ĐÀO TRUNG ĐẠO

(123)

Edmond Jabès

Kỳ 1, Kỳ 2, Kỳ 3, Kỳ 4, Kỳ 5, Kỳ 6, Kỳ 7, Kỳ 8, Kỳ 9, Kỳ 10, Kỳ 11, Kỳ 12, Kỳ 13, Kỳ 14, Kỳ 15, Kỳ 16, Kỳ 17, Kỳ 18, Kỳ 19, Kỳ 20, Kỳ 21, Kỳ 22, Kỳ 23, Kỳ 24, Kỳ 25, Kỳ 26, Kỳ 27, Kỳ 28, Kỳ 29, Kỳ 30, Kỳ 31, Kỳ 32, Kỳ 33, Kỳ 34, Kỳ 35, Kỳ 36, Kỳ 37, Kỳ 38, Kỳ 39, Kỳ 40, Kỳ 41, Kỳ 42, Kỳ 43, Kỳ 44, Kỳ 45, Kỳ 46, Kỳ 47, Kỳ 48, Kỳ 49, Kỳ 50, Kỳ 51, Kỳ 52, Kỳ 53, Kỳ 54, Kỳ 55, Kỳ 56, Kỳ 57, Kỳ 58, Kỳ 59, Kỳ 60, Kỳ 61, Kỳ 62, Kỳ 63, Kỳ 64, Kỳ 65, Kỳ 66, Kỳ 67, Kỳ 68, Kỳ 68,Kỳ 66, Kỳ 69, Kỳ 70, Kỳ 71, Kỳ 72, Kỳ 73, Kỳ 74, Kỳ 75, Kỳ 76, Kỳ 77, Kỳ 78, Kỳ 79, Kỳ 80, Kỳ 81, Kỳ 82, Kỳ 83, Kỳ 84, Kỳ 85, Kỳ 86, Kỳ 87, Kỳ 88, Kỳ 89, Kỳ 90, Kỳ 91, Kỳ 92, Kỳ 93, Kỳ 94, Kỳ 95, Kỳ 96, Kỳ 97, Kỳ 98, Kỳ 99, Kỳ 100, Kỳ 101, Kỳ 102, Kỳ 103, Kỳ 104, Kỳ 105, Kỳ 106, Kỳ 107, Kỳ 108, Kỳ 109, Kỳ 110, Kỳ 111, Kỳ 112, Kỳ 113, Kỳ 114, Kỳ 115, Kỳ 116, Kỳ 117, Kỳ 118, Kỳ 119, Kỳ 120, Kỳ 121, Kỳ 122, Kỳ 123,

Chương 3

Quyển Sách

 

Mở đầu cho mục I của Et tu seras dans le livre/Và ngươi sẽ ở trong quyển sách là lời của giáo sĩ Reb Stein dùng làm đề từ: “Enfant, lorsque j’écrivis, pour la première fois, mon nom, j’eus conscience de commencer un livre/Này con, khi ta viết, lần đầu tiên, tên ta, ta đă ư thức được việc bắt đầu quyển sách”. Như chúng ta đă biết những giáo sĩ trong quá khứ Jabès nêu tên là những nhân vật tưởng tượng. Sau câu hỏi của giáo sĩ Reb Abbani với các môn đệ về “Ánh sáng là ǵ?” là lời của giáo sĩ Reb Hati cho rằng những tờ sách là những cánh cửa mà những từ của niềm im lặng vượt qua, kỷ niệm về những từ được mực đặt cố định trên tờ giấy, và ánh sáng nằm trong sự vắng mặt những từ này [42]. Jabès tự tra vấn: sống lưu đầy phải chăng cảm nhận như bị đẩy lùi về quá khứ qua những giọt lệ và thời gian cho tới tận suối nguồn của sa mạc nơi tổ tiên đă liều thân băng vượt? Phải chăng trên ngưỡng của trang sách rộng mở ta có thể t́m lại vết thương của một ṇi giống xuất phát cũng chính từ quyển sách với những con đường khổ nạn? Câu trả lời là: “không có ǵ ngoài sự khổ đau mà quá khứ và sự tiếp nối ḥa nhập với quá khứ và khổ đau của văn tự.”[43]

LQ1 cũng là truyện kể (récit) về Sarah và Yukel – đôi t́nh nhân trẻ gốc Do thái bị cưỡng bách vào trại tập trung. Trong thời gian bị đầy ải chờ ngày vào Ḷ Thiêu Yukel chết c̣n Sarah sau khi thoát trở về nhưng thành điên loạn – gồm những đối thoại và những suy tưởng được cho là của những giáo sĩ tưởng tượng. Đó là truyện kể về một t́nh yêu bị con người và những từ (mots) hủy hoại: tuyện kể này có kích thước của một quyển sách và của sự dai dẳng đắng cay của một câu hỏi lang thang. Dai dẳng v́ theo Jabès câu trả lời cho câu hỏi luôn là một câu hỏi tiếp theo. Phải chăng Jabès người kể chuyện cũng chính là Yukel? Tác giả cho người đọc cảm nhận hai là một một là hai (Tu es celui qui écrit et qui est écrit). Thế nhưng: “Đối với một nhà văn, sự khám phá của tác phẩm hắn sẽ viết có liên hệ vừa với sự huyền nhiệm vừa với vết thương; với sự huyền nhiệm của vết thương.”[44] Tác giả cho rằng dường như ḿnh đi lại giữa đời sống và cái chết của ṇi giống từ nhiều thế kỷ, rằng ḿnh đă mang theo quyển sách từ rất lâu và “quyển sách đă trở thành nơi chốn độc nhất ở đó tất cả những con đường gặp nhau và thúc dục chúng ta; nhưng một tiếng kêu đă xuyên qua tác giả và nỗi khổ đau của ḿnh được xây đắp trên chính tiếng kêu này buộc ḿnh băng ngang từ đại dương này qua đại dương kia.”

Theo Jabès, ở trong quyển sách có nghĩa đặt những câu hỏi trong quyển sách và tham dự vào đó, mang vác trách nhiệm của một từ hay một câu văn hay một chương sách. “Tôi ở trong quyển sách. Quyển sách là vũ trụ của tôi, xứ sở của tôi, mái nhà của tôi và niềm bí ẩn của tôi. Quyển sách là hơi thở và sự nghỉ ngơi của tôi. Tôi thức dậy với trang sách người ta lật qua, tôi ngủ với trang sách người ta ngủ. Khả năng đáp lời: “Tôi thuộc về gịng giống của những từ, với những từ này người ta xây những nơi cư ngụ”, nghiêm cẩn biết rằng câu trả lời này vẫn lại là một câu hỏi, rằng nơi cư ngụ này không ngừng bị đe dọa.”.[45]  Quyển sách cũng chứa đựng Thượng đế, những bậc hiền nhân, những nhà tiên tri; nếu như những nhà bác vật, những thi sĩ, và nếu con người hiện hữu chính v́ tên tuổi họ nằm trong quyển sách. Cũng vậy thế giới hiện hữu bởi quyển sách hiện hữu: hiện hữu có nghĩa tăng trưởng với cái tên của nó. Quyển sách cũng là tác phẩm của chính nó, nó là mặt trời sinh đẻ ra biển cả, nó là biển cả nâng giấc trái đất, nó là trái đất khắc họa h́nh dáng con người. Nếu chẳng phải vậy th́ mặt trời, biển cả, trái đất và con người sẽ là trung tâm của ánh sáng không có đối tượng, là nước dịch chuyển không nơi xuất phát hay nơi trở lại.Vĩnh cửu dùng động từ để tách khoảnh khắc. Và quyển sách là bội nhân của quyển sách.

Trở lại với Yukel: Jabès độc thoại: ngươi chẳng bao giờ ở đó () nhưng ở đâu đó những nơi khác (ailleurs), ở trước hay ở sau ngươi như mùa màng tiếp nối nhau, ở trong quá khứ hay ở trong tương lai giống như những chữ (syllables) di chuyển từ đêm sang ngày thật ảo huyền có thể lẫn với chuyển động của cây viết, nếu muốn nắm bắt trong hiện tại phải thật lẹ: “Cái c̣n ở lại của cây viết đi ngang qua, chính là từ với những nhánh cành và những chiếc lá biếc hay đă chết, từ được phóng vào tương lai để thông dịch nó.”[46] Jabès đặt câu hỏi với Yukel: ‘Yukel, ngươi đă băng qua mộng mơ và thời gian. Với những ai nh́n thấy ngươi – nhưng họ đâu có thấy ngươi; ta nh́n thấy ngươi – ngươi là h́nh dáng chuyển dịch trong sương mù. Yukel ngươi đă là ai? Yukel, ngươi là ai vậy? Ngươi sẽ là ai? “Ngươi” đôi khi chính là “Ta”. Ta xưng “Ta” và ta không là “Ta”. “Ta” chính là ngươi và ngươi sẽ chết. Ngươi bị khoét rỗng. Từ nay trở đi ta sẽ chỉ một ḿnh.”[47]

_______________________________

[42] Edmond Jabès, LQ1 trang 29: Et Reb Hati: “Les feuillets du livre sont des portes que les vocables franchissent, poussés par leur impatience à se regrouper, à retroouver leur transparence au bout de l’œuvre traversée. “Le souvenir des mots est fixé par l’encre sur le papier. “La lumière est dans leur absence que tu lis.”

[43] Sđd trang 30: ...rien que cette douleur dont le passé et la continuité se confondent avec ceux de l’écriture.

[44] Sđd trang 32: Pour un écrivain, la découverte de l’ouvrage qu’il écrira tient, à la fois, du miracle et de la blessure; du miracle de la blessure.

[45] Sđd trang 36: Je suis dans le livre. Le livre est mon univers, mon pays, mon toit et mon énigme. Le livre est ma respiration et mon repos. Je me lève avec la page que l’on tourne, je me couche avec la page que l’on couche. Pouvoir répondre: “Je suis de la race des mots avec lesquels on bâtit les demeures”, sachant pertinemment que cette réponse est encore une question, que cette demeure est menacée sans cesse.

[46] Sđd trang 37: Le présent, pour toi, est ce passage trop rapide pour être saisi. Ce qui reste du passage de la plume, c’est le mot aves ses branches et ses feuilles vertes ou déjà mortes, le mot projeté dans le future pour le traduire.

[47] Sđd trang 38: Yukel, tu as traversé le songe et le temps. Pour ceux qui te voient – mais ils ne te voienet pas; je te vois – tu est une forme qui se deplace dans le brouillard.

         Qui étais-tu, Yukel?

         Qui es-tu, Yukel?

         Qui seras-tu?

         “Tu”, c’est quelquefois “Je”.

         Je dis “Je” et je ne suis pas “Je”. “Je” c’est toi et tu vas mourir, Tu est vidé.

         Désormais, je serai seul.

 

(c̣n tiếp)

ĐÀO TRUNG ĐẠO