đào trung đạo

thi sĩ / thi ca

(32)

 

                       Kỳ 1, Kỳ 2, Kỳ 3, Kỳ 4, Kỳ 5, Kỳ 6, Kỳ 7, Kỳ 8, Kỳ 9, Kỳ 10, Kỳ 11, Kỳ 12, Kỳ 13, Kỳ 14, Kỳ 15, Kỳ 16, Kỳ 17, Kỳ 18, Kỳ 19, Kỳ 20, Kỳ 21, Kỳ 22, Kỳ 23, Kỳ 24, Kỳ 25, Kỳ 26, Kỳ 27, Kỳ 28, Kỳ 29, Kỳ 30, Kỳ 31, Kỳ 32,

 

HANS-JOST FREY : LIêN BảN VăN TRONG THI CA CELAN.

 

    Trước hết cần nói rơ: từ liên bản văn (intertextuality) ở đây chỉ dùng cho chuyển vận liên thông giữa những bản văn của Celan mà thôi. Để chứng minh trong thi ca Celan có tính chất liên bản văn Hans-Jost Frey đưa ra hai bài thơ của Celan làm thí dụ:

     

                               ZWÖLF JAHRE

                              

                               Die wahr-

                               gebliebene, wahr-

                               geworden Zeile…dein

                               Haus in Paris – zur

                               Opferstatt deiner Hände.

 

                               Dreimal durchatmet.

                               dreimal durchglänzt.

                              

                               ……………………

                              

                               Es wir stumm, es wird taub

                               hinter den Augen.

                               Ich sehe das Gift blühn.

                               In jederlei Wort und Gestalt.

 

                               Geh. Komm.

                               Die Liebe löscht ihren Namem: sie

                               Schreibt sich dir zu. [190]                                                   

                                                                   (Trong tập Niemandsrose, 1963)

                              

                               MƯỜI HAI NĂM

 

                               Đường vạch vẫn

                               có thật, đă trở thành

                               có thật:…của ngươi

                               ngôi nhà ở Paris – thành

                               bàn thờ nơi ngươi hy sinh hai bàn tay ngươi.

 

                               Ba lần hơi thở xuyên qua

                               ba lần ánh lóe xuyên qua.

 

                               ………………..

 

                               Câm và điếc dựng đứng

                               đằng sau mắt.

                               Ta thấy độc dược nở hoa.

                               Trong hết thảy lời và h́nh.

 

                               Đi. Tới.

                               T́nh yêu tự xóa bỏ tên của nó: tự

                               ghi tặng cho ngươi.

 

                               AUF REISEN

 

      Es ist Stunde, die macht dir den Staub zum Gefolge

      dein Haar möchte when, wenn du fährst – das ihm verboten

      die bleiben und winken, wissen es nicht.

 

      Es ist ein Gehöft, da halt ein Gespann für dein Herz.

      Dein Haar möchte when, wenn du fährst – das ist ihm verboten.

      Die bleiben und winken, wissen es nicht. [191]

                                                       (Trong tập Mohn und Gedächtnis, 1952)

 

                                          DU HÀNH

     

      Chỉ một giờ thôi là bụi hộ tống ngươi

      Ngôi nhà của ngươi ở Paris biến thành bàn thờ hai bàn tay ngươi,

      Con mắt đen của ngươi thành con mắt đen nhất.

 

      Đó là một trang trại, một bày ngựa chờ đón trái tim ngươi.

      Tóc ngươi sẽ tung bay trước gió khi ngươi lái xe – đó là điều

                                                                                           cấm kỵ.

      Những người đứng lại và vẫy tay không biết điều này.

      

 

   Khởi dẫn cho bài viết Hans-Jost Frey [H-J F] nói về việc Celan sử dụng cách tách rời hai khổ bài “Zwölf Jahre” bằng một ḍng dấu (………..) và người đọc bài thơ có thể đọc lướt qua không mấy chú ư điểm này. Gịng những chấm không liền chặt như một gịng kẻ nhưng cũng không phải là một khoảng trắng tách rời hai đoạn văn nên không thể lướt qua. Nó làm mắt nh́n ngưng lại dù cho có thể nh́n xuyên qua. Thế nên gịng dấu chấm này khuyến khích việc đi từ khổ thơ thứ nhất sang khổ thơ thứ nh́, từ kết thúc khổ 1 và từ bắt đầu khổ 2 có thể xảy ra ở giữa bài thơ rất quen thuộc đối với bất kỳ những chuỗi chuyển nghĩa nào. “Thế nhưng ở đây, sự bặt lặng và sự tiếp tục của lời nói không chỉ xảy ra, nhưng được đánh dấu nh́n thấy được bằng những cái chấm. Những cái chấm nói lên việc thiếu thốn ngôn ngữ. Chúng là chỉ dấu cho sự kiện rằng ở đây lời nói vừa được chấm dứt vừa chưa được bắt đầu. Những dấu chấm có ư nghĩa. Nhờ chúng mà khoảng không gian không đơn giản chỉ một ra dấu cho người đọc, nhưng đúng ra là việc nêu vấn đề về việc sa vào sự im lặng, cái kết thúc được viết ra của lời, nhưng cũng là đánh dấu của sự im lặng đi trước nó.”[191]        Phải chăng bài thơ mở đầu và kết thúc bằng sự im lặng? Nhận định đơn giản về sự thống nhất của bài thơ này bị những dấu chấm xé rách v́ khời đấu và kết thúc của bài thơ bị mang vào khúc giữa, tạo nên sự đảo nghịch tất cả mọi liên hệ, nghĩa là bắt đầu nằm ở khổ 2 và kết thúc ở khổ 1. Như vậy khởi đầu không phải là khởi đầu và kết thúc không phải là kết thúc dù rằng khổ 2 bắt đầu từ sự im lặng của khoảng giữa trống không của bài thơ nhưng nó vẫn tiếp theo khổ 1 bị rơi vào im lặng. Thế nên khi khổ 1 kết thúc nó chưa đạt tới kết thúc này và thay vào đó lại là sự bắt đầu của khổ 2. Nghĩa là có một cái ǵ đó có trước việc bắt đầu và theo sau việc kết thúc. Theo H-JF th́ sự im lặng bao quanh một bài thơ luôn luôn chỉ là một sự ngắt quăng. Bắt đầu của một bài thơ luôn luôn đi theo một kết thúc cũng như sự bắt đầu đi theo kết thúc của nó. “Thế nên mối tương quan giữa hai phần của bài “Zwölf Jahre” cùng lúc là dung tượng của mối tương quan của mọi bài thơ với cái xảy ra trước và sau. Gịng trống trong bài thơ thay mặt cho mối tương quan liên bản văn. Bài thơ này nói về tính chất liên bản văn.”[192]

 

    Rơ ràng là ngay từ mở đầu bài thơ “Zwölf Jahre” qui chiếu về một cái ǵ đó có trước nó và câu cuối bài thơ chỉ hướng về một cái ǵ đó bên ngoài chính nó. Qua trích dẫn “dein/Haus in Paris – zur/Opferstatt deiner Hände” trong khổ đầu bài thơ nói tới cho thấy bài thơ qui chiếu về cái có trước khởi đầu của nó, nghĩa là trích dẫn này đưa vào bài thơ cái có trước nó. Tương tự như thế ở câu cuối bài thơ từ Du t́nh yêu hướng tới chính nó (sich zuschreibt) dự báo cái ǵ sẽ đến sau nó. Nếu coi bài thơ “Auf Reisen” là tiền-bản-văn (pre-text) và bài “Zwölf Jahre” là hậu-bản-văn (post-text), hai bản văn này có mối tương quan liên bản văn v́ hai tiền-hậu bản văn cũng là thành phần của bản văn. “Một bài thơ không bị cô lập: nó là một trích đoạn từ một bản văn không có mở đầu hay kết thúc. Nó bắt nguồn từ một bản văn và được chỉ dẫn tới một bản văn khác. Tính chất trích đoạn này của bài thơ, điều này trở thành thấy rơ trong gịng trống rỗng được nhấn mạnh, được biểu trưng một lần thứ nh́ trong trích dẫn, trích dẫn này được tách ra làm hai bởi dấu gạch ngang (–) không có trong nguyên bản. Thế nhưng, trích dẫn không chỉ đơn giản lập lại cấu trúc của cả bài thơ, nhưng nó cũng biểu trưng cho tính chất trích dẫn của bài thơ bằng một gịng được đem ra khỏi văn cảnh của nó và được cho ra mà không có cái ǵ đi trước và sau nó cả.”[193]

 

Nếu coi bài thơ như một bản văn có nhiều phần th́ những phần này có liên hệ bên trong, nội liên bản văn (intratextual relationship) với nhau, và nếu xét mối liên hệ bản văn (intertextual relationship) của bản văn (một bài thơ) với bản văn khác (một bài thơ khác) không có sự khác biệt căn bản nào th́ liên bản văn hóa thành nội liên bản văn. Thế nhưng, điều không thể không xảy ra là: những đường biên/bờ (borders) được thành lập như thế nào? V́ những bản văn không chỉ bắt đầu và kết thúc nhưng đúng ra chúng bị ngắt ĺa (interrupted) và chính sự ngắt ĺa này không những làm cho việc bắt đầu khả hữu mà c̣n – như một tạm ngưng gịng chảy lời nói (pause in the flow of speech) – cho phép việc kết tinh (crystallization) dạng thức của bản văn. Bằng không, chẳng hạn, sẽ không có sự trích dẫn (citation) tức là sự lập lại một bản văn ở một bản văn khác. Và sự lập lại này nhất thiết trước đó phải có sự ngắt ĺa v́ một cái ǵ đó được lặp lại th́ cái đó ắt phải đă kết thúc theo một cách nào đó. Khi lặp lại người ta quay trở lại một bắt đầu trước đó, lập cây cầu nối liền một khoảng trống như bài “Zwölf Jahre” đă ám chỉ tới trong cái tựa đề không chỉ trong trích dẫn trích dẫn mà c̣n ám chỉ tới mọi liên bản văn như cầu nối trên một ngưng ngắt v́ vậy là sự sản xuất một bản văn mới, hoàn thiện hơn. H-J F nhận thấy trong bài “Zwölf Jahre” việc vượt bỏ sự ngắt ĺa không chỉ được bày ra trong đường đi của bản văn qua gịng những dấu chấm nhưng cũng c̣n được luận bàn về cái ǵ đă xảy ra đối với gịng trích dẫn: “wahr-/geblieben, wahr-/geworden”. “Thế nhưng, hai biểu lộ của sự ngắt ĺa này và việc lập cầu nối đứng trong một mối tương quan khó khăn với nhau. Mặc dù lời phát biểu tự lập nên trong con đường biểu lộ của nó, để cho diễn ngôn và lời phát biểu chỉ cùng là một chuyển vận duy nhất, nhưng chúng lại mâu thuẫn nhau.  Việc khởi sự và ngưng lại, việc lời nói chiếm chỗ, chống đối lại điều nó nói. Khổ đầu của bài thơ bặt tiếng trong gịng bỏ trống và do vậy tiến diễn theo một cách như thể nó đă làm ngược lại điều nó nói. Bởi trong khổ này một bài thơ trước đó được hồi sinh, điều này trong chừng mực bài thơ trước vẫn c̣n đó và trở thành đúng thực, th́ chính ra lại đă không bặt tiếng. Khổ 2 của bài thơ, nh́n từ điểm nh́n của khúc giữa trống không, là một khởi đầu mới của lời. Vậy mà ở chính ngay điểm nơi sự im lặng làm công việc di chuyển lại vào lời, bài thơ lại nói về sự bặt tiếng. Trong cả hai lần xảy ra có sự căng thẳng giữa cái ǵ xảy ra và cái được nói ra. Bài thơ diễn tiến theo một cách nó đồng thời vừa nói vừa phi bác điều nó nói.”[194] Trong bài “Zwölf Jahre” việc vượt qua sự ngắt ĺa không chỉ được tŕnh ra trong gịng chảy của bản văn bằng gịng bỏ trống mà cũng c̣n được thảo luận về đoạn trích dẫn, điều ǵ đă xảy ra cho sự việc trong gịng trích dẫn này “wahr-/ geblieben, wahr-/geworden” nhưng hai vị trí của phần mở đầu và trích đoạn lại ở vị trí mâu thuẫn, đối nghịch nhau.

 

   Giải thích tính chất mâu thuẫn được biểu lộ một cách chính xác ở câu “Geh. Komm,” nảy H-JF cho rằng tính chất mâu thuẫn cũng có thể được diễn giải một cách khác. Nếu ta xét tính chất mâu thuẫn này từ viễn tượng của chuyển vận bản văn th́ thấy khổ 1 tiến về phía trước, buớc từng bước theo từng từ. Thế nhưng diễn tiến bản văn này lại bị tích lũy, và sự tích lũy này là điều kiện cần (precondition) cho cái tiếp theo sau, nên ta có thể nói bài thơ quay giật lùi tuy rằng nó tiến tới. Nghĩa là bản văn không chỉ đi theo đường thẳng mà tự biến đổi một cách hồi cố từ chỗ nó kết thúc. Xét về việc sắp đặt các khổ thơ th́ khổ 1 chỉ về khổ 2 và khổ 2 lại chỉ ngược về khổ 1. “Đó là sự đảo ngược của cái ǵ xảy ra trên cấp độ chỉ nghĩa. Ở đây khổ 1 qui chiếu ngược về một bản văn trước đó được trích dẫn, trong khi khổ 2 chỉ về phía trước ra bên ngoài chính nó. Thêm một lần nữa lời phát biểu và sự sắp xếp bản văn đi ngược chiều nhau. Chính bản văn hầu như cho thấy rơ điều này. Nói một cách tổng quát, vấn đề quan ngại là về mối tương quan giữa hai phần của bài thơ. Bởi xét ở cấp độ của lời phát biểu th́ khổ đầu giật lùi về phía sau và khổ 2 tiến về trước, gịng trống không ở giữa trở thành một khoảng trống há hốc hai khổ thơ cố tách khỏi nhau từ đó. Nếu như đó chỉ để đứng vững trên cấp độ của sự xác định, th́ ắt phải có thể chỉ ra trong chừng mực nào hai khổ của bài thơ không những chỉ đứng rời nhau nhưng lại cũng được nối liền với nhau, hay, chính xác hơn, trong chừng mực nào khổ 1 không những hướng phía sau tới bài thơ được trích dẫn trong khổ này, nhưng cũng hướng về phía trước đến khổ 2, và trong chừng mực nào khổ 2 không chỉ được hướng về phía người nó nói với (Du), nhưng cũng c̣n phản chiếu về khổ 1.”[195]

  

   

_____________________________________

 

 

[189] Hans-Jost Frey, Intertextuality in Celan’s Poetry . “Zwölf Jahre” and “Auf Reisen” (nguyên tác tiếng Đức Zwischentextlichkeit von Celan Gedicht: “Zwölf Jahre” und “Auf Reisen” đăng trên Der unendliche Text (Frankfort: Suhkamp, 1990.) Bản dịch Anh văn của Georgia Albert với sự cộng tác của tác giả in trong WORD TRACES trang 280-294.

 

[190]  Bản Anh văn của Michael Hamberger:

 

                                          TWELVE YEARS

 

                                          The line

                                          that remained, that

                                          became true:…your

                                          house in Paris – become

                                          the altarpiece of your hands.

 

                                          Breathed through thrice

                                          Shone through thrice.

 

                                          ………………….

 

                                          It’s turning dumb, turning deaf

                                          behind our eyes.

                                          I see the poison flower.

                                          In all manner of words and shapes.

 

                                          Go. Come.

                                          Love blots out its name: to

                                          you it ascribe itself.

                                                                                          (Poems of Paul Celan, trang 143.)

                              

                              

    Bản Pháp văn của Marine Broda:

 

                                          DOUZE ANS

 

                               La ligne restée

                                          vraie, devenue

                                          vraie:…ta

                                          maison à Paris – en

                                          autel où tu sacrifies tes mains.

 

                                          Trois fois traversé de souffle,

                                          trios fois traversé d’éclat.

 

                                          ………………….

 

                                          Mutisme et surdité s’installent

                                          derrière les yeux.

                                          Je vois le poison fleurir.

                                          En toute sorte de paroles et de forms.

 

                                          Va. Viens.

                                          L’amour efface son nom: il

                                          se dédie à toi.

                                                       (Paul Celan, La rose de personne trang 27.)

 

[191]  Bản Pháp văn của Jean-Pierre Lefebvre:

 

                                          EN VOYAGE

 

                                          Il est une heure qui fait de la poussière un cortège à ta suite,

                                          de la maison de Paris la table de sacrifice de tes mains,

                                          de ton œil noire l’œil le plus noire qui soit.

 

                                          Il est une ferme, un attelage s’y arête pour ton cœur.

                                          Tes cheveux voudraient flotter au vent quand tu roules – ça

                                                                                                                    leur est interdit.

                                          Ceux qui restent et font signe ne le savent pas.

                                                                                          (Paul Celan, Choix de poèmes,trang 59)

                         

          Bản Anh văn của John Felstiner:

 

                                          ON A JOURNEY

 

                               It is an hour that makes the dust your escort,

                                          your house in Paris an altar for your hands,

                                          your black eyes the blackest of eyes.

 

                                          It is a farm, a team of horses waits for your heart.

                                          Your hair would blow when you ride – that’s forbidden.

                                          They stay there and wave, and know it not.

                                                               (Selected Poems and Prose of Paul Celan trang 35)

 

[191]  Hans-Jost Frey, Intertextuality in Celan’s Poetry , trang 282: Here, however, the falling silent and the resumption of speech do not simply happen, but are made visible by the dots. The dots say the lack of language. They are the sign of the fact that here speech has both ceased and not yet begun. The dots means. Thanks to them the space is not simply a speaking cue for the reader, but rather the thematization of the lapse into silence, the written end of speech, but also the marking of the silence that precedes it.

 

[192] Sđd trang 282: Thus the relationship between the two parts of “Zwölf Jahre” is at the same time the representation of every poem’s relation to what comes before and after it. The empty line within the poem stands for the intertextual relationship. This poem is about intertextuality.

 

[193] Sđd trang 282-283: A poem is not isolated: it is an excerpt from a text without beginning or end. It derives from a text and is directed toward another text. This excerpt-character of the poem, which becomes visible in the punctuated empty line, is represented a second time in the citation, which is split into two halves by a dash absent in the original. The citation, however, does not simply repeat the structure of the whole poem, but also represents the poem’s except-character by being a line taken out of its context and given without what comes before and after it.

 

[194] Sđd trang 283: But these two manifestations of the interruption and its bridging stand in a difficult relation to one another. Although the statement constitutes itself in the course of its expression, so that discourse and statement are a single movement, they contradict one another. The initiation and suspension, the taking place of speech, opposes what it says. The first part of the poem falls silent in the empty line and therefore proceeds in such a way that it does the opposite of what it says. For in an earlier poem it is resurrected which, insofar as it has remained and become true, has precisely not fallen silent. The second part of the poem, seen from the point of view of the empty middle, is the new beginning of speech. Yet at the very point where silence makes the transition back into speech, the poem speaks about falling silent. On both occasions there is tension between what happens and what is said. The poem proceeds in such a way that it simultaneously disproves what it says.

 

[195] Sđd trang 284: This is the reversal of what happens on the semantic level. Here the first part refers back to an earlier text which is quoted, while the second part points forward beyond itself. Once again the statement and the arrangement of the text run counter to one another. The text itself shows this quite clearly. Put in a general manner, the question concerns the relationship between the two halves of the poem. Since on the level of the statement the first part points backwards and the second part forward, the empty line in the middle becomes a gaping void out of which the two halves strive to pull away from one another. If this is not merely to remain on the level of assertion, it must be possible to show to what extent the two sections of the poem are not only separate but also connected, or, more precisely, to what extent the first part points not only backwards to the poem quoted in it, but olso forward to the second part, and to what extent the second part is not only turned toward the addressee (Du), but also reflects on the first.

 

(c̣n tiếp)

đào trung đạo

 

http://www.gio-o.com/DaoTrungDao.html

 

 

© gio-o.com 2016