ĐÀO TRUNG ĐẠO

thi sĩ / thi ca

(4)

 

Kỳ 1, Kỳ 2, Kỳ 3, Kỳ 4, 

Blanchot: Celan kẻ cuối cùng cất tiếng


Bài Le dernier à parler của Blanchot viết về Paul Celan lần đầu đăng trên La Revue de Belles-Lettres năm 1972 chừng hơn một năm sau khi Celan tự vẫn v́ thế có thể coi đây là một trong những bài viết về Celan sớm sủa nhất.(10) Blanchot mở đầu bằng lời khai từ: “Platon: Bởi v́ về cái chết, chẳng ai có sự hiểu biết, và Paul Celan: Chẳng ai chứng kiến cho chứng nhân. Thế nhưng, luôn luôn, chúng ta chọn một kẻ đồng hành: không phải cho chúng ta, nhưng cho một cái ǵ đó ở trong chúng ta, bên ngoài chúng ta, cái đó cần chúng ta vắng mặt khỏi chính chúng ta để vượt qua đường vạch chúng ta không bao giờ chạm tới. Kẻ đồng hành mất biệt ngay từ đầu, chính sự mất mát này từ nay ở chỗ của chúng ta. T́m nhân chứng ở đâu cho kẻ đồng hành không có nhân chứng?”(11)


Qua giọng điệu cũng như cách viết của Blanchot chúng ta có thể coi bài Le dernier à parler  là một bài viết để “chiêu niệm” (mourning) Celan: lời chiêu niệm một kẻ đổng hành nói qua lưới hướng ra cơi ngoài. Chính v́ vậy chúng ta thấy Blanchot hầu như chỉ sử dụng tập thơ Sprachgitter/Lời qua lưới và vài trích dẫn ngắn trong hai bài văn xuôi của Celan là bài diễn từ nhận giải văn chương ở Bremen và bài Das Meridan nhận giải Georg Büchner.

 

Blanchot mở đầu bài viết bằng những trích dẫn Celan:

 

ein ins Stumme entglittenes

Ich.

 

Un Moi échappé dans le mutisme (Blanchot dịch)

Một Tôi trốn chạy vào trong sự câm lặng

 

Wieder Begegnungen mit

Vereinzelten Worten wie:

Steinschlag, Hartgräser, Zeit.

                               (ba câu cuối của bài Sommerbericht trong tập Sprachgitter)

Lại chạm mặt với

những từ tách biệt như:

đá chuồi, lau sậy, thời gian.

 

daß bewahrt sei

ein durchs Dunkel

getragenes Zeichen

                   (hai câu trong khổ cuối của bài Schliere trong tập Sprachgitter)

để được lưu giữ

một dấu hiệu

băng qua bóng tối

 

Chúng ta biết rằng trở ngại chính người đọc gặp phải khi đọc thơ của Celan là sự thu ngắn ngôn ngữ tới mức cùng cực nên nhiều khi tối nghĩa. Bằng thí dụ những đoạn thơ trích dẫn ở trên Blanchot giải thích điều này để chúng ta hy vọng hiểu được thơ Celan: “Cái ǵ nói với chúng ta nơi đây, đến chúng ta bằng sức căng cùng cực của ngôn ngữ, sự tập trung, sự cần thiết để duy tŕ, để mang cái này sang cái kia, trong một sự kết hợp không tạo nên tính đơn nhất, những từ nay trở đi được liên kết, nối lại với nhau cho một cái ǵ khác chứ không phải ư nghĩa của chúng, duy chỉ được hướng về – .Và cái nói với chúng ta, trong những bài thơ thường rất ngắn này trong đó những hạn từ, những câu dường như, bằng cái nhịp điệu của sự ngắn gọn vô cùng của chúng, vây quanh bởi khoảng trắng/trống, đó chính v́ cái khoảng trắng đó, những sự ngưng lại đó, những im lặng đó chẳng phải là những tạm ngưng hay những thời khoảng cho phép việc lấy hơi khi đọc, nhưng chúng thuộc vào cùng một sự chặt chẽ, một sự chặt chẽ chỉ cho phép hơi buông thả chút đỉnh, một sự chặt chẽ không lời không phải được dùng để mang ư nghĩa, như thể sự trống rỗng không hẳn chỉ là một sự thiếu hụt mà là sự thăng hoa, một sự trống rỗng được thăng hoa của sự trống rỗng.(12) Nhưng sự ngắn gọn của thơ Celan theo Blanchot không cứng ngắc, không sản xuất ngôn ngữ bạo động, gây hấn hay phá hủy nhưng đă tự phá hủy để tha nhân được duy tŕ hay để một dấu chỉ mang vác bởi sự tăm tối được duy tŕ (pour que soit maintenu un signe porté par l’obscurité.)

 

                   mit der untrüglichen Spur

                   với dấu vạch không thể lầm lẫn

                                                       (Câu mở đầu bài Engführunf trong tập Sprachgitter)

 

                   …in der Dünung

                   wandernder Worte

                   trong gợn sóng

                   của những từ lang thang

 

                   Gras, auseinandergesschrieben

                   Cỏ, viết rời ra.

                                                       (câu thơ cuối của bài Engführunf trong tập Sprachgitter)

                  

Lies nicht mehr – schau!

                   Schau nich mehr – geh!

                   đừng đọc – hăy nh́n!

                   Đừng nh́n – hăy đi!

 

Chủ điểm trong bài viết của Blanchot giới hạn trong vấn đề chuyển vận trong thơ Celan. Trước hết là câu hỏi: ngôn ngữ thơ đó hướng về cái ǵ? Sprachgitter: nói phía sau tấm lưới – chẳng hạn lưới nhà tù – qua đó để  nói về hứa hẹn hay từ chối sự tự do của bên ngoài như tuyết, đêm, một nơi chốn có hay không có một tên gọi, hay đó chỉ là sự tin tưởng rằng nếu như không có tấm lưới ta hy vọng sẽ có một cái ǵ đó để đọc được (déchiffrer) và như vậy là tự giam ḿnh vào ảo tưởng cho rằng ư nghĩa hay sự thật sẽ được giải phóng trong khung cảnh dưới kiađó dấu chỉ không lừa dối (la trace ne trompe pas.) Blanchot đặt câu hỏi: “Nhưng, dù rằng chữ viết/văn tự được đọc dưới một thứ/loại sự vật, một cái bên ngoài của sự vật kết đặc trong sự vật này hay sự vật khác, không phải để chỉ sự vật, nhưng để viết nó trong một chuyển vận bập bềnh của những từ luôn đi tới, th́ cái bên ngoài có vẫn được đọc như chữ viết/văn tự, một chữ viết không đầu dây mối nhợ, luôn luôn ở bên ngoài chính nó: cỏ, được viết tách rời nhau không? – Có thể sự trông cậy – đó có phải là một sự trông cậy, một kêu gọi? – là để gửi gấm, bên ngoài cái mạng của ngôn ngữ (mắt, con ngươi giữa những khung lưới), trong sự chờ đợi một cái nh́n rộng hơn, một khả tính/sự có thể nh́n, nh́n mà không có chính những từ có nghĩa việc nh́n: (13)

 

đừng đọc – hăy nh́n!

Đừng nh́n – hăy đi!

 

                                           zur Blindheit über –

                                           redete Augen

 

                               Augen weltblind,

                               Augen im Sterbegeklüft,

                               Augen Augen

                   (khổ thứ ba bài Schneebett trong tập Sprachgitter)

 

                               Yeux aveugles au monde,

                               Yeux dans les crevasses du mourir,

Yeux Yeux

 

Những con mắt đui mù trước thế giới,

Những con mắt trong những đường nứt của việc chết đi

Mắt Mắt

 

Geh, deine Stunde

Hat keine Schwestern, du bist –

bist zuhause

 

Va, ton heure

n’a pas de sœurs, tu es –

es là revenue.

 

Đi, giờ của ngươi đă điểm

không chị em, ngươi –

 đă trở về

 

Die Nacht

braucht keine Sterne,

 

la nuit

n’a nul besoin d’étolies

 

đêm

chẳng bao giờ cần sao

 

nirgends

fragt es nach dir

 

nulle part

il n’y a demande de toi.

 

không nơi đâu

cần đến ngươi.

 

Blanchot giải thích “nh́n mà không có chính những từ có nghĩa việc nh́n” có nghĩa luôn luôn có trước mắt (en vue) một chuyển vận (mouvement), kết hợp với một chuyển vận như thể đi về hướng lời kêu gọi của những con mắt, những con mắt này nh́n bên/cơi ngoài, ra khỏi cái phải nh́n như Celan viết “những con mắt đui mù trước thế giới, những con mắt mà lời nói nhận ch́m tới tận sự mù ḷa” (yeux aveugles au monde, yeux que la parole submerge jusqu’à la cécité), những con mắt nh́n (hay ở chỗ của những con mắt này) “trong sự liên tục của những đường nứt của việc chết đi.” (dans la suite des fissures du mourir). Tuy đó là một chuyển vận không mục đích nhưng không ngưng lại như sự xác nhận của sự quay lại chỉ làm cho chuyển vận này như chuyển vận chậm lại của một cái ṿng quay quanh nó và trên chính nó hay như cái ṿng trong đêm tối của những v́ sao, nhưng “đêm chẳng bao giờ cần sao,” cũng như “không nơi đâu cần đến ngươi.”

Cơi ngoài là nơi chốn mang vác những con mắt tách rời khỏi hữu và có thể coi như những con mắt cô độc và vô ngă:

 

                   Das umhergestossene

                   Immer – Lich, lehmgelb,

                   hinter

                   Planetenhäuptern.

                   Erfundene

                   Blicke, Seh-

                   narben,

                   ins Raumschiff gekerbt,

                   betteln um Erden-

                   Münder.

 

                   la lumière incessante, jaune limon,

                   de-ci de-là ballotée

                   derrière

                   les planets capitales.

                   Regards

                   inventés, cicatrices

                   pour voir,

                   entailées dans le vaisseau de l’espace,

                   yeux (?) [bouches – ĐTĐ]

                                           (M.B. dịch)

 

                   Ánh sáng không ngừng, vàng chanh,

                   nơi này nơi kia nhảy múa

                   phía sau

                   những hành tinh chính.

                   Những cái nh́n

                   được tạo ra, những vết sẹo

                   để nh́n,

                   được khắc sâu trong những động mạch của không gian,

                   những con mắt [những cái miệng]

 

những con mắt này không có khả năng thông giao, lang thang: “mendient des bouches/terrestres/ những cái miệng cầu xin/đất”, phủ đầy vĩnh cửu (vĩnh cửu dâng đầy những con mắt) v́ vậy có thể đưa đến sự ham muốn tự làm ḿnh thành đui mù:

 

                               Erblinde schon heute:

                               Auch die Ewiggkeit steht voller Augen

 

                               nguơi hăy đui mù từ hôm nay

                               ngay vĩnh cửu cũng đầy những con mắt –

 

Trong thơ của Celan nỗi ám ảnh của mắt chỉ ra cái khác với cái có nh́n thấy như đoạn thơ sau đây: (Blanchot trích rải rác những câu thơ của nhiều bài khác nhau trong tập Sprachgitter rồi ghép lại chứ đây không phải là một bài thơ của Paul Celan.)

 

                               Unverhüllt an den Toren des Traumes

                               streitet ein einsames Aug.

                               Es wird noch ein Aug sein,

                               ein fremdes, neben

                               dem unsern: stumm

                               unter steinernem Lid.

                                                                       (khổ đầu bài Zuversicht trong tập Sprachgitter)

O dieses trunkene Aug,

                               das hier umherirrt wie wir

                               und uns zuweilen

                               staunend in eins schaut.

                               Eräugtes

Dunken darin.

Augen und Mund stehn so offen und leer, Herr.

Dein Aug, so blind wir der Stein.

                               Blume – ein Blindenwort.

Gesänge:

                               Augenstimmen, im Chor,

                                                                   (khổ thứ hai bài Windgerecht trong tập Sprchgitter)

Du bist,

                               wo dein Aug ist, du bist

                               oben, bist

                               unten, ich

                               finde hinaus.

 

                               Mở rộng tới những cổng của giấc mơ

                               một con mắt cô độc gắng sức

                               ở đó sẽ có, bên cạnh mắt chúng ta

                               một con mắt nữa,

                               kẻ xa lạ: câm nín

                               dưới mi mắt bằng đá.

                               Ô con mắt say rượu này

                               kẻ cũng ở quanh dây như chúng ta

                               quanh quất ở đây và đôi khi

                               quá đỗi ngạc nhiên nh́n chúng ta.

                               Sự tăm tối đó

                               bằng mắt mạnh dạn nhắm tới.

                               Nhưng con mắt và cái miệng, mở thật rộng và thật trống rỗng, thưa Ngài.

                               Mắt ngươi, cũng đui mù nhu một cục đá.

                               Hoa – một từ ngữ mù.

                               Những bài ca:

                               tiếng nói của cái nh́n, trong dàn đồng ca,

                               Ngươi,

                               ở đó nơi mắt ngươi, ngươi

                               ở trên cao,

                               ta ở dưới này

                               quay ra ngoài.

                  

       “Mối tương quan với cơi ngoài, chẳng bao giờ đă có trước, thử nghiệm của một chuyển vận hay một lên đường, mối tương quan không có những ràng buộc hay những gốc rễ, không phải chỉ được chỉ ra bởi sự vượt lên trống không của những con mắt trống không này, nhưng là mối tương quan được xác định một cách dứt khoát bởi Celan trong những đoạn văn như khả hữu tính của sự vượt lên này: nói với những sự vật.” Blanchot trích đoạn trong bài diễn từ Das Meridian: “Chúng ta, như khi chúng ta cũng nói với những sự vật….” (xem trích dẫn bài diễn từ trong Thi sĩ/Thi ca (2) trên Gió-O) (14) Cơi ngoài trong thơ Celan không phải là tự/thiên nhiên (nature) dù rằng được liên kết với không gian, những thế giới và sao trời, là cái cơi ngoài của nơi xa xăm vẫn c̣n sức hút, đến với chúng ta bằng những từ luôn trở lại được Celan nhấn mạnh – Schnee/Tuyết, Ferne/Khoảng xa, Nacht/Đêm, Asche/Tro – chúng trở lại như để khiến chúng ta tin vào một tương quan với thực tại nhưng rồi ấn tượng đó lại đổi hướng về sự khô cứng của đá tảng, phấn cục, sỏi, mầu trắng luôn trắng hơn trắng cằn cỗi của tuyết, màu trắng ở dưới những đáy sâu không đáy:

                               Weiss,

                               was sich uns regt

                               ohne Gewicht,

                               was wir tauschen.

                               Weiss und Leicht:

                               lass es  wander.

 

                               Trắng,

                               cái đối  với chúng ta chuyển động,

                               không trọng lượng,

                               cái chúng ta trao đổi.

Trắng, Nhẹ:

hăy để cho nó lang thang.

 

Flügelnacht, weiter gekommen und nun

für immer gespannt

über Kreide und Kalk.

Kiesel, abgrundhin rollend.

Schnee. Und mehr noch des Weissen.

 

Gió trong h́nh cánh, từ xa tới và giờ đây

măi vươn rộng

trên phấn và đá vôi.

Đá tảng, trôi xuống vực thẳm.

Tuyết. Và luôn trắng hơn Trắng.

 

Blanchot cho rằng tựa đề bài thơ Schneebett/Giường tuyết của Celan tuy êm đềm nhưng lại không dẫn tới sự an ủi:

 

                               Augen, weltblind, im Sterbegekklüft: Ich komm,

                               Hartwuchs im Herzen.

                               Ich komm.

 

Những con mắt, đui mù thế giới, trong chuỗi những đường nứt của chết đi: Tôi tới,

ứ tràn trong tim.

Tôi tới.

 

Tôi tới “Die Welt, ein Tausendkristall/Thế giới, tầng tầng pha lê/Atemkristal/ hơi thở pha lê”.

Blanchot cảm nhận được tôi trong câu thơ là sự thu hút, lời kêu gọi ngă xuống nhưng lại không cô đơn mà chuyển sang chúng ta thế nên cả hai kết hợp trong sự ngă xuống chung cho tới thời điểm hiện tại:

 

                               Das Schneebett unter uns beiden, das Schneebett.

                               Kristall um Kristall,

                               Zeittief gegittert, wir fallen,

                               wir fallen und liegen und fallen

 

                               Und fallen:

                               Wir waren. Wir sind.

                               Wir sind ein Fleisch mit der Nacht.

                               In den Gängen.

                               Du darfst mich getrost mit Schnee bewirten

 

                               Giường tuyết dưới hai chúng ta, giường tuyết.

                               Pha lê vây quanh pha lê,

                               đan kín            trong chiều sâu thời gian, chúng ta ngă xuống,

                               chúng ta ngă xuống và nằm yên và ngă xuống.

 

                               Và ngă xuống:

                               Chúng ta đă. Chúng ta là.

                               Chúng ta là, ghế và đêm, cùng.

                               Trong những lối đi, những lối đi.

                               Em có thể nuôi anh bằng tuyết mà chẳng cần lo ngại.

 

Theo Blanchot cặp đôi ngă xuống này đánh dấu một tương quan luôn định hướng, cuốn hút không có cái ǵ có thể cắt đứt nhưng cô đơn vẫn c̣n đó:

                              

Ich kann Dich noch sehn: ein Echo,

ertastbar mit Fühl-

wörtern, am Abschieds-

grat.

Dein Gesich scheut leise,

wenn es auf einmal

lampenhaft hell wird

in mir, an der Stelle,

wo man am schmerzlichsten Nie sagt.

 

Tôi vẫn có thể nh́n Em: tiếng vang

có thể tới bằng sự sờ thấy được

những từ, trên chỗ gẫy của

Lời giă từ.

Mặt em âu lo dịu dàng,

Khi đột nhiên

ánh đèn loáng lên

trong anh, nơi

ở đó người ta nói Chẳng bao giờ với sự đau đớn thật lớn lao.

 

       “Đau đớn chỉ là đau đớn mà không thở than hay phẫn uất” như thể quăng ngừng dành cho một ư tưởng được coi như một hiến tặng, một kỷ niệm, một đạt tới chung trong khi ở quăng ngưng này không có ǵ hết như trong bài Sprachgitter Celan đă viết Anh có như em. Em có như anh/Phải chăng chúng ḿnh không đứng/dưới cùng một làn gió mùa?/ Chúng ta là những kẻ xa lạ.”

 

                               (Auf dem senkrechten

                               Atemseil, damals,

                               höher als oben,

                               zwischen zwei Schmerzknoten, während

                               der blanke

                               Tatarenmond zu uns heraufkomm,

                               grub ich mich in dich  und in dich.)

 

                               (Trên cổ họng thẳng đứng

                               của hơi thở, khi đó,

                               cao hơn ở trên

                               giữa hai nút thắt của sự đau đớn, trong khi

                               vầng trăng trắng đục cố mọc lên tới tận chúng ta,

                               trong em và trong em anh tan biến .

 

Blanchot diễn giải cụm từ Wir sind Fremde/Chúng ta là những kẻ xa lạ: “những kẻ xa lạ, nhưng cả hai cùng là kẻ xa lạ, vẫn phải cùng cưu mang sự chệch hướng của khoảng cách tuyệt đối giữ chúng ta xa cách nhau. Chúng ta là những kẻ xa lạ. Như thế, nếu như có một sự im lặng, th́ hai sự im lặng này đổ đầy miệng” (15) như trong hai ḍng cuối bài Sprachgitter zwei/Mundvoll Schweigen/ hai, đôi/ miệng của im lặng. Ở đây phải hiểu nghĩa câu thơ là “hai niềm im lặng làm đầy miệng.”

      

________________________________

 

 (10) Wer bin Ich und wer bist Du?Ein Kommentar zu Paul Celans Gedichtfolge “Atemkristall” của Hans-Georg Gadamer viết năm 1973, Schibboleth, pour Paul Celan của Jacques Derrida viết năm 1984, Poésie comme experience của Philippe Lacoue-Labarthe viết năm 1986…)

 

(11) Maurice Blanchot, Le dernier à parler trong Une voix venue d’ailleurs trang 71: Platon: Car de la mort, nul n’a de savoir, et Paul Celan: Nul ne témoigne pour le témoin. Et pourtant, toujours, nous nous choisissons un compagnon: non pour nous, mais pour quelque chose en nous, hors de nous, qui a besoin que nous manquions à nous-mêmes pour passer la ligne que nous n’atteindrons pas. Compagnon par avance perdu, la perte même qui est désormais à notre place.

Où chercher le témoin pour lequel il n’est pas de témoin?

 

(12) Sđd, trang 73.

(13) Sđd, trang 75: Mais, de même que l’écriture se lit sous l’espèce d’une chose, d’un dehors de chose se condensant en telle ou telle chose, non pour la désigner, mais pour s’y écrire dans le mouvement de houle des mots qui toujours vont, le dehors ne se lit-il pas encore comme écriture, écriture sans lien, toujours déjà hors d’elle-même: herbe, écrite hors l’une de l’autre? Peut-être le recours – est-ce recours, un appel? – est-il de se confier, par-delà le réseau du language (œil, rond de l’œil entre les barreaux), à l’attente d’un regard plus large, d’une possibilité de voir, de voir sans les mots mêmes qui signifent la vue:

                                                          ne lis plus – regarde!

                                                          Ne regard plus – va!

 

(14) Sđd, trang 83: Le rapport avec le dehors, jamais déjà donné, essai d’un mouvement ou d’un cheminement, rapport sans attaches et sans raciness, n’est pas seulement indiqué par cette transcendance vide  des yeux vides, mais affirmé explicitement par Paul Celan dans ses fragments de prose comme sa possibilité: parles avec les choses. Nous sommes…

 

(15) Sđd, 90-91: Wir sind Fremde: des étrangers, mais tous deux étrangers, ayant à supporter encore en commun cet égarement de la distance qui nous tient absolument à l’écart. Nous sommes des étrangers. De même que, s’il y a silence, deux silences nous remplissent la bouche.

 

(c̣n tiếp)

 

ĐÀO TRUNG ĐẠO

 

http://www.gio-o.com/DaoTrungDao.html

 

 

© gio-o.com 2015