ĐÀO TRUNG ĐẠO

(126)

Edmond Jabès

Kỳ 1, Kỳ 2, Kỳ 3, Kỳ 4, Kỳ 5, Kỳ 6, Kỳ 7, Kỳ 8, Kỳ 9, Kỳ 10, Kỳ 11, Kỳ 12, Kỳ 13, Kỳ 14, Kỳ 15, Kỳ 16, Kỳ 17, Kỳ 18, Kỳ 19, Kỳ 20, Kỳ 21, Kỳ 22, Kỳ 23, Kỳ 24, Kỳ 25, Kỳ 26, Kỳ 27, Kỳ 28, Kỳ 29, Kỳ 30, Kỳ 31, Kỳ 32, Kỳ 33, Kỳ 34, Kỳ 35, Kỳ 36, Kỳ 37, Kỳ 38, Kỳ 39, Kỳ 40, Kỳ 41, Kỳ 42, Kỳ 43, Kỳ 44, Kỳ 45, Kỳ 46, Kỳ 47, Kỳ 48, Kỳ 49, Kỳ 50, Kỳ 51, Kỳ 52, Kỳ 53, Kỳ 54, Kỳ 55, Kỳ 56, Kỳ 57, Kỳ 58, Kỳ 59, Kỳ 60, Kỳ 61, Kỳ 62, Kỳ 63, Kỳ 64, Kỳ 65, Kỳ 66, Kỳ 67, Kỳ 68, Kỳ 68,Kỳ 66, Kỳ 69, Kỳ 70, Kỳ 71, Kỳ 72, Kỳ 73, Kỳ 74, Kỳ 75, Kỳ 76, Kỳ 77, Kỳ 78, Kỳ 79, Kỳ 80, Kỳ 81, Kỳ 82, Kỳ 83, Kỳ 84, Kỳ 85, Kỳ 86, Kỳ 87, Kỳ 88, Kỳ 89, Kỳ 90, Kỳ 91, Kỳ 92, Kỳ 93, Kỳ 94, Kỳ 95, Kỳ 96, Kỳ 97, Kỳ 98, Kỳ 99, Kỳ 100, Kỳ 101, Kỳ 102, Kỳ 103, Kỳ 104, Kỳ 105, Kỳ 106, Kỳ 107, Kỳ 108, Kỳ 109, Kỳ 110, Kỳ 111, Kỳ 112, Kỳ 113, Kỳ 114, Kỳ 115, Kỳ 116, Kỳ 117, Kỳ 118, Kỳ 119, Kỳ 120, Kỳ 121, Kỳ 122, Kỳ 123, Kỳ 124, Kỳ 125, Kỳ 126,

Chương 3

Quyển Sách

Derrida phân tích hủy tạo mối tương quan giữa người viết (thi sĩ) với quyển sách anh ta viết: “Như thế thi sĩ đúng là chủ thể, chất thể và chủ nhân, tôi tớ và chủ đề của quyển sách. Và quyển sách cũng là chủ thể của thi sĩ, hữu phát ngôn và nhận thức, hữu này viết trong quyển sách về quyển sách. Cái chuyển vận bởi nó mà quyển sách, được biểu đạt bởi tiếng nói của thi sĩ này, tự gấp lại và nối kết với bản ngã, trở thành chủ thể tự nội và tha qui, chuyển vận này không phải là một phản tư tinh thần hay phê phán, nhưng trước hết là thi ca và lịch sử. Bởi chủ thể này tự đập vỡ và tự mở ra trong khi tự trình ra. Văn tự viết ra nhưng cũng chìm nghỉm trong chính trong sự trình ra của nó. Như thế, bên trong quyển sách này, nó vốn tự phản ánh không cùng, thì nó cũng tự triển khai như một tra hỏi đớn đau về chính tính chất khả hữu của nó, hình thức của quyển sách tự trình ra như: “Quyển tiểu thuyết về Sarah và về Yukel, xuyên qua những đối thoại và những suy tư khác nhau được gán cho những giáo sĩ tưởng tượng, là câu truyện kể về một mối tình bị hủy hoại bởi những con người và những từ. Nó có kích thước của quyển sách và sự bướng bỉnh cay đắng của một câu hỏi/vấn đề lang thang.”[61]  Từ truyện kể về mối tình của Sarah và Yukel như một ẩn dụ Derrida chỉ ra Jabès đã dùng phép hoán dụ (métonymie) để chuyển hướng truyên kể này thành quyển sách về chính sự khai sinh của Thượng đế. Nhờ sự khôn ngoan  (la sagesse) thi sĩ đã hoàn thành được tự do trong niềm đam mê. Nghĩa là chuyển sự tuân thủ (obéissance) luật tắc của từ (la loi du mot) thành sự tự chủ (autonomie) của mình. Bằng không, sự đam mê sẽ trở thành sự tuân phục (sujétion), nghĩa là sự điên cuồng (folie) như Jabès viết trong Je bâtis ma demeure: “Kẻ điên là nạn nhân của sự nổi loạn của những từ

Với Jabès “Thế giới hiện hữu bởi vì quyển sách hiện hữu” và “Quyển sách là tác phẩm của quyển sách,” “quyển sách nhân rộng (multiplier) quyển sách.”. Như vậy “Hiện hữu chính là hiện-hữu-trong-quyển-sách.” Hữu không phải là bản chất do Thượng đế sáng tạo ra như thời Trung cổ quan niệm nhưng  hiển hiện trong quyển sách liên kết Thượng đế với con người và hữu với bản ngã. Jabès khẳng định: “Nếu Thượng đế là/hiện hữu, chính bởi Ngài ở trong quyển sách.” Thế nhưng quyển sách cũng bị vây khổn và đe dọa. Vì “câu trả lời của quyển sách là một câu hỏi, rằng nơi chốn đó không ngừng bị đe dọa” bởi cái không (le rien), cái không hữu (le non-être), cái vô nghĩa (le non-sens). Tuy nhiên, khi sự đe dọa này được thú nhận, được nói ra, được thuần hóa nó laị sẽ trở thành nơi chốn của quyển sách.

Jabes kết thúc Livre des questions bằng Le Retour au livre/Quay trở lại với quyển sách [RL], tập thứ ba của LQ1 như một khép lại của văn tự, một bài Bạt (Postface) cho LQ1.  Jabès mở đầu RL bằng lời ĐỀ TẶNG những người thân yêu đã chết: mẹ, cha, em gái, em trai mà mộ phần rải rác trong bốn thành phố ở hai lục địa. Lời đề tặng để mở đầu cho quyển sách là một tiếng kêu đau đớn của thi sĩ vô xứ:

Nơi nghĩa trang Bagneux, thuộc địa phận vùng sông Seine, mẹ tôi an nghỉ. Nơi thành phồ Cairo cổ, ở nghĩa địa cát, cha tôi an nghỉ. Ở Milan, trong cái thành phố cẩm thạch chết, em gái tôi được tẩm liệm. Ở Rome nơi, để đón nhận nó, bóng tối đã đào sâu đất, em trai tôi được chôn cất. Bốn nấm mộ. Ba xứ sở. Liệu cái chết có biết những biên giới? Một gia đình. Hai lục địa. Bốn thành phố. Ba lá cờ. Một tiếng nói, tiếng nói của hư vô. Một nỗi đau. Bốn cái nhìn trong một cái nhìn. Bốn cuộc đời. Một tiêng kêu.

       Bốn lần, trăm lần, vạn lần một tiếng kêu

-          Và những kẻ đã không có mồ mả thì sao? Reb Azel hỏi.

-          Tất cả bóng tối của vũ trụ là những tiếng kêu, Yukel đáp.

 

(Hỡi mẹ, con đáp lại tiếng gọi đầu tiên của đời sống, từ đầu tiên của tình yêu được phát lên và thế giới có tiếng nói của mẹ.)[62]

Le Retour au livre [RL] tương đối ngắn so với hai phần trước là Le livre des questionsLe livre de Yukel. Trở lại với quyển sách luôn có nghĩa hướng về quyển sách sẽ viết, quyển sách vị lai (le livre à venir). Hơn nữa như Jabès nhắc nhở  “Quyển sách được viết hai lần, trong quyển sách và ngoài quyển sách .” ([Le] livre [est] écrit deux fois, dans le live et hors du livre.) Hơn nữa sự trở lại với quyển sách cũng là một sự trở lại với nhựa cây và với lời thề nguyện (le retour au livre est  le retour à la sève et au serment). Khi viết xong một quyển sách có nghĩa vẫn còn phải viết tiếp quyển sách khác. Thế nên người viết sống trong sự rời bỏ quyển sách đã viết. Với người đọc cũng có một chuyển vận tương tự: đọc xong quyển sách này sẽ quay trở lại toàn tập để đọc tiếp quyển kế tiếp.

Lời ĐỀ TẶNG gồm những câu văn ngắn mục đích đáp lời những người quá cố bằng những lời nhắn gửi lặng lẽ, như một tiếng kêu tương thích với lời nói của từng kẻ quá vãng lưu truyền bằng “chỉ một ngôn ngữ/ngôn ngữ của hư vô.” Nhung ngôn ngữ của kẻ quá vãng tuy yên nghỉ với họ nhưng cũng làm hư vô trở thành bất an. Câu hỏi của Jabès “Liệu cái chết có biết những biên giới?” chỉ ra sự sâu thẳm giữa cái không thực (những người đã chết) với thực tại hiện tiền tạo thành quang cảnh của quyển sách vốn không có biên giới và từ đó cũng báo trước không gian của lời đề tặng đã chứa đựng lược đồ của quyển sách gồm Trước khi mở lời (Avant-dire) và ba phần kế tiếp của quyển sách.

 

 

Trong bài viết Ellipse/Tỉnh lược về RL [63] Derrida giải thích sự quay lại với quyển sách trên sự đóng lại cùa quyển sách và sự mở ra của văn tự: có một sự chia phần không đối xứng giữa sự khép lại của quyển sách và sự mở ra của bản văn. Một đằng là quyển sách của con người, đằng kia là những vết vạch đánh dấu sự biến đi của Thượng đế. Và câu hỏi/vấn đề của quyển sách chỉ thể mở ra khi quyển sách đã khép lại. Thế nhưng sự khép lại của quyển sách không phải là một giới hạn trong những giới hạn. Và như vậy sự lang thang vui thỏa của vết vạch (graphein) không có sự trở lại, sự mở vào bản văn là một cuộc phiêu lưu, là sự tiêu sái không tính toán. Và trở lại với quyển sách cũng là “rời bỏ quyển sách” (abandonner le livre). Nếu sự đóng lại (clôture) không phải là sự chấm dứt (fin) thì chúng ta chẳng nên hoài công phản kháng và hủy tạo vì như Jabès đã viết: “Thượng đế nối gót Thương đế và Quyển sách nối tiếp Quyển sách” (Dieu succède à Dieu et le Livre au Livre) [lời Reb Jorna]. Jabès nói về chuyển vận tiếp nối này: “Đời tôi, từ quyển sách, đã là một thức giấc của văn tự trong khoảng cách của những giới hạn, dưới dấu chỉ rực rỡ của cái Tên không thể phát âm được. Sự thức giấc của ngày và của đêm bị vây bủa. Mặc tình thế giới biến đổi. Cuộc băng ngang dài dặc này hòa vào giấc ngủ.”[64]  Theo Derrida sự quay lại với quyển sách nói lên hình thái của sự qui hồi vĩnh cửu (éternel reour), sự qui hồi của cái cùng một (le même) một cách tuyệt đối, nhưng cái cùng một ấy không đổi khác: đó một sự lập lại thuần túy (pure répétition) có sức mạnh không giới hạn của sự làm hư hoại (perversion) và của sự lật đổ (subversion). “Sự lập lại này là văn tự bởi vì cái biến mất trong lập lại, chính là sự đồng nhất với chính nó của nguồn gốc, sự hiện diện với chính nó của của lời nói được coi là sống. Đó là tâm điểm.”[65]

__________________________

[61] Sđd trang 100-101: Le poète est donc bien le sujet du livre, sa substance et son maître, son serviteur et son thème. Et le livre est bien le sujet du poète, être parlant et connaissant qui écrit dans le livre sur le livre. Ce mouvement par lequel le livre, articulé par la voix du poète, se plie à soi, devient sujet en soi et pour soi, ce mouvement n’est pas une réflexion spéculative ou critique, mais d’abord poésie et histoire. Car le sujet s’y brise et s’y ouvre en se représentant. L’écriture s’écrit mais aussi s’abîme dans sa propre représentation. Ainsi, à l’interieur de ce livre, qui se refléchit infiniment lui-même, qui se développe comme une douloureuse interrogation sur sa propre possibilité, la forme du livre se représente elle-même: “Le roman de Sarah et de Yukel, à travers divers dialogues et méditations attribuées à des rabbins imaginaires, est le récit d’un amour detruit par les hommes et par les mots. Il a la dimension du livre et l’amère obstination d’une question errante.

[62]

                                                                                          DÉDICACE

                          Au cemetière de Bagneux, dans le département de la Seine, repose ma mère. Au vieux

                          Caire, au cimetière des sables, repose mon père. À Milan, dans la morte cité de marbre,

est ensevelie ma sœur. À Rome où, pour l’acceuillir, l’ombre a creusé la terre, est en-

foui mon frère. Quatre tombes. Trois pays. La mort connaît-elle les frontiers? Une famille.

Deux continents. Quatre villes. Trois drapeaux. Une langue, celle du néant. Une douleur.

Quatre fois, cent fois, dix mille fois un cri.

-          Et ceux qui n’ont pas eu de sépulture? Demanda Reb Azel.

-          Toutes les ombres de l’univers, repondit Yukel, sont des cris.

(Mère, je reponds au premier appel de la vie, au premier mot d’amour prononcé

et le monde a ta voix.)

 

[63]  Jacques Derrida, Ellipse trong L’Écriture et la différence trang 429-436.

 

[64] LQ1, trang 364: Ma vie, depuis le livre, aura donc été une veillée d’écriture dans l’intervalle des limites, sous le signe resplendissant du Nom imprononçable. Veillée du jour et du soir assiégés. Le monde se transforme à l’insu du monde. Cette longue traversée se confond avec le sommeil.

 

[65] Jacques Derrida, Ellipse trang 431: Cette répétition est écriture parce que ce qui disparaît en elle, c’est l’identité à soi de l’origine, la présence à soi de la parolle soi-disant vive. C’est le centre.

 

(còn tiếp)

 

ĐÀO TRUNG ĐẠO

http://www.gio-o.com/DaoTrungDao.html

 

© gio-o.com 2019