đào trung đạo

thi sĩ / thi ca

 

(70)

 

Kỳ 1, Kỳ 2, Kỳ 3, Kỳ 4, Kỳ 5, Kỳ 6, Kỳ 7, Kỳ 8, Kỳ 9, Kỳ 10, Kỳ 11, Kỳ 12, Kỳ 13, Kỳ 14, Kỳ 15, Kỳ 16, Kỳ 17, Kỳ 18, Kỳ 19, Kỳ 20, Kỳ 21, Kỳ 22, Kỳ 23, Kỳ 24, Kỳ 25, Kỳ 26, Kỳ 27, Kỳ 28, Kỳ 29, Kỳ 30, Kỳ 31, Kỳ 32, Kỳ 33, Kỳ 34, Kỳ 35, Kỳ 36, Kỳ 37, Kỳ 38, Kỳ 39, Kỳ 40, Kỳ 41, Kỳ 42, Kỳ 43, Kỳ 44, Kỳ 45, Kỳ 46, Kỳ 47, Kỳ 48, Kỳ 49, Kỳ 50, Kỳ 51, Kỳ 52, Kỳ 53, Kỳ 54, Kỳ 55, Kỳ 56, Kỳ 57, Kỳ 58, Kỳ 59, Kỳ 60, Kỳ 61, Kỳ 62, Kỳ 63, Kỳ 64, Kỳ 65, Kỳ 66, Kỳ 67, Kỳ 68, Kỳ 68,Kỳ 66, Kỳ 69, Kỳ 70,

 

RENÉ CHAR

 

Bài thứ ba Blanchot viết về Char René Char et la pensée du neutre/René Char và tư tưởng về trung tính lần đầu đăng trên tạp chí L’Arc năm 1963 sau được cho vào L’Entretien infini (1969)[206] chính yếu để diễn giải từ “inconnu/không biết” trong câu nói mở đầu bài Argument của tập thơ Poème pulvérisé: “Comment vivre sans inconnu devant soi?/Làm sao sống [mà] không có cái không biết phía trước bản thân.Từ “inconnu” này có thể nói là chiếc ch́a khóa của tư tưởng thi ca của René Char. Sau khi lược ra một số từ và cụm từ như “Le prévisible mais non encore formulé/Cái tiên thị nhưng chưa được xác lập”, “l’absolu inextinguible/cái tuyệt đối không thể dập tắt/giải trừ”, “l’impossible vivant/sinh hữu bất khả”, “le gémir du plaisir/tiếng rên xiết của ham muốn”, “Transir/Thấu”, “Attenants/Những cái cận kề”, “le grand lointain informulé (le vivant inespéré)/cái ở xa không xác lập (sinh hữu tuyệt vọng)”, “l’essentiel intelligible/cái thiết yếu khả tri”, “l’entrouvert/cái hé mở”, “l’infini impersonnel/cái vô tận vô ngă”, “l’obscur/cái tối tăm”, “Quitter/Rời bỏ” là những từ và cụm từ theo Blanchot có tinh chất trung tính hay gần với trung tính về mặt văn phạm, có chức năng khác nhau khi sử dụng nên cần được chú ư, nhưng điểm quan trọng cái trung tính không phải chỉ là vấn đề văn phạm. “Khi René Char viết “cái đi qua” – và ngay cả khi ông ta không viết từ đó ra, chúng ta thường cảm thấy rắng từ này ở trong ông ta – “cái đi qua bị sói ṃn”, cái/sự đi qua [dùng ở thể] nội động từ, nếu chúng ta định phiên dịch thành: “người kẻ đi qua” hay “kẻ ấy đi qua”, tôi nghĩ là chúng ta sẽ làm thay đổi sự chỉ nghĩa trung tính mà từ này muốn đem vào ngôn ngữ. Tương tự, như khi René Char gọi “ngôi sao của cái được gửi đi” hay “những lời đồn đăi của cái thù nghịch.” Thế nhưng cái trung tính là ǵ?[207]

Trở lại mục đích chính là minh giải từ “inconnu/không biết” trong câu văn của Char đă trích dẫn ở trên Comment vivre sans inconnu devant soi?” Blanchot cho rằng từ này thường trực có mặt, dù được viết ra hay không, trong ngôn ngữ của những bài thơ của René Char. Hiếm khi từ này được dùng một ḿnh mà thường được ghép với một từ khác thành một cụm từ chẳng hạn “l’inconnu équilibrant/cái không biết cân bằng”, “l’inconnu qui creuse/cái không biết [nó] đào sâu”. Blanchot đặt câu hỏi: tại sao lại có sự đ̣i hỏi phải có tương quan với cái không biết? Trước hết câu trả lời kết hợp hai vấn đề: Thứ nhất, [cái] không biết phát biểu bằng lời nói (verbalement) là một [cái] trung tính. Trung tính không thuộc về giống đực hay giống cái, đối nghịch với đực/cái, trung tính không có giống, là không-tổng quát (non-général), không giống loài (non-générique) như cái không-riêng (non-particulier). Nó từ chối thuộc về cả phạm trù đối tượng lẫn phạm trù chủ thể. Điều này không có nghĩa nó chưa được xác định và như thể không quyết định giữa hai giống mà có nghĩa nó đặt ra một tương quan khác, tương quan này không do những điều kiện khách quan hay những sự sắp xếp, thiên hướng chủ quan.

Blanchot cho rằng cái không biết luôn luôn được nghĩ tưởng ở trung tính. “Tư tưởng về trung tính là một mối đe dọa và một ś-căng-đan đối với tư tưởng.”[208] Blanchot viện dẫn quyển sách viết về Héraclite của Clémence Ramnoux [209] cho rằng một trong những đặc điểm đầu tiên của một trong những ngôn ngữ đầu tiên của tư tưởng Tây phương, ngôn ngữ của Héraclite, là nói trung tính ở số ít, chẳng hạn “L’un-la-chose-sage/Cái một-sự vật-minh trí”, “le non-à-espérer/cái không-để-hy vọng”, “le non-à-trouver/cái không-để-t́m kiếm”, “le non-à-aborder/cái không-để-cập tới”, “le commun/cái chung”. Đó không phải là những khái niệm (concepts) theo nghĩa của Aristote hay của Hegel, hay ư niệm (idée) theo nghĩa của Platon hay theo bất cứ nghĩa nào. Theo Blanchot, tiếng Pháp không có khả năng chuyển ngữ từ này. Vậy nên chúng ta lại đứng trước vấn đề t́m hiểu xem cái ǵ được đề nghị với chúng ta khi cái chưa biết chuyển sang trung tính. Hay nói khác đi, chúng ta cảm nhận rằng kinh nghiệm về trung tính được bao hàm trong mọi tương quan với cái không biết. Blanchot nận xét trong lịch sử triết học có một nỗ lực hoặc thích nghi hoặc thuần hóa cái “trung tính”, thay vào đó bằng luật tắc của cái vô ngă và sự trị v́ của cái phổ biến nhằm không chấp nhận cái trung tính khi mà cách xác nhận tính chất thượng đẳng đạo đức của cặp Tôi-Chủ thể vốn là khát vọng thần bí cái Duy nhất riêng biệt (l’aspiration mystique à l”Unique particulier). Cái trung tính không ngừng bị đẩy ra khỏi ngôn ngữ và những chân lư của chúng ta. Ngay cả Freud cũng dồn ép cái trung tính khi diễn giải  cái trung tính bằng những từ như xung lực (impulsion) hay bản năng (instinct). Blanchot phê b́nh Heidegger: “Triết lư của Heidegger có thể được hiểu như một đáp ứng cho sự tra hỏi về trung tính này và là nỗ lực để tiếp cận sự tra hỏi một cách phi khái niệm, nhưng ta cũng phải hiểu điều này như một một sự rút lui mới trước cái tư tưởng chỉ tỏ ra có thể đón nhận bằng cách thăng hoa nó.”[210] Trong chú thích cho đoạn này Blanchot cho rằng sự khác biệt hữu thể luận (différence ontologique) trong triết lư của Heidegger dường như kêu gọi tư tưởng và ngôn ngữ nh́n nhận trong Hữu (Sein) nền tảng dành cho cái trung tính, nghĩa là tư tưởng về cái trung tính (penser au neutre). Thế nhưng mối tương quan giữa Hữu và chân lư trong tư tưởng Heidegger lại không đưa đến việc truy t́m trung tính như ngầm hiểu trong cái không biết. Ở thời điểm viết bài này Blanchot cũng đă đọc quyển Critique de la Raison dialectique/Phê b́nh Lư trí biện chứng (1960) của J-P. Sartre và phê phán Sartre dù có lên án cái “practico-inerte”[211] trong biện chứng lịch sử (dialectique historique) nhưng lại bằng giọng điệu của những nhà thần học nói về cái ác tuy cũng thấy được đó không phải là một nhịp/khâu của biện chứng pháp (un moment de la dialectique) nhưng là một nhịp của kinh nghiệm có thể làm cho mọi biện chứng pháp thất bại. Tư tưởng của Sartre tuy tiến gần tới cái trung tính nhưng lại từ chối tư tưởng nó như trung tính.

Câu nói “Comment vivre sans inconnu devant soi?” này hiển nhiên là một thứ câu hỏi-khẳng định (question-affirmation) nhưng có cái ǵ đó làm chúng ta khựng lại, giữ chúng ta dưới sự nhắm tới của nó nhưng nó lại trốn mất nên chúng ta phải đi t́m nó. Qua câu nói này không thể nghi ngờ René Char khẳng định [có] cái không biết ở phía trước ta. Nhưng làm thế nào truy t́m được nó? Nếu không khám phá được th́ phải chăng chỉ có thể chỉ ra (indiquer)? Theo Blanchot, nói rằng cái không biết là cái trung tính, chẳng phải là đối tượng cũng không phải là chủ thể “Điều này có nghĩa tư tưởng cái không biết, chứ không hề đề nghị “cái vẫn chưa biết”, đối tượng của tất cả sự hiểu biết vẫn c̣n trong tương lai, nhưng càng không phải là vượt lên trên nó bằng cách cho nó là “tuyệt đối không thể biết được”, chủ thể của sự vượt lên thuần túy, từ chối mọi cách thế hiểu biết và biểu tả. Ngược lại, nếu cho rằng nó nằm trong sự t́m kiếm của thi ca và tư tưởng, trong chính không gian của chúng, th́ phải hiểu rằng việc nghiên cứu liên quan đến cái chưa biết phải coi nó như cái chưa biết. Nhưng nói “đặt tương quan” (relater) với cái chưa biết như cái chưa biết th́ đấy là một câu nói lưng chừng, chưng hửng. “Nói thế khác, chúng ta giả thiết một tương quan ở đó cái chưa biết sẽ được xác định, hiện lộ, tức là được trưng ra: khám phá ra– và dưới diện mạo nào? chính là ở cái diện mạo nó không được biết. Như vậy th́ cái chưa biết, trong tương quan này, sẽ được phơi mở trong cái để nó bị che lại. Có phải đó là một sự mâu thuẫn không? Thật thế. Để chịu đựng được sức nặng của mâu thuẫn này, chúng ta hăy thử nói cách khác đi. Việc t́m kiếm – thi ca, tư tưởng – có tương quan tới cái không biết như cái không biết. Tương quan này phơi lộ cái không biết, nhưng lại là một khám phá để cho nó bị che đậy; bằng tương quan này, có “sự hiện diện” của cái không biết; cái không biết, trong “sự có mặt” này, được làm cho có mặt, nhưng vẫn như không biết. Tương quan này phải để nguyên – không chạm tay vào – cái nó chuyên chở và không mở ra cái nó khám phá. Cái không biết sẽ không được mở ra, nhưng được chỉ ra.”[212]  Như chúng ta đă biết René Char cho rằng ḿnh làm “nghề chỉ ra/métier de pointe”, “bằng ngón tay trỏ bị rút móng” cho nên chúng ta không ngạc nhiên khi thấy Blanchot đă dựa vào ư này để diễn giải cái không biết trong câu nói của Char.

Không thể dùng nhận thức khách quan, nhận thức trực giác hay nhận thức do sự trộn lẫn thần bí (connaissance par fusion mystique) để t́m hiểu tương quan với cái không biết v́ đây là một tương quan hoàn toàn xa lạ với mọi đ̣i hỏi của nhất thể tính (identité) và của đơn tính (unité), nghĩa là của sự có mặt. Nói rằng t́m kiếm cái không biết không phải là một khám phá (découvert) chính xác có nghĩa cái không biết ở thể trung tính không thuộc về ánh sáng, nó thuộc về một “vùng” (une région) xa lạ với sự khám phá được hoàn thành trong và bằng ánh sáng. Tuy nhiên “Cái trung tính không dưới cái nh́n, nhưng cũng không lẩn trốn cái nh́n: không khả kiến, cũng chẳng phải bất khả kiến hay đúng ra là nó chạy khỏi mọi kiến và mọi bất kiến.”[213] Blanchot cho rằng đoạn văn trên dễ bị cho là vô nghĩa ngoại trừ trường hợp hiểu được nó có chủ đích là đặt vấn đề về định đề của toàn thể tư tưởng Tây phương. Định đề đó là: nhận thức về kiến-bất kiến (connaissance du visible-invisible) vốn cũng là nhận thức, ánh sáng và không có ánh sáng phải cung ứng mọi ẩn dụ do mối tương quan với những ẩn dụ này tư tưởng sẽ đi trước cái nó có ư suy tưởng, rằng chúng ta chỉ thể nhắm tới (viser) cái ǵ đến với chúng ta trong sự có mặt của soi sáng (éclairement), và mọi cái nh́n là nh́n toàn thể mà chúng ta luôn luôn phải đặt không chỉ sự lĩnh hội (compréhension) và nhận thức mà cả mọi h́nh thức tương quan trong một viễn tượng của toàn thể (perspective d’ensemble). Nhận thức này của Blanchot nhằm phản bác quan niệm về “soi sáng” Hữu của Heidegger.

Trong phần c̣n lại của bài viết Blanchot dùng cách hỏi-đáp để đi đến kết luận: Nói chính là nối kết với cái không biết chẳng bằng mối liên hệ nào cả.

-          Hỏi: Nếu như cái không biết không phải là nh́n thấy được (visible) cũng không là không nh́n thấy được (invisible) th́ chúng ta có thể có với nó mối tương quan nào để cho nó chỉ ra mối tương quan chúng ta đă giả thiết là đối tượng tranh luận trong chính thi ca? (en jeu dans la poésie même?)

-          Đáp: Đúng thế, nhưng là tương quan nào? Đó là mối tương quan ít ngoại lệ nhất (le moins exceptionel rapport), tức là mối tương quan mà thi ca có nhiệm vụ phải mang vác v́ thi ca là lời nói đơn giản nhất và nói có nghĩa là nói trong mối tương quan ở đó cái không biết tự nó chỉ ra trong một tương quan khác với tương quan hoàn tất trong sự soi sáng.

-          Hỏi: Vậy sẽ là trong lời nói như một khoảng đoạn thời gian cái không biết như cái không biết sẽ tự chỉ ra với chúng ta như thể nó là kẻ xa lạ, tách biệt?

-          Đáp: Đúng thế, nhưng chỉ khi lời nói luôn luôn đáp ứng cái không gian riêng của nó. Cái không biết loại bỏ mọi viễn tượng, nó không đứng ở trong tầm nh́n, nó không là thành phần của một toàn thể. Theo nghĩa đó nó cũng loại trừ chiều kích của “cái tiến tới”. Cái không biết trong tương lai mà chúng ta có thể có mối tương quan hướng về tương lai (relation prospective) không phải là cái không biết chúng ta nói tới như cái không biết, ngược lại làm thất bại và phá hủy mọi hy vọng về một tương lai.

-          Hỏi: Vậy th́ người ta có phải nói rằng có ư định kinh nghiệm về cái không biết phải chăng là triệt để đặt ḿnh vào chứng cớ của cái phủ nhận (le négatif) hay sự vắng mặt triệt để?

-          Đáp: Không, không thể nói vậy. Cái không biết trong tư tưởng về trung tính thoát khỏi sự phủ nhận cũng như xác định vị trí. Không phủ nhận, cũng không xác nhận, không thêm hay bớt cái xác định nó. Cái không biết không t́m thấy ở phủ hay xác nhận sự qui định nó, nhưng chỉ t́m thấy được trong mối tương quan không mở ra hay khép lại ánh sáng. Đó là một tương quan trung tính. Có nghĩa là khi tư tưởng hay nói dưới dạng trung tính tức là tư tưởng hay nói tách rời hẳn mọi kiến hay bất kiến, nghĩa là theo những hạn từ (termes) không rút ra từ khả hữu tính. H́nh thức thôi thúc tra vấn của câu nói Comment vivre sans inconnu devant soi?”của René Char do từ: thứ nhất, sống thiết yếu đi trước bản ngă và thứ nh́, sống “một cách chính đáng” (vivre authentiquement), “một cách thi ca”(vivre poétiquement), đó chính là có tương quan với cái không biết như không biết và như đặt ở trung tâm đời sống của nó cái đó-không biết (celà-inconnu) không để cho sống ở phía trước bản thân, và ngoài ra c̣n kéo mọi trung tâm về đời sống.

-          Hỏi: Chắc chắn rồi, cái “không biết” mà René Char nói tới chẳng phải là cái không biết đơn giản của tương lai: cái đấy luôn luôn đă được cho chúng ta rồi, và nó không phải là một cái “c̣n chưa được biết”. Mọi đời sống cá nhân, ngay cả trong một thế giới hoàn toàn tầm thường, đều có cái tương lai ấy.

-          Đáp: Cái không biết mà thi ca thức tỉnh chúng ta thật không thể thấy trước hơn hẳn tương lai có thể thấy, ngay cả cái “tương lai không nói trước (l’avenir non prédit) bởi cũng như cái chết nó không để cho bị nắm bắt.

-          Hỏi: Ngoại trừ đối với sự nắm bắt đó là lời nói.

-          Đáp: Ngoại trừ đối với lời nói, nhưng chỉ khi lời nói này không phải là sự nắm bắt. Đó là điều thiết yếu. “Nói cái không biết, đón nhận nó trong lời nói nhưng vẫn để nó là không biết, đó chính là không nắm bắt nó, không gộp-nắm, chính là từ chối nhận diện nó, dù cho bằng cách nắm lấy “khách quan”, là cái nh́n này, cái nh́n nắm bắt lấy, dù cho ở xa. Sống với cái không biết phía trước ḿnh (cũng có nghĩa: sống phía trước cái không biết và phía trước ḿnh như không biết), đó chính là đi vào trong cái trách nhiệm của lời nói cất tiếng mà không đặt một h́nh thức quyền lực nào lên, ngay cả cái quyền lực hoàn thành khi chúng ta nh́n, bởi v́, khi nh́n, chúng ta giữ vững duới đường chân trời và trong phạm vi của cái nh́n – trong kích thước của cái kiến-bất kiến – cái kia và cái này đứng trước chúng ta. Nay hăy nhớ lại lời khẳng định đă cũ của René Char, lời khẳng định sẽ giải tỏa điều chúng ta vừa thử cố nói ra: “Một hữu mà người ta phớt lờ là một hữu vô tận, có khả năng, khi can thiệp vào, làm thay đổi sự xao xuyến và gánh nặng của chúng ta thành b́nh minh huyết mạch.” Cái không biết như không biết là cái vô tận này, và lời nó nói ra là lời nói của sự vô tận.”[214]

-          Hỏi: Vậy chính theo nghĩa này chúng ta sẽ được phép nói: cất lời, chính là nối kết với cái không biết mà không bằng dây buộc.

Đáp:
Nói, Viết.

Dù chỉ coi đây là sự mở đầu của những suy nghĩ và Blanchot cho rằng ḿnh không có ư định đề nghị một b́nh giải về René Char nhưng cho rằng đây là khởi đầu một con đường cho đến nay đă bị bỏ quên để thử tiếp cận một phần tác phẩm của René Char. Một phần thôi nhưng có thể nó lớn dần v́ điều được viết ra tuy vẫn c̣n ở ngoài lề không chỉ nằm ngoài lề. “Từ đó – ít ra, dường như đối với tôi – là sự thiếu hiểu biết và một thứ bạo động ở “vào thời điểm nhá nhem này” mà một số nhà phê b́nh trang bị để chống lại tác phẩm này với chủ ư làm tê liệt nó, gán cho nó những giới hạn và thu giảm nó vào cái mẫu mực bất động của họ. “Tôi sẽ nói và tôi biết nói nghĩa là ǵ, nhưng tiếng vang thù nghịch nào ngắt lời tôi?”
[215] Một cách gián tiếp đây là lời phản bác những người úy kỵ phê b́nh Char của Blanchot như đă nói ở bài trước.

Trong L’Entretien infini ngay sau bài
René Char et la pensée du neutre Blanchot sau khi “Mở ngoặc?Parenthèses) nói về Trung tính quay trở lại nói về lời đoạn rời trong thơ René Char (Xem Thi sĩ/Thi ca 47, Gio-o.com). Đọc Poème pulvérisé Blanchot nhận định: “viết, đọc bài thơ này chính là chấp nhận vín sự am hiểu của ngôn ngữ xuống thấp tới một kinh nghiệm phân mảnh nào đó, nghĩa là của sự tách rời và của không liên tục. Hăy nghĩ tới việc thay đổi xứ sở. Thay đổi xứ  sở không chỉ có nghĩa sự mất đi xứ sở, nhưng là một cách thế ở nhà chính thực hơn, cư ngụ không như thói quen; lưu đầy, đó chính là sự xác định về một tương quan mới với Cơi Ngoài. Cũng vậy, bài thơ đoạn rời không phải là một bài thơ chưa hoàn tất, nhưng mở ra một sự hoàn tất theo cách khác, hay trong một cách xác nhận không thể thu giảm vào nhất tính.”[216]

Tư tưởng vềTrung tính nằm ở trung tâm tác phẩm của Blanchot. Một cách tóm lược, Trung tính đến với ngôn ngữ bằng ngôn ngữ, tuy là cái không biểu tả được (l’indicible) và nó được đón nhận và ǵn giữ trong không gian văn chương (l’espace littéraire).Vào cuối đời Roland Barthes rất ngưỡng mộ tư tưởng về Trung tính của Blanchot nên đă dành trọn một giáo tŕnh ở Collège de France cho đề tài này.
[217].

___________________________________

[206] Maurice Blanchot, L’Entretien infini/Kết Đàm Bất Tận trang 439-450.
[207] Sđd trang 439: Quand René Char écrit “le passant” – et même quand il ne l’écrit pas, nous sentons souvent que ce mot l’habite – “passant raviné”, passant intransitif, si nous nous contentions de traduire: “l’homme qui passe” ou “celui qui passe”, je crois que nous altérerions la désignation neutre que ce mot voudrait porter au langage. De même, quand René Char nomme “l’étoile du destiné” ou “les rumeurs de l’hostile”. Mais qu’est-ce que le neutre?
[208] Sđd trang 440: La pensée du neutre est un menace et un scandal pour la pensée.
[209] Clémence Ramnoux, Héraclite ou l’homme entre les mots et les choses, nxb Belles Lettres 1959.
[210] Maurice Blanchot, L’Entretien infini trang 441: La philosophie heideggerienne pourrait être entendu comme une réponse à cette interrogation du neutre et une tentative pour s’en approcher d’une manière non-conceptuelle, mais il faut l’entendre aussi comme un nouveau retrait devant ce que la pensée ne para
ît pouvoir accueillir qu’en le sublimant.
[211] Jean-Paul Sartre, Critique de la Raison dialectique I, nxb Gallimard/ Livre I De la “Praxis” individelle au pratico-inerte, trang 193-446. Tính từ “practico-inerte” do Sartre ghép “Praxis” với “Inertie” là hai phần tử đối nghịch nhau trong chuyển vận biện chứng lịch sử. Chúng tôi để nguyên từ này không dịch ra tiếng Việt.
[212] Maurice Blanchot, L’Entretien infini trang 442: Autrement dit, nous supposons une relation où l’inconnu serait affirmé, manifesté, voir exhibé: découvert – et sous quel aspect? Précisément en cela qui le retient inconnu. L’inconnu, dans ce rapport, se découvrait donc en cela qui le laisse couvert. C’est une contradiction? En effet. Pour bien porter le poids de cette contradiction, essayons de la formuler autrement. La recherche – la poésie, la pensée – se rapporte à l’inconnu comme inconnu. Ce rapport découvre l’inconnu, mais d’une découvert qui le laisse à couvert; par ce rapport, il y a “présence” de l’inconnu; l’inconnu, en cette “présence”, est rendu présent, mais toujours comme l’inconnu. Ce rapport doit laisser intact – non touché – ce qu’il porte et non dévoilé ce qu’il découvre. Ce ne sera pas un rapport de dévoilement. L’inconnu ne sera pas révélé, mais indiqué.
[213] Sđd trang 443: L’inconnu ne tombe pas sous le regard, sans être cependant caché au regard: ni visible, ni invisible ou plus justement se détournant de tout visible et de tout invisible.
[214]  Sđd trang 445: Parler l’inconnu, l’acceuillir dans la parole en le laissant inconnu, c’est précisément ne pas le prendre, ne pas le com-prendre [Blanchot chơi chữ khi tách từ “comprendre=hiểu” thành com-prendre=nắm cùng, ĐTĐ chú], c’est se refuser à l’identifier, f
ût-ce par cette saisie “objective” qu’est la vue, laquelle saisit, quoique à distance. Vivre avec l’inconnu devant soi (ce qui veut dire aussi: vivre devant l’inconnu et devant soi comme inconnu), c’est entrer dans cette resposabilité de la parole qui parle sans exercer aucune forme de pouvoir, même ce pouvoir qui s’accomplit lorsque nous regardons, puisque, regardant, nous maintenons sous notre horizon et dans notre cercle de vue – dans la dimension du visible-invisible – cela et celui  qui se tient devant nous. Rappelons-nous à présent l’affirmation déjà ancienne de René Char, affirmation qui va délivrer tout ce que nous venons d’essayer de dire: “Un être qu’on ignore est un être infini, susceptible, en intervenant, de changer notre angoisse et notre fardeau en aurore artérielle.” L’inconnu comme inconnu est cet infini, et la parole qui le parle est parole infini.
[215] Sđd trang 445-446: De là – du moins, il me semble – la méconnaissance et l’espèce de violence par lesquelles, “à cette heure de tombée”, certains critiques cherchent à se prémunir contre cette
œuvre en prétendant l’immobiliser, lui assigner des limites et la réduire à leur tranquille mesure. “Je vais parler et je sais dire, mais quel echo hostile qui m’interrompt?
[216] Sđd trang 452: Poème pulvérisé: écrire, lire ce poème, c’est accepter de ployer l’entente du langage à une certaine expérience morcellaire, c’est-à-dire de séparation de de discontinuité. Pensons au dépaysement. Le dépaysement ne signifie pas seulement la perte du pays, mais une manière plus authentique de résider, d’habiter sans habitude; l’exil, c’est l’affirmation d’une nouvelle relation avec le Dehors. Ainsi, le poème fragmenté est un poème non pas inaccompli, mais ouvrant un autre mode d’accomplissement ou dans quelque affirmation irréductible à l’unité.
[217] Roland Barthes, Le Neutre, Cours au Collège de France (1977-1978) Seuil Imec 2002.

(c̣n tiếp)

đào trung đạo

http://www.gio-o.com/DaoTrungDao.html 

© gio-o.com 2017