đào trung đạo

thi sĩ / thi ca

(98)

Kỳ 1, Kỳ 2, Kỳ 3, Kỳ 4, Kỳ 5, Kỳ 6, Kỳ 7, Kỳ 8, Kỳ 9, Kỳ 10, Kỳ 11, Kỳ 12, Kỳ 13, Kỳ 14, Kỳ 15, Kỳ 16, Kỳ 17, Kỳ 18, Kỳ 19, Kỳ 20, Kỳ 21, Kỳ 22, Kỳ 23, Kỳ 24, Kỳ 25, Kỳ 26, Kỳ 27, Kỳ 28, Kỳ 29, Kỳ 30, Kỳ 31, Kỳ 32, Kỳ 33, Kỳ 34, Kỳ 35, Kỳ 36, Kỳ 37, Kỳ 38, Kỳ 39, Kỳ 40, Kỳ 41, Kỳ 42, Kỳ 43, Kỳ 44, Kỳ 45, Kỳ 46, Kỳ 47, Kỳ 48, Kỳ 49, Kỳ 50, Kỳ 51, Kỳ 52, Kỳ 53, Kỳ 54, Kỳ 55, Kỳ 56, Kỳ 57, Kỳ 58, Kỳ 59, Kỳ 60, Kỳ 61, Kỳ 62, Kỳ 63, Kỳ 64, Kỳ 65, Kỳ 66, Kỳ 67, Kỳ 68, Kỳ 68,Kỳ 66, Kỳ 69, Kỳ 70, Kỳ 71, Kỳ 72, Kỳ 73, Kỳ 74, Kỳ 75, Kỳ 76, Kỳ 77, Kỳ 78, Kỳ 79, Kỳ 80, Kỳ 81, Kỳ 82, Kỳ 83, Kỳ 84, Kỳ 85, Kỳ 86, Kỳ 87, Kỳ 88, Kỳ 89, Kỳ 90, Kỳ 91, Kỳ 92, Kỳ 93, Kỳ 94, Kỳ 95, Kỳ 96, Kỳ 97, Kỳ 98,

GIUSEPPE UNGARETTI

Chương II

Thi pháp và Thi ca của Ungaretti

Đường bay thi ca của Ungaretti từ Allegria (1914-1919) sang Sentimento del tempo/Thời cảm (1919-1935) đã đổi hướng, từ hoan ca sang bi ca, không còn trong viễn tượng không-thời gian của hiện tại thuần túy, không còn rợp bóng quá khứ hay tương lai như trong bài thơ Mattina “M’illumino/d’immenso”. Thời cảm khởi đầu cho giai đoạn thứ nhì của lộ trình thi ca cũng như của cuộc đời Ungaretti. Như tựa đề tập thơ cho thấy, thi sĩ nay sống trong khoảnh khắc với những tình cảm phức tạp: hiện tại thuần túy nhường bước cho ý nghĩa thấm thía, sâu sắc của hiện hữu trong thời gian, tuổi già, sự mất mát, sợ hãi khi nhìn về tương lai...Ký ức chiếm ngôi chủ vị trong việc đi tìm một paese innocente/sứ sở hồn nhiên trong kinh nghiệm hài hòa được làm mới sự toàn vẹn của mọi vật và trên hết việc quay lại quá khứ cá nhân, văn hóa, con người để tìm lại sự hồn nhiên.

Sentimento del tempo/Thời cảm gồm 7 chương/phần: Prime/Khởi đầu mới (7 bài), La fine di cronos/Kết thúcThời kế [19] (20 bài), Sogni e accordi/Những bài ca và những hòa âm (15 bài), Inni/Tụng ca (7 bài), La morte meditata/Cái chết suy niệm (6 bài), và L’Amore/ Tình yêu  (8 bài). Ungaretti kèm ghi chú sau đây trong bản in Sentimento del tempo năm 1936: “Cũng như Allegria, Sentimento del tempo được chia ra thành nhiều chương. Đó không do hậu quả của sự tùy hứng. Mỗi phần của hai quyển này tạo hình một bài ca, trong sự phức tạp về cấu tạo  - với những đối thoại, những vở kịch, những hợp xướng của nó –, là độc nhất và bất phân. Cũng vậy, Những bài Tụng ca – chúng biểu lộ  một sự khủng hoảng tôn giáo thực sự hàng triệu người đã trải qua cũng như chính bản thân tôi, trong một trong những năm thật tăm tối sau chiến tranh – nếu như chúng nhân muốn hiểu chúng thấu đáo, những bài tụng ca này không phải được tách rời nhau ra; cũng vậy với những bài Truyền tụng, và tiếp tục như vậy, cùng một kiểu như trong quyển Hoan ca: Hải cảng chìm lấp, Kẻ lang thang hay bất kỳ phần nào của quyển sách. Về phương diện thuần kỹ thuật, nỗ lực đầu tiên của tôi là tìm ra trong mỗi từ sự tự nhiên, chiều sâu và nhịp điệu trong ý nghĩa của nó; hiện đứng cô lập, tôi đã tìm thấy có một sự trùng hợp giữa nhịp điệu truyền thống của chúng ta và những thị hiếu biểu đạt ngày nay.”[20]  Ghi chú này của Ungaretti giải thích hai điều: cấu trúc toàn phần liên lỉ của những tập thơ và quan điểm trở về truyền thống thi ca Ý (tiếng hát) và nỗ lực làm mới thi từ. Nhưng tại sao Ungaretti lại cho rằng mình “hiện cô lập”? Giải thích câu nói này giúp thấu hiểu hơn thi ca của Ungaretti: Vào hai thập niên đầu thế kỷ trước các thi sĩ Ý nhiệt thành tin tưởng rằng để phục hồi nền thi ca hiện tại thiếu sức sống là phải trở về với quá khứ huy hoàng của thi ca Ý, rằng trật tự mới sẽ được tìm thấy trong việc nghiên cứu và phát huy truyền thống văn chương Phục hưng và những bậc thầy văn chương thế kỷ 19 để chống lại phong trào thi ca tiền phong hiện đang chủ trương. Đó là quan điểm của những văn thi sĩ qui tụ quanh tạp chí văn chương La Ronda (1919-1923) như Bacchelli, Cardarelli...thiên về việc khai phá nghệ thuật văn xuôi như đã được những bậc thầy như Boccacio và Leopardi thực hành. Tuy cũng cộng tác với La Ronda nhưng Ungaretti có quan điểm tìm về truyền thống khác với Bacchelli và về bài ca Ý (canto italino) như phát biểu sau đây: “Họ (những rondisti [những người thuộc tạp chí La Ronda] muốn văn xuôi, thơ xuôi. Và ngược lại tôi cảm thấy, từ sâu thẳm trong tôi, ký ức như một cột trụ của sức khỏe. Với sự khiêm nhường tôi đọc lại những thi sĩ, những thi sĩ hát ca. Trong những vần thơ của Jacopone, hay những câu thơ của Dante, hay Petrarch, hay Guittone, hay Tasso hay những vần thơ của Cavalcanti hay Giacomo Leopardi, tôi đi tìm bài ca. Đó không phải câu thơ mười một chân của thi sĩ này thi sĩ nọ, cũng không phải những dòng chín hay bảy chân của thi sĩ khác, mà đó là bài ca Ý (canto italino), bài ca của tiếng nói Ý mà tôi đã tìm kiếm trong sự bền vững của nó qua những thế kỷ...[...] Đó chính là nhịp đập của tim tôi tôi muốn nghe hòa điệu với nhịp tim đập của những tiền nhân tôi, với mảnh đất hết sức dấu yêu của tôi. Do vậy từ 1919 đến 1925 những bài thơ “Mùa”, “Kết thúc Thời kế,” “Tiên chim,” “Bi ca cho Cái chết” và những bài thơ khác ra đời, trong đó, tôi tự nâng đỡ được bao nhiêu hay chừng đó, có thể bằng cái tai và tâm hồn, tôi đã thử hòa giọng vào hòa âm với sở thích hiện đại của chúng ta bằng một nhạc cụ cổ, nhạc cụ này, như một kết quả, hay hay dở, được tiếp tục bởi bất kỳ người nào ở nước Ý.”[21]  Qua đoạn văn này “hiện bị cô lập” có nghĩa Ungaretti bị những rondisti cô lập.

 

 

[19]  La fine di cronos khó dịch. Allen Mandelbaum dịch tựa đề bài thơ này sang Anh văn là “End of Cronus”, hiểu từ “cronos” trong nguyên bản là Cronus, nhân vật huyền thoại Hy Lạp là vị thần trẻ nhất của thế hệ Titan (G.U. Selected Poems trang 78) trong khi đó Philippe Jaccottet dịch sang Pháp văn là “Fin de chronos” (Vie d’un homme trang 142), “chrono” viết tắt của từ “chronomètre” do hợp hai từ “khronos” (thời gian) và “metron” (kích thước, đo.) Từ điển Larousse dịnh nghĩa “chronomètre”:1. Montre de précision dont un laboratoire officiel a controlé la marche dans différentes positions  et sous des températures variées. 2. Cour. Chronographe. Abrév. (fam): chrono. Để có thể xem dịch giả nào dịch đúng ý của Ungaretti có lẽ cách tốt nhất là đọc chính bài thơ này:

 

FINE DI CRONOS

L’ora impaurita

In grembo al firmamento

Erra strana.

Una fuligine

Lilla corona i monti,

 

Fu l’ultimo grido a smarrirsi.

Penelopi innumeri, astri

Vi riabbraccia il Signore!

(Ah, cecità!

Frana delle notti...)

E riporge l’Olimpio,

Fiore eterno di sonno.

                          1925

Giờ đáng sợ

Giữa bầu trời

Lang bạt xa lạ

 

Một lớp bồ hóng

Tử đinh hương choàng hoa những trái núi,

 

Đó là tiếng kêu sau cùng sẽ lạc lối.

 

Những vì sao, hằng hà những người vợ chung thủy,

 

Đấng tối cao lại ôm lấy các ngươi!

 

(A, đui mù!

Dòng thác đổ của đêm...)

 

Và Olimpio trở lại,

Hoa vĩnh cửu ngủ.

 

Nhận xét: Thứ nhất, trong bài thơ này Ungaretti không hề nhắc hay cho thấy liên tưởng tới huyền thoại thần Cronus. Thứ nhì, bài thơ nói về sự đáng sợ của dòng thời gian trôi chảy theo cảm nhận của một kẻ không nhà. Jaccottet có lẽ nắm bắt được ý nghĩa bài thơ này của Ungaretti sát hơn là Mandelbaum!

 

[20] Trích dẫn theo Philppe Jaccottet trong Vie d’un homme trang 332-333: Comme L’Allégress, le Sentiment est divisé en chapitres. Ce n’est pas l’effet d’un caprice. Chacune des parties  de ces deux livres forme un chant, dans sa complexité organique – avec ses dialogues, ses drames, ses chœurs, –, unique et indivisible. Ainsi les Hymes – qui expriment une crise religieuse traversée réellement par des millions d’hommes comme par moi, dans l’une des années les plus sombres de l’après-guerre – si on ne veut pas les comprendre tout de travers, ne doivent pas être séparés les uns des autres; ainsi le Légendes, et ainsi de suite; de même dans L’Allégresse: Le port enseveli, Vagabond ou toute autre partie du livre.

 

“Du point de vue trictement technique, mon premier effort a été de retrouver le naturel, la profondeur et le rythme dans la signification de chaque mot; isolé à présent, j’ai cherché à trouver une coïncidence entre notre métrique traditionnelle et les nécessités expressives d’aujourd’hui.”

[21] Trích dẫn theo Joseph Cary trong Three Modern Italian Poets trang 167: They (the rondisti) wanted prose, poems in prose. And on the contrary I felt, deep within me, memory like an anchor of health. With humility I reread the poets, the poets who sing. In the verses of Jacopone, or those of Dante, or Petrarch, or Guittone, or Tasso, or those of Cavalcanti or Giacomo Leopardi, I searched for song. It was not the hendecasyllable of such-and-such a poet, nor the lines of nine or seven of some other, it was Italian song (canto italino), the song of the Italian tongue that I sought in its constancy through the centuries, through voices so numerous and so different in timbre, each so jealous of its own novelty, each so singular in the expression of thoughts and feelings. It was the beating of my heart that I wanted to hear in harmony with the heartbeats of my ancestors, with mý desperately beloved land. Thus were born, from 1919 to 1925, “The Season,” “The End of Chronos,” “Sirens,” “Hymn to Death” and other poems in which, supporting myself as much as possible by ear and soul, I attempted to tune into harmony with our modern tastes an ancient musical instrument which was, as a result, for good or ill, taken up by everyone in Italy. (Joseph Cary trích dịch từ G.U.,  Les cinq lives, bản dịch Pháp văn của Jean Lescure trang 13-14)

(còn tiếp)

đào trung đạo

 

http://www.gio-o.com/DaoTrungDao.html 

 

 

© gio-o.com 2018