đào trung đạo

(110)

 

Kỳ 1, Kỳ 2, Kỳ 3, Kỳ 4, Kỳ 5, Kỳ 6, Kỳ 7, Kỳ 8, Kỳ 9, Kỳ 10, Kỳ 11, Kỳ 12, Kỳ 13, Kỳ 14, Kỳ 15, Kỳ 16, Kỳ 17, Kỳ 18, Kỳ 19, Kỳ 20, Kỳ 21, Kỳ 22, Kỳ 23, Kỳ 24, Kỳ 25, Kỳ 26, Kỳ 27, Kỳ 28, Kỳ 29, Kỳ 30, Kỳ 31, Kỳ 32, Kỳ 33, Kỳ 34, Kỳ 35, Kỳ 36, Kỳ 37, Kỳ 38, Kỳ 39, Kỳ 40, Kỳ 41, Kỳ 42, Kỳ 43, Kỳ 44, Kỳ 45, Kỳ 46, Kỳ 47, Kỳ 48, Kỳ 49, Kỳ 50, Kỳ 51, Kỳ 52, Kỳ 53, Kỳ 54, Kỳ 55, Kỳ 56, Kỳ 57, Kỳ 58, Kỳ 59, Kỳ 60, Kỳ 61, Kỳ 62, Kỳ 63, Kỳ 64, Kỳ 65, Kỳ 66, Kỳ 67, Kỳ 68, Kỳ 68,Kỳ 66, Kỳ 69, Kỳ 70, Kỳ 71, Kỳ 72, Kỳ 73, Kỳ 74, Kỳ 75, Kỳ 76, Kỳ 77, Kỳ 78, Kỳ 79, Kỳ 80, Kỳ 81, Kỳ 82, Kỳ 83, Kỳ 84, Kỳ 85, Kỳ 86, Kỳ 87, Kỳ 88, Kỳ 89, Kỳ 90, Kỳ 91, Kỳ 92, Kỳ 93, Kỳ 94, Kỳ 95, Kỳ 96, Kỳ 97, Kỳ 98, Kỳ 99, Kỳ 100, Kỳ 101, Kỳ 102, Kỳ 103, Kỳ 104, Kỳ 105, Kỳ 106, Kỳ 107, Kỳ 108, Kỳ 109, Kỳ 110,

GIUSEPPE UNGARETTI

Chương III

  Ungaretti bát thập [49]

Dưới đây là bài dịch cuộc phỏng vấn Ungaretti do Piero Sanavio thực hiện ở Rome ngày 2 tháng 5 nhân dịp Ungaretti tám mươi tuổi.

Tại nhà Ungaretti: ở tầng ba một căn hộ rất hiện đại, ở EUR, khu nhà quá hiện đại của Rome. Trong phòng làm việc của Sư phụ. Ungaretti ngồi trên một ghế sofa, trên chiếc đầu hói ông ta đội một cái mũ nồi nhỏ màu xanh (nhưng hôm nay, tại sao ở trong nhà mà ông vẫn cứ đội mũ?); phần tôi, ngồi đối diện cửa sổ. Giữa chúng tôi là một cái bàn lớn đầy sách và giấy tờ là nơi, thật vậy, không có một phân vuông trống nào. Ungaretti đã gù lắm rồi. Nhưng ông ấy đã như thế kể từ khi tôi biết ông: ông đã gù khi tôi gặp ông lần đầu năm 1946 hay 1947, nhân một buổi đọc thơ ở Đại Học Padoue. Hồi đó tôi gần như một đứa nhóc con.

Ông có một khuôn mặt rất linh hoạt. Khi ông ấy nói, hai bàn tay ông ta cử động, mắt ông mở ra – giống như cặp mắt của một cái mặt nạ Nhật, nhưng xanh biếc không thể tưởng được – mở rộng. Đây không thật sự là một cuộc phỏng vấn. Chúng tôi chuyện trò và, đôi lúc, tôi chêm vào vài câu hỏi. Tôi viết những câu trả lời trên một tờ giấy rồi sau đó đưa ông ta xem để ông ta chỉnh sửa. Nhưng ông ấy không sửa gì: đúng ra ông thêm vào vài từ, để làm cho ý tưởng của ông ấy rõ ràng hơn.

Sanavio. – vào tuổi tám mươi, khi nhìn lại, ông nghĩ gì về sự phát triển của thi ca, về thi ca của ông và của những người đương thời của chúng ta, kể từ đầu thế kỷ?

Ungaretti. – Thật khó phán xét những người đương thời của mình. Với tôi dường như thi ca đi giật lùi: ngoại trừ vài trường hợp, chắc chắn là thế. Song có một thi ca dính dáng với thời đại chúng ta ở đây cũng như ở nơi khác. Thi ca đó không kém thi ca ở những thời trước.

Sanavio. – Ông nghĩ sao về thi ca đương đại?

Ungaretti. – Tôi cho rằng có những thi sĩ khá tài ba ở Mỹ. Trong tất cả, tôi biết một thi sĩ như vậy: đó là Allen Ginsberg quyến rũ tuyệt vời. Robert Lowell là một thi sĩ có một trí tưởng tượng ngoại hạng và một sự chính xác lớn về tri giác và biểu lộ.

Sanavio. – Theo ông, phải chăng, thi ca vẫn còn có một “tương lai”?

Ungaretti. – Tôi tin tưởng rằng, cho đến cái ngày khi vẫn còn chút điên cuồng trên hành tinh ướt đẫm cuồng điên này, thì vẫn còn chỗ cho cảm hứng và, do vậy, cho tác phẩm thi ca “viết”.

Sanavio. – Ông có lời khuyên nào cho các thi sĩ trẻ?

Ungaretti. – Tôi sẽ nói với họ hãy ngừng viết. Nhưng nếu hắn có can đảm tiếp tục và nếu hắn chắc chắn có thể bày tỏ một cách mới mẻ điều thuộc về mọi thời thì tôi sẽ nói, vậy, hãy có sự tin tưởng vào nghề của mình, một nghề thật khó. Người ta không kiếm ra tiền, khi là thi sĩ, và sự được nhìn nhận tới, tới rất chậm. 

Sanavio. – Theo ý kiến ông, những chức năng của thi ca và của văn tự (écriture) là gì?  

Ungaretti. – Thi ca chỉ có một chức năng: chức năng thông giao, với một sự nghiêm xác thật cẩn trọng, thông giao từ những nét tâm hồn của một con người tới những tâm hồn khác, để cho những tâm hồn khác này nhận biết được những nét này và – nếu như thi sĩ không quá kiêu ngạo – để cho những tâm hồn này cũng – khi nhận ra những nét đó, tự biết chính mình.

Sanavio. – Những câu thơ cuối trong Allegria như sau:

                   Quando mi desterò

                   dal barbaglio della promiscuità

                   in una limpida e attonita sfera

                   Quando il mio peso sarà leggero

                   Il naufragio concedimi Signore

                   di quel giovane al primo grado.

                   [Khi tôi thức giấc

                          từ cơn lốc của sự hỗn mang

                          trong một bầu trời trong suốt đáng kinh ngạc

                          Khi trọng lượng của tôi thành nhẹ tênh với tôi

                          Xin Ngài ban cho tôi sự chìm đắm [tầu]

                          ngay tiếng kêu của thời trẻ

 

Trong bài “Per Sempre/Mãi mãi”(1959) bài cuối cùng của tập Il Taccuino del vecchio/Sổ tay của lão ông ông đã viết:

                   Senza niuna impazienza sognerò

                   Mi piegheró al lavoro

                   Che non può mai finire

                   E a poco a poco in cima

                   Alle braccia rinate

                   Si riapriranno mani soccorrevoli

                   Nelle cavità loro

                   Riapparsi gli occhi, ridaranno luce,

                   E, d’improvviso intatta

                   Sarai risorta, mi farà da guida

                   Di nuovo la tua voce,

                   Per sempre ti rivedo.

                   [Chẳng hề thiếu kiên nhẫn tôi sẽ mơ

                          Tôi  còng lưng làm việc

                          Chẳng bao giờ ngừng,

                          Và chậm rãi phía trên

                          Cánh tay, tái sinh

                          Những bàn tay phù trợ sẽ mở ra,

                          Mắt, nay tái hiện

                          Trong hốc của chúng, sẽ cho ánh sáng,

                          Và, anh chợt tìm lại em

                          Nguyên lành, mới mẻ

Giọng nói của em sẽ là người hướng dẫn anh

Anh gặp lại em mãi mãi.]

 

Ngoài diễn tiến của những hình ảnh ra, có diễn tiến hệ tư tưởng, và chính xác là diễn tiến thi ca, giữa những câu thơ thứ nhất và những câu thơ sau tôi đọc ra cho ông nghe. Thế giới quan của ông ngày càng xuyên suốt và sáng tỏ. Trong viễn tượng tác phẩm của ông, người ta để ý thấy, nơi ông, có một  sự trẻ trung liền lỉ của lời lẽ và của trái tim. Ngày nay ông sẽ xác định vị trí của ông ra sao, đối với điều tôi vừa nói?

Ungaretti. – Thi ca với tôi, ngay từ khởi đầu, là một sự kiện rất đơn giản: tuân thủ một sức đẩy từ toàn thể con người tôi, trong tính toàn thể của nó. Thi ca đã là một sự tuân thủ cụ thể hóa trong những từ với tôi dường như sẵn sàng để biểu lộ cái sức đẩy không thể cưỡng lại này ra. Đó là tất cả những gì tôi biết. Tôi cũng biết rằng, nếu như trong tôi đã không có thi ca, như tất cả mọi người, ngay cả những người không có khả năng bày tỏ nó qua nghệ thuật, thì tôi đã chẳng là một con người, mà là một kẻ thô thiển.

Sanavio. – Theo ông, đâu là đóng góp chính yếu của ông cho thi ca và nghệ thuật viết/văn tự (l’art de l’écriture)?

Ungaretti. – Tôi có bản chất kiêu ngạo nhưng, khi nói tới việc định nghĩa những phẩm chất và chức năng thi ca của tôi, tôi thật khó thêm bất cứ điều gì ngoài những câu trả lời cho những câu hỏi trên của ông. Thi ca trào dâng lên cửa miệng của toàn thể con người tôi, và tôi đã chia sẻ với người khác cái đặc quyền có thể thể hiện ra bằng lời. Việc phán xét hiệu năng của những lời lẽ này không tùy thuộc tôi.

Sanavio. – Ông viết như thế nào?

Ungaretti. – Tôi viết khi Thượng đế nhớ đến tôi và khi ngài cho tôi chút ánh sáng dường như có khả năng làm cho tôi thoát ra khỏi thân phận kẻ hữu tử (personne mortelle) của tôi. Hẳn nhiên đó là một ảo tưởng, nhưng tôi muốn, bằng tất cả sức mạnh của mình, rằng đó là một thực tại có thật. Cho đến bây giờ tôi đã nói về vấn đề quan trọng nhất đối với một thi sĩ: cảm hứng của hắn. Còn về cách biểu đạt cái đó bằng thơ hay bằng văn – hay trong một hình thức khác mà nghệ thuật chỉ dạy cho con người từ nhiều thiên niên kỷ – tôi không biết nói sao. Đôi khi, sự bày tỏ đột nhiên thể hiện và tôi hầu như không có thì giờ ghi lại; những khi khác, tôi cần làm việc cả tháng trời và tôi cũng vẫn không kiếm ra được cái hình thức đúng. Thảng hoặc, tôi đã đạt được cái giá trị biểu lộ đúng của một bài ca nội giới, sau những năm thử viết ra chẳng tới đâu.

Sanavio. – Ông mô tả sự tiến hóa của ông ra sao?

Ungaretti. – Tôi bắt đầu bằng cách tháo rời những câu thơ ra: tôi sẽ nói tốt hơn, bằng sự phá bỏ, trong những yếu tố từ vựng, cốt để xô đẩy lời nói tới điểm tìm thấy được sự tròn đầy ý nghĩa của nó, đối với điều tôi phải và muốn diễn tả. Rồi, ngôn từ của tôi cần có những liên hợp phức tạp hơn nữa. Bởi tôi đã chín và tôi tiếp tục chín: tôi cảm nhận được sự cần thiết làm cho tiến trình chín mùi của tôi cảm nhận được. Tôi sẽ chẳng là một thi sĩ sinh động nếu tôi không tiến bộ về cách biểu lộ. Điều này không dễ dàng. Hoàn thiện trong tâm hồn chẳng phải chuyện dễ. Thật vậy lời thi ca chỉ thể hoàn thiện nhờ sự hoàn thiện của tâm hồn.

________________________________

[49] Ungaretti à 80 ans trong L’Herne, Ungaretti trang 252-254.

(còn tiếp)

đào trung đạo

http://www.gio-o.com/DaoTrungDao.html

 

© gio-o.com 2018