuất bản Hachette cho tới 1937. 1934 tích cực tham gia chính trị hữu phái và viết Opinions politiques de ShakespeareCoriolan ou la grosse mouche. 1935 có con gái đầu lòng  và cho đăng bài Le Cageot trên số Mesures đầu tiên. 1937 gia nhập đảng cọng sản. 1937 bị tái động viên đón ở Rouen.  1940-1941: Di cư và sau nhiều cuộc hành trình về sống với gia đình ở Saint-Étienne, giải ngũ,  viết Souvenirs interrompus  và biên soạn tập La rage de l’expression. 1942-1943: Qua đề nghị của Pascal Pia gia nhập Progrès de Lyon và viết những bài văn ngắn khoảng ba mươi dòng (billets) hàng ngày quảng bá cho thị xã Roanne. Xuất bản tập thơ Le Parti pris des choses/Đứng về phía sự vật. Cư trú ở Bourg-en-Bresse rồi Coligny, tham gia kháng chiến, viết bài Pages bis trong tập Proêmes như một đối thoại với quyển Mythe de Sysiphe của Albert Camus. 1944: Về lại Paris, cuộc sống nhiều khó khăn, làm chủ biên cho tạp chí văn chương cọng sản Action. Quen biết những họa sĩ Braque, Picasso, Dubuffet, Fautrier. Jean-Paul Sartre viết bài phê bình quyển Parti pris des choses. 1945 đăng Notes premières sur l’homme trong số đầu tiên tạp chí Les Temps Modernes của Sartre. Mùa hè 1946 biên soạn tập Le Savon. 1947-1950: 1947 bỏ đang cọng sản. Du lịch Bruxelles, Alger, Lausanne, Zurich. Liên tục cho xuất bản các tác phẩm Liasse, Proêmes, Le peintre à l’étude. 1952 đến 1964 dạy học cho Alliance française rồi nghỉ hưu. Hòa giải với Jean Paulhan. 1955-1959: diễn thuyết ở nhiều nơi. Gặp gỡ Philippe Sollers và năm 1959 được trao Légion d’honneur. 1960 ăng La Figue trên tạp chí Tel Quel số đầu tiên. Xuất bản ba quyển Grand Recueil. 1964-1972: Trở thành danh tiếng lừng lẫy và được mời diễn thuyết khắp thế giới. Năm 1965 cho xuất bản quyển Pour un Malherbe. Qua một cuộc giải phẫu năm 1972. Nhận giải thưởng của The Ingram Merril Foundation. Đoạn giao với nhóm Tel Quel năm 1974. Được trao giải Books Abroad Neustadt. 1975 Hội thảo Cerisy về Francis Ponge. 1977 ủng hộ việc xây dựng Trung tâm Georges Pompidou và xuất bản L’Écrit Beaubourg. Hậu thuẫn đảng của de Gaulle trong cuộc bầu cử. 1981 nhận giải Prix national de poésie. 1982-1985: Le Savon được Comédie Française trình diễn. 1988: từ trần ngày 6 thánh Tám tại tư gia ở Bar-sur-Loup.

[2] Francis Ponge, Colloque de Cerisy trang 408: Francis PONGE: D’abord, un seul mot: Merci. Merci dans les deux sens: ce qu’on appelle communément remerciements, à tout et à chacun, à nos hôtes, aux organisateurs, à toutes les personnes qui ont fait des exposés, à tous ceux qui les ont écoutés etc...Et Merci! C’est-à-dire que je demande grâce. Tout le monde est content, et moi le premier, que ce colloque ait eu lieu, mais aussi qu’il soit fini!

[3] Julien Gracq, Une œuvre amical trong Les Cahiers de l’HERNE (1986): Francis Ponge trang 19: [...] une des plus robustes de ce temps, parce qu’elle fait corps entièrement avec ses racines sensibles, parce qu’elle est toute vibrante aussi d’un sens radical très vigoureusement réactive des vocables de sa langue.

 

FRANCIS PONGE

Thơ

mưa

                           Mưa, trong cái sân nơi tôi nhin, mưa rơi với những dáng vẻ rất khác nhau. Chính giữa là một tấm màn (hay một mạng lưới) không liền lạc, trút xuống khôn nguôi nhưng tương đối chậm rãi những giọt nước có lẽ khá nhẹ, một sự hối hả lịm thiếp vô tận, một đoạn rời cô đọng của thuần khí quyển. Không xa những bức tường phía bên phải và phía bên trái những giọt nước nặng nề hơn, rơi xuống thật ồn ào, từng hạt. Còn nơi đây những giọ mưa dường như có độ lớn của một hạt lúa mì, ở nơi kia có độ lớn của một hạt đậu, ở nơi khác lại gần như một viên bi. Trên những chấn song, trên những bậu cửa số mưa băng ngang trong khi trên mặt phía dưới của những vật chắn đó mưa dăng theo hình những viên kẹo lồi nhiều cạnh. Theo tất cả bề mặt của một cái mái tôn nhỏ bé nhìn xuống mưa xối xả từng làn thật mỏng, lấp loáng do những giòng nước thật khác nhau tạo nên bởi những lượn sóng và những va chạm không thấy được của cái mái. Từ cái máng sối gắn liền nơi đó mưa chảy xuống với sức mạnh ồ ạt của một con suối cạn lòng không quá dốc, mưa đột nhiên nhẹ hạt kết thành một lưới thẳng đứng đan kết thô sơ, rớt xuống vỡ tan và lại tóe lên từng tia sáng bóng.

                           Mỗi hình dạng của nó có một vẻ riêng; theo một tiếng động riêng. Toàn thể có một cường độ như một bộ máy phức tạp, cũng chính xác và tình cờ như một cái đồng hồ mà cái dây cót là khối trọng lượng một khối hơi đặc quánh đang ào lên cung cấp.

                           Tiếng lách tách dưới mặt đất của những tấm lưới treo thẳng đứng, tiếng ào ào của những máng sối, những tiếng gõ tí tách tăng lên và dội nhịp cùng lúc như một dàn hòa tấu chẳng hề đơn điệu, nhưng cũng không thiếu sự thanh nhã.

                           Khi chiếc lò so đã dãn, một số những bánh xe vẫn tiếp tục quay trong chốc lát, chậm dần chậm dần, rồi cả bộ máy ngưng lại. Và rồi khi mặt trời lại hiện ra tất cả lập tức biến mất, cỗ máy sáng lòa bốc hơi: trời [đã] mưa.

 

PLUIE

   La pluie, dans la cour où je la regarde tomber, descend à des allures très diverses. Au centre c’est un fin rideau (ou réseau) discontinu, une chute implacable mais relativement lente de gouttes probablement assez legères, une précipitation sempiternelle sans vigeur, une fraction intense de météore pur. À peu de distance des murs de droite et de gauche tombent avec plus de bruit des gouttes plus lourdes, individuées. Ici elles semblent de la grosseur d’un grain de blé, là d’un pois, ailleurs presque d’une bille. Sur des tringles, sur les accoudoires de la fenêtre la pluie court horizontalement tandis que sur la face inférieure des mêmes obstacles elle se suspend en berlingots convexes. Selon la surface entière d’un petit toit de zinc que le regard surplombe elle ruisselle en nappe très mince, moirée à cause de courants très variés par les imperceptibles ondulations et bosses de la couverture. De la gouttière attenance où elle coule avec la contenion d’un ruisseau creux sans grande pente, elle choit tout à coup en un filet parfaitement vertical, assez grossièrement tressé, jusqu’au sol où elle se brise et rejaillit en aiguillettes brillantes.

   Chacune de ses formes a une allure particulière; il y répond un bruit particulier. Le tout vit avec intensité comme un mécanisme compliqué, aussi précis que hasardeux, comme une horlogerie dont le ressort est la pesanteur d’une masse donnée de vapeur en précipitation.

   La sonnerie au sol des filets verticaux, le glou-glou des gouttières, les minuiscules coups de gong se multiplient et résonnent à la fois en un concert sans monotonie, non sans délicatesse.

   Lorsque le ressort s’est détendu, certains rouages quelque temps continuent à fonctionner, de plus en plus ralentis, puis toute la machinerie s’arrête. Alors si le soleil reparaît tout s’efface bientôt, le brillant appareil s’évapore: il a plu.

                                                                   (Le parti pris des choses in TOME PREMIER, 35)

 

(còn tiếp)

đào trung đo

http://www.gio-o.com/DaoTrungDao.html

 

© gio-o.com 2019