đào trung đo

THI SĨ THI CA

(132)  

Kỳ 1, Kỳ 2, Kỳ 3, Kỳ 4, Kỳ 5, Kỳ 6, Kỳ 7, Kỳ 8, Kỳ 9, Kỳ 10, Kỳ 11, Kỳ 12, Kỳ 13, Kỳ 14, Kỳ 15, Kỳ 16, Kỳ 17, Kỳ 18, Kỳ 19, Kỳ 20, Kỳ 21, Kỳ 22, Kỳ 23, Kỳ 24, Kỳ 25, Kỳ 26, Kỳ 27, Kỳ 28, Kỳ 29, Kỳ 30, Kỳ 31, Kỳ 32, Kỳ 33, Kỳ 34, Kỳ 35, Kỳ 36, Kỳ 37, Kỳ 38, Kỳ 39, Kỳ 40, Kỳ 41, Kỳ 42, Kỳ 43, Kỳ 44, Kỳ 45, Kỳ 46, Kỳ 47, Kỳ 48, Kỳ 49, Kỳ 50, Kỳ 51, Kỳ 52, Kỳ 53, Kỳ 54, Kỳ 55, Kỳ 56, Kỳ 57, Kỳ 58, Kỳ 59, Kỳ 60, Kỳ 61, Kỳ 62, Kỳ 63, Kỳ 64, Kỳ 65, Kỳ 66, Kỳ 67, Kỳ 68, Kỳ 68,Kỳ 66, Kỳ 69, Kỳ 70, Kỳ 71, Kỳ 72, Kỳ 73, Kỳ 74, Kỳ 75, Kỳ 76, Kỳ 77, Kỳ 78, Kỳ 79, Kỳ 80, Kỳ 81, Kỳ 82, Kỳ 83, Kỳ 84, Kỳ 85, Kỳ 86, Kỳ 87, Kỳ 88, Kỳ 89, Kỳ 90, Kỳ 91, Kỳ 92, Kỳ 93, Kỳ 94, Kỳ 95, Kỳ 96, Kỳ 97, Kỳ 98, Kỳ 99, Kỳ 100, Kỳ 101, Kỳ 102, Kỳ 103, Kỳ 104, Kỳ 105, Kỳ 106, Kỳ 107, Kỳ 108, Kỳ 109, Kỳ 110, Kỳ 111, Kỳ 112, Kỳ 113, Kỳ 114, Kỳ 115, Kỳ 116, Kỳ 117, Kỳ 118, Kỳ 119, Kỳ 120, Kỳ 121, Kỳ 122, Kỳ 123, Kỳ 124, Kỳ 125, Kỳ 126, Kỳ 127, Kỳ 128, Kỳ 129, Kỳ 130, Kỳ 131, Kỳ 132,Francis Ponge

Chương 1

Francis Ponge Thi sĩ của Đối Vật

 

   Trong bài mở đầu Le Nous quant au Soleil/Initiation à l’Objeu của chuỗi thơ Le Soleil placé en abîme Francis Ponge viết: “Dù người ta gọi nó [thể loại mới] đó là duy danh hay duy ngưỡng hay bằng bất kỳ thứ tên nào khác, điều đó chẳng quan trọng: với chúng tôi, chúng tôi đă đặt tên thánh cho nó là Đối Vật. Đó là cái tên ở đấy đối tượng của cảm xúc của chúng ta trước hết được nhận ch́m xuống, độ dày chóng mặt và sự phi lư của ngôn ngữ, chỉ có chúng được xem xét mà thôi, được thao tác cách nào đó cho, bằng sự bội nhân nội tại những tương quan, những kết nối được tạo nên ở cấp độ gốc và những chỉ nghĩa được thắt hai ṿng, nghĩa là để tạo ra chức năng đó, chỉ có chức năng này có thể cứu xét chiều sâu bản thể, tính đa phức và sự ḥa điệu chính xác của thế giới.”[16] Từ Objeu ở đây được dịch là Đối Vật với “Đối” hiểu theo nghĩa ứng với, hướng về.

   Ponge viết bài Le Soleil placé en abîme năm 1954 nhưng măi đến 1961 khi cho vào tâp Pièces mới được xuất bản. Trước đó năm 1956 tạp chí Nouvelle Revue Française cho ra số đặc biệt vinh danh Francis Ponge trong đó Jean Grenier [17] .cảm thấy vẫn cần “giới thiệu” Ponge v́ sau chiến tranh đă mười hai năm nhưng Le Parti pris des Choses hầu như chưa được biết đến nhiều. Bài viết của Grenier bị rút ngắn nhưng danh xưng Grenier gán cho Francis Ponge là “Thi sĩ của Đối tượng” (Poète des Objets) có hậu quả tai hại là từ đó cái nhăn hiệu này gắn chết vào Francis Ponge. Cho nên khi Ponge cho Le Soleil placé en abîme vào Pièces để xuất bản hẳn có ư đính chinh danh xưng không chính xác này. Jean-Marie Gleize giải thích thêm: “Ngày nay [1986] sự thể không c̣n như vậy nữa. Trước hết chúng ta biết rằng “những sự vật” không phải (một cách giản đơn) là những “đối tượng”, rằng nếu như văn tự của Ponge hướng về một thi ca “khách quan” th́ khách quan tính thực sự (sức căng để thoát ra khỏi chủ nghĩa lăng mạn và chủ nghĩa tượng trưng  dưới tất cả mọi h́nh thức của chúng) không cách chi là một chủ nghĩa khách quan, rằng “đứng về phía sự vật” của ông ta ẩn chứa một cách không thể tách rời một sự cứu xét ngôn ngữ, với những chướng ngại và những tài nguyên nó hướng tới, rằng cách thực hành này (biểu lộ như là “thực hành) không bao giờ là “lănh đạm”, nhưng nó lấy nguồn trong cái riêng biệt nhất, cái cảm nhận tức thời nhất, xung động nhất (“cơn băo nguyên ủy”) nó áp dụng (với sự “cuồng nộ” và với “phương pháp”) để biến đối.”[18]

   Trước khi t́m hiểu Objeu/Đối vật có nghĩa ǵ chúng ta hăy đi từ đối tượng (sự vật). Trong My Creative Method  Ponge nhắc chúng ta điểm quan trọng khi đọc La Parti pris des Choses: PARTI PRIS DES CHOSES égale COMPTE TENU DES MOTS/Đứng Về Phía Sự Vật ═ Xem Xét Các Từ [19]. Thông thường người ta khởi đi từ những từ và (rồi mới) đi về những sự vật nhưng Ponge cho rằng không hẳn phải như vậy mà chính yếu là tuy phải “ngắm nghía không có sự truy tầm” (comtemplation non prévenue) nhưng lại cần có sự hoài nghi (cynisme), ḷng thành thực không e dè và sự chờ đợi trong khi nh́n ngắm sự vật. Ngắm nh́n, quan sát theo Ponge là một trong những “tài nguyên hồn nhiên” (resources naïves)  để “ch́m vào những sự vật” (s’abîmer aux choses) và để chinh ḿnh biến đi, mất hút vào những thứ “không ǵ cả” (riens)

   Trong Pages bis Francis Ponge cho rằng “đứng về phía sự vật cho phép làm cuộc chơi lớn: làm lại thế giới theo tất cả các nghĩa của từ làm lại nhờ có tính chất vừa cụ thể vừa trừu tượng, vừa nội vừa ngoại của ĐỘNG TỪ, nhờ vào bề dày ngữ nghĩa của nó.[20]  Henri Maldiney cho rằng “làm lại thế giới theo tất cả các nghĩa của từ làm lại” có nghĩa tái tạo và “làm gấp hai” thế giới, đồng thời cuộc chơi như một thực tại độc lập có khả năng đi ngược lại sự hiện hữu và văn chương. Việc “làm gấp đôi” thế giới giả thiết một sự chia đôi cái nh́n đặt trên thế giới. Cái nh́n vốn có khả năng thẩm nhập những sự vật và cắt ngập vào bề dầy của chúng, cũng có khả năng xét từ xa những sự phong phú và sức mạnh nó khám phá ra và t́m cách có được một sự độc lập tối đa trong tương quan với chúng. [...] cụm từ “cái nh́n-như thể-nói” (le regard-de-telle-sort-qu’on-le-parle) có nghĩa cái nh́n t́m được sự biểu đạt trong lời nói. Cái nh́n này vừa hồn nhiên vừa có trang bị. Luôn luôn trong tầm tay của con người, nó là “sự nhận xét về cái ǵ quanh nó và về chính t́nh trạng của nó giữa cái vây quanh nó” (Ponge, La façon du regard). [21]  Nhưng từ “nhận xét” ở đây phải được hiểu là tuyên nhận (constat) và nhấc khỏi (relèvement). Theo Madilney: “Quan sát là một trong những “tài nguyên hồn nhiên” gồm việc “ch́m vào sự vật”, biến mất trong những cái không này. Nhưng theo nghĩa của từ nhấc ra/nâng lên, th́ sự “tuyên nhận” ngầm chứa một hệ thống qui chiếu nào đó; và dưới cái nh́n như vậy, khi được nói ra, th́ những sự vật đă có nơi chốn của chúng trong sự suy xét thực sự của lời nói.”[21] Sự vật được trao gửi cho sự ngắm nh́n theo Ponge tương ứng với hai “cơ chế cá nhân” (mécanismes personnels): “cơ chế thứ nhất gồm việc đặt đối tượng chọn lựa vào trung tâm thế giới, có nghĩa vào trung tâm của những quan tâm của ḿnh, để mở ra một cái bẫy nào đó của tinh thần và tư tưởng hướng đến sự vật một cách hồn nhiên và nhiệt t́nh (t́nh yêu).” Và khi không vướng mắc vào một mối liên hệ có sẵn nào th́ sự vật là trung điểm duy nhất của tất cả những tia chiếu rọi của thế giới. Cơ chế thứ hai: ư tưởng về sự vật, từ chỉ sự vật nằm trong một ngôn ngữ (một thứ tiếng, với Ponge là tiếng Pháp.)    

_________________________________

[16] Francis Ponge, Pièces trang 135: Qu’on le [le nouveau genre] nomme nominalist ou cultist ou de tout autre nom, peu importe: pour nous, nous l’avons baptisé l’Objeu. C’est celui où l’objet de notre émotion placé d’abord en abîme, l’épaisseur vertigieuse et l’absurdité du langage, considerées seules, sont manipulées de telle façon que, par la multiplication intérieure des rapports, les liaisons formées au niveau des racines et les significations bouclées à double tour, soit creé ce fonctionnement qui seul peut rendre compte de la profondeur substantielle, de la variété et de la rigoureuse harmonie du monde.

[17} Trích dẫn theo Jean-Marie Gleize, Présentation trong L’HERNE Francis Ponge trang 10.

[18] Sđd trang 10-11: Il n’en va plus de même aujourd’hui. Tout d’abord, nous savons que les “choses” ne sont pas (simplement) les “objets”, que si l’écriture de Ponge tend vers une poésie “objective” cette objectivité literale (tension pour se degager du romantisme et du symbolisme sous toutes leurs formes) n’est en aucune manière un objectivisme, que son “parti pris des choses” implique indissolublement un compte-tenu de la langue, des obstacles et des reeources qu’elle tend, que cette pratique (l’expression comme “pratique”) n’est nullement “indifférente” mais qu’elle prend sa source dans le plus particulier, le plus immédiatement émotionel, pulsionnel (l’”orage originel”) qu’elle s’applique (avec “rage” et “méthode” à transformer.

[19] Francis Ponge, My Creative Method trong Methodes trang 18: En somme voici le point important: PARTI PRIS DES CHOSES égale COMPTE TENU DES MOTS.

[20] Francis Ponge, Pages bis trong TOME PREMIER trang 228: parti pris des choses [...] permet de jouer le grand jeu: de refaire le monde, à tous les sens du mot refaire, grâce au caractère à la fois concret et abstrait, intérieur et extérieur du VERBE, grâce à son épaisseur sémantique.

 [21] Henri Maldiney, Le Vouloir Dire de Francis Ponge nxb encre marine 1993 trang 63: Ce “doublage” du monde suppose un dédoublement du regard porté sur lui. Le regard qui est capable de pénetrer les choses et d’entamer leur épaisseur, est capable aussi de considérer à distance les richesses et la puissance qu’il y decouvre et de se manager par rapport à elles un premier degré d’indépendance. Tel est, indigne entre tous, le rgardt-de-telle-sorte-qu’on-le-parle, qui trouve son articulation dans la parole. Il est à la fois naïf et armé.

(c̣n tiếp)

     

       francis ponge

thơ

CON S̉

   Con ṣ, thể tích lớn chừng một ḥn sỏi cỡ trung, nhưng có vỏ ngoài sần sùi hơn, màu sắc không thuần nhất, trắng sáng. Đó là một thế giới đóng kín một cách ngoan cố.. Song người ta có thể mở nó ra: trước hết phải giữ nó ở giữa chỗ gấp lại trũng của cái khăn rửa chén, dùng một con dao mẻ và không sắc mấy, nậy nó nhiều lần. Ngón tay ṭ ṃ bị cứa đứt và móng tay bể ở đấy: đó là một công việc thô lỗ. Những cú nậy trên con ṣ làm cho cái vỏ nó có vết h́nh tṛn màu trắng, một thứ quầng.

   Người ta t́m thấy trong ruột nó cả một thế giới, để uống lẫn để ăn: dưới một cái ṿm (nói đúng ra) xà cừ, ṿm trên sụp xuống ṿm dưới, cốt chỉ để tạo thành h́nh một đống bùn, một cái bao đựng nhờn nhờn và xanh xanh viền quanh bởi một cái ren màu đen, sóng sánh dưới mắt nh́n và mũi ngửi.

   Đôi khi dù hiếm họa một công thức tuôn ra từ cái cổ họng khảm xà cừ của nó, từ đó người ta lập tức thấy rằng dùng để trang trí.

 

L’HUÎTRE

      L’huître, de la grosseur d’un galet moyen, est d’une apparence plus rugueuse, d’une couleur moins unie, brillamment blanchâtre. C’est un monde opiniâtrement clos. Pourtant on peut l’ouvrir: il faut alors la tenir au creux d’un torchon, se servir d’un couteau ébréché et peu franc, s’y reprendre à plusieus fois. Les doigts curieux s’y coupent, s’y cassent les ongles: c’est un travail grossier. Les coups qu’on lui porte marquent son enveloppe de ronds blancs, d’une sorte de halos.

   À l’intérieur l’on trouve tout un monde, à boire et à manger: sous un firmament (à proprement parler) de nacre, les cieux d’en-dessus s’affaissent sur les cieux d’en-dessous, pour ne plus former qu’une mare, un sachet visqueux et verdâtre, qui flue et reflue à l’odeur et à la vue, frangé d’une dentelle noirâtre sur les bords.

   Parfois très rare une formulle perle à leur gosier de nacre, d’où l’on trouve aussitôt à s’orner.

(Le Parti pris des Choses,TOME PREMIER trang 48)

 

(c̣n tiếp)

đào trung đo

http://www.gio-o.com/DaoTrungDao.html

 

© gio-o.com 2019