đào trung đạo

thi sĩ / thi ca

(67)

 

Kỳ 1, Kỳ 2, Kỳ 3, Kỳ 4, Kỳ 5, Kỳ 6, Kỳ 7, Kỳ 8, Kỳ 9, Kỳ 10, Kỳ 11, Kỳ 12, Kỳ 13, Kỳ 14, Kỳ 15, Kỳ 16, Kỳ 17, Kỳ 18, Kỳ 19, Kỳ 20, Kỳ 21, Kỳ 22, Kỳ 23, Kỳ 24, Kỳ 25, Kỳ 26, Kỳ 27, Kỳ 28, Kỳ 29, Kỳ 30, Kỳ 31, Kỳ 32, Kỳ 33, Kỳ 34, Kỳ 35, Kỳ 36, Kỳ 37, Kỳ 38, Kỳ 39, Kỳ 40, Kỳ 41, Kỳ 42, Kỳ 43, Kỳ 44, Kỳ 45, Kỳ 46, Kỳ 47, Kỳ 48, Kỳ 49, Kỳ 50, Kỳ 51, Kỳ 52, Kỳ 53, Kỳ 54, Kỳ 55, Kỳ 56, Kỳ 57, Kỳ 58, Kỳ 59, Kỳ 60, Kỳ 61, Kỳ 62, Kỳ 63, Kỳ 64, Kỳ 65, Kỳ 66, Kỳ 67,

 

RENÉ CHAR

1.Blanchot viết về Char

Tuy trong những trang cuối quyển L’Amitié Blanchot nói rằng ḿnh không viết về mà chỉ nói với bạn nhưng thật ra Blanchot đă hơn ba lần viết về Char và nhắc tới Char trong nhiều bài viết khác. Một “tṛ đùa” ngoạn mục? Hay viết – như Blanchot quan niệm – chỉ là một sự quay trở lại (un retour) của văn tự với cái vắng mặt?

Lần đầu tiên Blanchot viết về thơ của René Char trong bài René Char. [175]  Có hai điểm cần lưu ư trong bài viết này: thứ nhất, ở giai đoạn này Blanchot vừa chịu ảnh hưởng vừa phản biện quan niệm của Heidegger về thi ca; thứ nh́, theo Blanchot lộ tŕnh thi ca của René Char không có sự đứt đoạn (coupure) giữa những bài thơ ở giai đoạn siêu thực với những bài thơ trong tập Fureur et mystère dù rằng từ năm 1935 René Char đă quay lưng lại với chủ nghĩa siêu thực. Bằng bài viết về Char (một cách nói với Char cũng là nói với người đọc?) Blanchot một phần tŕnh bày quan niệm về thi ca của ḿnh và phần khác quảng diễn về bài thơ của René Char phần lớn căn cứ trên tập Partage formel/Chia phần h́nh thức.

Mở đầu bài viết là những phê phán của Blanchot về quyển Avez-vous lu Char [176] của Georges Mounin: Blanchot cho rằng v́ Mounin tiếp cận thi ca của Char bằng những phương tiện truyền thống của văn học sử nên không thể đọc Char. Tại sao? V́ “Nhu cầu hiểu và chuyển ngữ, hàng lô có-nghĩa-là nhu cầu này nối tiếp đưa ra việc đọc một bài thơ, theo thị hiếu khá tự nhiên, và hầu như tàn bạo, nhu cầu này coi thi ca như sẽ được tiếp cận hơn cả nếu như người ta thay thrế nó bởi những từ tương tự phá hỏng nó, th́ những sự thơ ngây này, dù rằng thường được chỉnh sửa bằng những sự thận trọng khôn khéo.” Theo Blanchot, kinh nghiệm đọc thơ của Mounin tuy đáng nể v́ là kinh nghiệm của một kẻ hạnh phúc v́ thấy ḿnh đă biết đọc nên có sự tin tưởng tuyệt đối cho nên nghĩ rằng thi sĩ có thể cho việc đọc của ḿnh tối đa ư nghĩa và phẩm giá. Thật ra theo Blanchot, “Những mối tương quan của một bài thơ và một người đọc lại luôn luôn là những tương quan phức tạp. Nếu cho rằng thi ca có thể để cho được đọc, và phải chăng bài thơ phải tảng lờ người đọc một cách kiêu ngạo, th́ điều này là không đúng thực [...] Cả hai, thi sĩ và người đọc bài thơ này, nhận được từ bài thơ sự hiện hữu của họ và nhất thiết phải ư thức về sự phụ thuộc, trong hiện hữu của họ, vào bài ca, vào người đọc sẽ trở thành nay. Đó là một trong những bó buộc bí ẩn của quyền lực thi ca. Thi sĩ được sinh ra bởi bài thơ hắn sáng tạo ra; hắn là kẻ đứng hạng nh́  đối với cái hắn tạo ra, [...]”[177] Chính v́ thế có những tranh luận về hứng khởi và hoạt động tạo thành của thi sĩ. Theo Blanchot, một trong những sai lầm lỗi của Mounin  là đă mất th́ giờ để lập lại những tranh luận này trên b́nh diện phân tích truyền thống. Thế nên “Hứng khởi” (Inspiration) và “Suy tưởng” (Réflexion) dựa trẹn cách phân tích truyền thống, một thứ phân tích “lai căng” (analyse bâtarde) phát xuất từ những sự phân chia dung tục nhất. Người ta có thể tùy tiện phân cách “Hứng khởi” với “Suy tư” theo những đặc quyền không bằng nhau và thấy ở đó một mặt “suy tư” là sự quá độ của ư thức, mặt khác “hứng khởi” là kết quả sự vô tri (fruit de l’ignorance), hạnh phúc của sự thụ động và ân sủng của công việc. Thế nhưng những sự khác biệt này chỉ là những phác họa (ébauches) vụng về về một sự khác biệt thuộc một loại khác thường ít nhiều không đo lường được hoạt động có ư thức. Theo Blanchot, “Hứng khởi không có nghĩa nào khác hơn là tính chất có trước (antériorité) của bài thơ đối với thi sĩ, sự kiện thi sĩ cảm thấy, trong đời sống và trong việc làm của hắn trong tương lai, là hăy c̣n vắng mặt đối với tác phẩm thi ca. Sự phụ thuộc nhau này là không thể giảm trừ. Thi sĩ chỉ hiện hữu sau bài thơ. Hứng khởi không phải là tặng phẩm của một sự bí mật hay của một lời nói, được ban cho một người nào  đó đă hiện hữu; nó là tặng phẩm của sự hiện hữu ban cho một người nào đó chưa hiện hữu.” [178] C̣n về việc làm (le travail), theo Blanchot, có nghĩa, khi thi sĩ đối mặt tính chất đă có trước của thi ca có ư định tạo một ư thức tuyệt đối là bất khả v́ đó chỉ là mồi nhử đối với những kẻ bám riết vào những điều kiện có thực của bài thơ, sự cần thiết bắt đầu từ một ngôn ngữ đă có sẵn và từ một hiện hữu măi măi có mặt và chủ động, sau cùng là sự lo lắng thay thế ư thức tuyệt đối bằng một ư thức cá nhân dư thừa, trong khi ư thức tuyệt đối là bất khả.

Từ những nhận định trên Blanchot đánh giá thi ca của René Char: “Một trong những sự lớn lao của René Char, do sự lớn lao này hiện nay ông ta không có kẻ ngang tầm, chính là v́ thi ca của ông ta là sự phơi mở thi ca, thi ca của thi ca, gần giống như việc Heidegger nói về Hölderlin, [đó là] bài thơ của yếu tính bài thơ. Trong tập Marteau sans maître cũng như trong tập Seuls demeurent, biểu lộ thi ca là thi ca đặt đối diện với chính thi ca và được làm cho nh́n thấy được, trong yếu tính của nó, qua những từ đi t́m kiếm nó. Trong tập Feuillets d’Hypnos, “những ghi chú đó” của một “kẻ tham gia”, được thảy xuống ngày ngày trong những khó khăn của hành động và sự ám ảnh của những biến cố, chứa đựng những lời lẽ thi ca mạnh mẽ nhất và đơn sơ nhất mà thi ca đă vay mượn để tự soi sáng và tự nhận biết. Chính trong những trang thơ này cho thấy rơ hơn ưu thế của bài thơ không những chỉ đứng trên thi sĩ, mà c̣n  trên chính thi ca.”[179] Blanchot trích dẫn những câu thơ dưới đây trong tập Moulin Premier của René Char để minh họa luận điểm của ḿnh:

       Năng khiếu: kẻ mang vác những bồi tích rực cháy

       Sự gan dạ là chính ḿnh trong một khoảnh khắc h́nh thức hoàn thành của bài thơ. Tự túc

       đă thoáng thấy lấp loáng cái vật chất-cảm xúc lập tức đăng quang.[180]

Việc trích dẫn khổ thơ IV trong Moulin premier René Char viết trong thời gian 1935-1936 và trước đó là tập Marteau sans maître (1927-1933) để rồi qua Seuls demeurent (1938-1944), sau hết là Feuillets d’Hypnos (1943-1945) cho thấy chủ ư của Blanchot là chỉ ra lộ tŕnh thi ca của René Char không có khoảng đứt đoạn như trên đă nói. Sở dĩ Blanchot dừng lại ở Feuillets d’Hypnos v́ Blanchot viết bài này khoảng năm 1942-1945 khi đó René Char chưa cho xuất bản những tập thơ sáng tác ở giai đoạn sau.

Thật sai lầm khi cho rằng có thi ca tổng quát v́ theo Blanchot: “Thi ca giao trả những tác phẩm thi ca về một h́nh thức, lư tưởng hay trừu tượng, nó sẽ vượt qua để giảng nghĩa hay phán xét chúng. Thế nhưng bài thơ không nh́n về thi ca như nh́n về một sức mạnh có trước nó và nó phải chờ đợi sự biện hộ hay sự hiện hữu của nó: nó không phải là cái phản ánh được thắp sáng bởi một tinh tú; nó cũng chẳng phải là sự biểu hiện tức khắc của một khả năng luôn luôn cao cấp hơn những tác phẩm của nó. Dựa trên những ư tưởng của René Char trong bài Partage formel/Chia phần h́nh thức Blanchot diễn giải: Hiểu rằng bài thơ là kẻ sáng tạo và trên hết, cũng chính là hiểu được rằng, luôn luôn theo trật tự đó, cái ǵ là tổng quát tùy thuộc vào cái duy nhất.”[181] Hiểu được như vậy cũng có nghĩa hiểu được tại sao bài thơ lại là sự phân chia, trái nghịch, quay đảo v́ bài thơ không từ một thực tại cao xa, nó không đưa trở lại một chân lư bền lâu hơn nó, nó không ngưng nghỉ. Thi sĩ ở trong một sự bất an của một chuyển động không có sự bắt đầu hay kết thúc như chính René Char đă nói: “Là nhà ảo thuật của sự bất an, thi sĩ chỉ có những sự hài ḷng chấp nhận. Tro luôn luôn không tàn hẳn.” Là thi sĩ của khoảnh khắc tra hỏi, từ chối, thách thức, được nuôi dưỡng bởi sự bất an để nuôi nấng thi ca, lên tiếng trả lời tiếng gọi của bài thơ. Thế nên thi ca luôn từ chối mọi sức mạnh của sự qui thuận và sự bất động – nghĩa là không ngủ yên – để t́m kiếm siêu-thực-tại (surréalité) trong mức độ của cái “không thể ḥa giải” (irréconciliable). Ở đây chúng ta thấy Blanchot đưa ra khái niệm “siêu-thực-tại” rút từ thi ca của René Char cho thấy sự khác biệt với quan niệm về “siêu thực” của André Breton lănh tụ nhóm siêu thực. V́ bài thơ nói lên sự khát khao những điều trái nghịch nên câu hỏi tất nhiên phải đặt ra là: như vậy ư nghĩa bài thơ là ǵ? Câu trả lời: ư nghĩa của bài thơ không nằm trong thế giới của những sự vật đă qua sử dụng, những lời lẽ đă được người đời dùng mà nằm trong phạm vi của sự tiền kiến (prévisible), chưa được nói ra (“Il convient que la poésie soit inséparable du prévisible, mais non encore formulé” in Partage formel, XI), chúng kích động thi sĩ, “tất cả đưa chúng ta đến những cội nguồn, mời gọi chúng ta đến trú ngụ ở đó, như thể chúng ta được kêu gọi xuất ngoại khỏi bản ngă để nghe, không phải lời nói, nhưng cái đi trước lời nói, niềm im lặng, “lời nói của niềm im lặng ở trên cao nhất”[181]

       Đời sống không thể diễn tả

       Cuộc sống duy nhất rút cục nhà ngươi chấp thuận kết hợp với

       Là đời sống từ chối ngươi hàng ngày bởi những con người và những sự vật

       Mà ngươi nhận lănh một cách khó khăn một vài mảnh vụn mỏng manh vương văi đó đây

       Trong những cuộc chiến không khoan nhượng

       Bên ngoài cuộc sống đó tất cả chỉ là sự hấp hối được đặt dưới mục tiêu thô nhám. [182]       

 

_______________________________________

[175] Lần đầu đăng trên tạp chí Critique tháng 10, 1946 sau được cho vào La part du feu trang 105-117. Tựa đề quyển sách này liên hệ tới Georges Bataille: Lúc đầu Blanchot định đặt tên quyển sách gồm những bài viết trong khoảng từ 1942 tới 1945 theo câu thơ của Hölderlin “[...] entre chien et loup/giữa chó và chó sói” nhưng sau đó đổi ư dùng phần sau câu văn của Georges Bataille trong L’Histoire de l’érotisme làm tựa sách: “La part maudite doit être sacrifiée, elle doit être la part du feu/Phần bị nguyền rủa phải bỏ đi, nó phải là phần của lửa.” Tuy không dùng câu thơ của Hölderlin làm tựa nhưng Blanchot đă trích dẫn một khổ thơ của Hölderlin làm đề từ cho quyển sách.[Theo Christophe Biden, Maurice Blanchot, Partenaire invisible trang 252] Bident nhận xét về lộ tŕnh biên soạn La part du feu tuy không được xếp đặt theo những phần khác nhau nhưng cũng theo trật tự: những chương về mối tương quan của văn chương với cái bí ẩn (le secret) và với niềm im lặng tiếp nối với vài chương sách viết về ngôn ngữ thi ca từ Lautréamont đến Char, và những chương về kinh nghiệm của người viết văn xuôi (prosateur).

Có thể xem tóm lược bài này trong Thi sĩ/Thi ca #47 trên Gió-O.

[176] Georges Mounin, La communication poétique précédé de Avez-vous lu Char? nxb Gallimard: Avez-vous lu Char? được xuất bản năm 1947 và La Communication poétique xuất bản năm 1969. Bản in năm 1969 gộp cả hai thành La communication poétique précédé de Avez-vous lu Char?

Georges Mounin tên thật là Louis Leboucher, tốt nghiệp ENS, đảng viên cộng sản, năm 1939 được bổ về dạy trung học ở L’Isle, khi bị mật vụ Đức lùng bắt đă được René Char yêu cầu mẹ cho Louis Leboucher và vợ là Julienne tá túc ở Névons. Là người ngưỡng mộ thơ của René Char tuy buổi đầu Louis Leboucher không dám bàn bạc về thi ca với Char nhưng sau đó cố công viết một số bài tiểu luận về René Char lúc đầu phân phát cho bạn bè đọc sau gom những bài này đặt tựa đề Avez-vous lu Char? và được Raymond Queneau giao cho Gallimard xuất bản. Nhưng theo René Char th́ Georges Mounin không hiểu được thơ của ḿnh. Vào năm 1955 một số nhà phê b́nh như Michel Mourre, Robert Poulet, Roger Nimier, nhất là Alain Bosquet lên tiếng đả kích thơ của René Char và cho rằng thời vàng son của Char đă chấm dứt. Georges Mounin cũng trở mặt, bắt đầu xa lánh Char, cho rằng thơ René Char có màu sắc bi quan thời đại, Char là “poète maudit/thi sĩ bị nguyển rủa”. Trong bức thư gửi cho Mounin sau đó Char cho Mounin biết là đă hết có cảm t́nh và không tin phán đoán của Mounin. Tuy vậy Mounin vẫn bày tỏ ư kiến muốn viết một quyển sách mới về Char nhưng Char không dấu diếm tỏ ra coi thường khả năng chuyên môn về văn chương của Mounin. Đến đầu tháng ba, 1957 khi Mounin cho đăng loạt bài mới viết về René Char trên tạp chí Les Temps Modernes của Jean-Paul Sartre th́ René Char có phản ứng gay gắt nhất là việc Mounin gọi cựu chiến hữu của Char Louis Curel là một “kẻ phản bội”, khinh rẻ Nouguier l’Armurier. René Char kết thúc lá thư gửi cho Georges Mounin “Dix ans de rumination vous ont conduit à cela...C’est fait. Et vous me libérez de vous. Quel bien!/Mười năm suy gẫm đă đưa anh tới điều đó...Thế là xong. Và anh giải thoát tôi khỏi tay anh. Thật tốt!” Trong La communication poétique Georges Mounin cũng dành một chương để đả kích Maurice Blanchot một cách tàn nhẫn.

[177]  Maurice Blanchot, La part du feu trang 105-106: Les rapports d’un poème et d’un lecteur sont toujours des plus complexes.[...] Tous deux, poète lecteur, de ce poème, reçoivent de lui leur existence et sont fortement conscients de dépendre, dans leur exixtence, de ce chant à venir, de ce lecteur à devenir. C’est une des mystérieuses exigences du pouvoir poétique. Le poète naît par le poème qu’il crée; il est second au regard de ce qu’il fait [...]

[178] Sđd trang 107: L’une des grandeurs de René Char, celle par laquelle il n’a pas d’égal en ce temps, c’est que sa poésie est révélation de la poésie, poésie de la poésie et, comme le dit à peu près Heidegger de Hölderlin, poème de l’essence du poème. Aussi bien dans le Marteau sans maître que dans Seuls demeurent, l’expression poétique est la poésie mise en face d’elle-même et rendue visible, dans son essence, à travers les mots qui la recherchent. Feuillets d’Hypnos, “ces notes” d’un “partisan”, jetées au jour le jour dans les difficultés de l’action et la hantise des événements, contiennent les paroles poétiques les plus fortes et les plus simples que la poésie ait empruntées pour s’éclairer et se reconnaitre. C’est dans ces pages que se révèle le mieux la suprématie du poème non seulement sur le poète, mais sur la poésie elle-même. “Le poème est ascension furieuse; la poésie, le jeu des berges arides.” “Je suis homme de berges – creusement et inflammation – ne pouvant l’être toujours de torrent.”

[179]                Aptitude: porteur d’alluvions en flamme

          Audace d’être un instant soi-même la forme accomplie du poème. Bien-être d’avoir entrevu scintiller la      matière-émotion instantanément reine.

[180] Sđd trang 107-108: Le langage parle à tort de la poésie en général; ce mot de poésie renvoie les œuvres poétiques à une forme, idéale ou abstraite, qui les dépasserait pour les expliquer et pour les juger. Mais le poème ne ragarde pas vers la poésie comme vers une puissance qui lui serait antérieure et dont il devrait attendre sa justification ou son existence: il n’est pas le reflet allumé par un astre; il n’est même pas la manifestation momentanée d’un pouvoir toujours supérieur à ses œuvres. Comprendre que le poème est créateur et premier, c’est comprendre que, toujours dans cet ordre, ce qui est général depend de ce qui est unique.

[181] Sđd trang 109: Tout nous reporte vers les sources, nous invite à leur faire cortège. Nous sommes comme appelés hors de nous-même pour entendre, non la parole, mais ce qui est avant la parole, le silence, “la parole du plus haut silence.”

[182]

          La vie inexprimable

          La seul en fin de compte à laquelle tu acceptes de t’unir

          Celle qui t’est refusée chaque jour par les êtres et par les choses

          Dont tu obtiens péniblement de-ci de-là quelques fragments décharnées

          Au bout de combats sans merci

          Hors d’elle tout n’est qu’agonie soumise fin grossière.

 

(c̣n tiếp)

đào trung đạo

 

http://www.gio-o.com/DaoTrungDao.html

 

 

© gio-o.com 2017