ĐẶNG PHÙNG QUÂN

HUSSERL VÀ CHỦ NGHĨA (L)Ư TƯỞNG

TRONG THẾ GIỚI HIỆN ĐẠI

biên khảo triết học nhiều kỳ

kỳ 102

(tiếp theo)

Kỳ 1, Kỳ 2 , Kỳ 3 , Kỳ 4 , Kỳ 5 , Kỳ 6 , Kỳ 7 , Kỳ 8 , Kỳ 9 , Kỳ 10 , Kỳ 11 , Kỳ 12 , Kỳ 13 , Kỳ 14 , Kỳ 15 , Kỳ 16 , Kỳ 17 , Kỳ 18 , Kỳ 19 , Kỳ 20 , Kỳ 21 , Kỳ 22 , Kỳ 23 , Kỳ 24 , Kỳ 25 , Kỳ 26 , Kỳ 27 , Kỳ 28 , Kỳ 29 , Kỳ 30 , Kỳ 31 , Kỳ 32 , Kỳ 33 , Kỳ 34 , Kỳ 35 , Kỳ 36 , Kỳ 37 , Kỳ 38 , Kỳ 39 , Kỳ 40 , Kỳ 41 , Kỳ 42, Kỳ 43, Kỳ 44, Kỳ 45,  Kỳ 46, Kỳ 47, Kỳ 48, Kỳ 49, Kỳ 50, Kỳ 51, Kỳ 52, Kỳ 53, Kỳ 54, Kỳ 55, Kỳ 56, Kỳ 57, Kỳ 58, Kỳ 59, Kỳ 60, Kỳ 61, Kỳ 62, Kỳ 63, Kỳ 64, Kỳ 65, Kỳ 66, Kỳ 67, Kỳ 68, Kỳ 69, Kỳ 70,Kỳ 71, Kỳ 72, Kỳ 73, Kỳ 74, Kỳ 75, Kỳ 76, Kỳ 77, Kỳ 78, Kỳ 79, Kỳ 80, Kỳ 81, Kỳ 82, Kỳ 83, Kỳ 84, Kỳ 85, Kỳ 86, Kỳ 87, Kỳ 88, Kỳ 89, Kỳ 90, Kỳ 91, Kỳ 92, Kỳ 93, Kỳ 94, Kỳ 95, Kỳ 96, Kỳ 97, Kỳ 98, Kỳ 99, Kỳ 100, Kỳ 101 Kỳ 102

 

 

Chương III

Luận lư học thuần túy hay hiện tượng luận siêu nghiệm 

 

Đến luận lý học siêu nghiệm

 

Tiết §13 của chương đầu phần I xác định lý luận của những hình thức thuần túy của phán đoán là bộ môn thứ nhất của luận lý hình thức, nhằm xác định khả hữu của phán đoán, không cần biết chúng đúng hay sai, thích hợp hay mâu thuẫn.

Trước hết, Husserl xác định mỗi hình thức phán đoán là một phổ quát thông tính, chẳng hạn hình thức "Sp là q" phụ thuộc vào hình thức "S là p" và hình thức "(Sp)q là r" lại phụ thuộc vào "Sp là q". Song chính mỗi hình thức-phán đoán lại mang tính phổ quát theo một ý nghĩa khác, vì nó có vô số những hình thức khả hữu là những"biến đổi" của nó, chẳng hạn hình thức "S là p" trong những biến đổi "nếu S là p", "vậy S là p", v.v... có thể như những bộ phận cấu thành trong toàn thễ những hình thức-phán đoán, nghĩa là thực của mỗi hình thức và mọi hình thức. Trong mọi trường hợp, lại có thể trở về những hình thức nguyên thủy.

Chẳng hạn, hình thức phán đoán xác định "S là p" (ở đó p chỉ sự xác định, và S là cơ sở của nó) là hình thức nguyên thủy. từ đó có thể rút ra những tế biệt và biến đổi. Đó là một hình thức nguyên thủy: nó là nguyên thủy trong loại cao cấp nhất của luận lý học thuyết đề, "thuyết đề" có nghĩa là, nếu loại này đặc biệt mở rộng ra những xác thực-phán đoán theo thuộc từ, trong khi những hình thái-phán đoán được bao gồm trong phạm vi biến chất thành những xác thực-phán đoán với một nội dung đã biến đổi: có nghĩa là xác thực về khả hữu, về xác suất, v.v...

Mặt khác, khai triển được xem là khái niệm chỉ đạo trong nghiên cứu hình thức, cho nên có thể nói rộng ra như sau : mọi thực hiện khai triển một hình thức từ những hình thức khác có quy luật của nó, và tái diễn khai triển này chứng thực : mọi luật khai triển như vậy mang trong nó một quy luật lặp lại, mở rộng toàn khu vực phán đoán, làm cho nó có thể cấu thành trong lặp lại, nghĩa là qua những phương tiện của những hình thái cơ bản và khai triển cơ bản, vô sô  những hình thức khả hữu của phán đoán.[148]

Thực vậy, trong phần I này, Husserl chỉ ra ba loại khái niệm phán đoán là phán đoán minh bạch duy trì trong luận lý-chân lý, phán đoán khu biệt trong luận lý học phi-mâu thuẫn, và phán đoán hiểu theo nghĩa rộng trong hình thái học/morphology.

Tiết § 14 nói về luận lý-hậu kết/consequence-logic, có nghĩa là luận lý phi mâu thuẫn như thể tầng thứ hai của luận lý học hình thức. Husserl xác định đặc biệt trong trường hợp những hình thức-chứng lý, như những hình thức mệnh đề phức tạp có những chứng lý vững chắc và trá ngụy, thì đương nhiên không phải mọi hình thức-mệnh đề có thể kết hợp để tạo ra hình thức, mà chỉ những chứng lý xác thực mới có những chứng lý thực sự "hợp lý".[149]

Nói tóm lại, luận lý học như một khoa học tiên thiên nên những phân tích thuần túy phải có những phán đoán với những khả hữu tiên thiên và luận lý gia phân tích thuần túy có phán đoán chủ yếu thuộc loại rõ rệt, trong lĩnh vực của những phán đoán khả hữu là địa phận của ông.

Vậy vấn đề cơ bản của phân tích thuần túy đề ra là : trong khi vẫn ở địa phận này, liệu người ta có thể nói gì về những phán đoán rõ rệt khả hữu về hình thức/in forma, sau bộ môn luận lý trước đó, lý luận của những hình thức thuần túy có thiết lập được vô số những hình thức khả hữu để tùy nghi sử dụng không ? Trong tiết § 18 giải đáp vấn nạn này, Husserl đặt định câu hỏi cơ bản của phân tích thuần túy như sau :

Khi nào, và trong những tương quan nào, mọi phán đoán có thể khả hữu trong thống nhất phán đoán của chúng ta ? Những hình thức nào là những hình thức phổ biến để thực hiện phán đoán rõ ràng  ? Những hình thái  tổ hợp-phán đoán nào là những hình thái tiên thiên hiển nhiên có thể thực hiện được ?

Khi xác định chân và ngụy là những thuộc từ chỉ có thể thuộc vào một phán đoán rõ ràng hay có thể rõ ràng, nghĩa là thực hiện được, bởi luận lý học không bao giờ làm rõ được là khái niệm phán đoán này ở cơ sở của luận đề xác định nói trên. Cho nên, một phân tích thuần túy, do bản chất của nó, phải là một phần nền tảng của luận lý hình thức về chân lý.[150]   

Minh giải hiện tượng luận về hai mặt của luận lý học hình thức - thuyết đề hình thức và hữu thể luận hình thức - như Husserl đã nói trong Dẫn nhập để xác định đâu là khoa học tột cùng, không những chỉ ra mối liên hệ của hai mặt nói trên, nhằm vào tương quan giữa phán đoán và đối tượng, song còn xác định nhiệm vụ của hữu thể luận hình thức. Đó là mục tiêu của chương 4 và chương 5 của phần I.

Trong tiết § 38, khi xác định địa phận của hữu thể luận hình thức là vùng hình thức của đối tượng được quan niệm một cách phổ cập, do đó hữu thể luận hình thức phải xác định đối tượng trong những chân lý xác quyết.và với cùng tính phổ quát hình thức định tính địa phận của nó. Trong xác định phán đoán hướng về một cái gì khách quan, chẳng hạn, cái bàn, cảm giác khách quan về nó, như một giác quan được xác định đối với nội dung của nó, dẫn đến những tầng khác nhau của những khái niệm được thực hiện đầy đủ về mặt vật chất. Song có được gì nếu như chúng ta hy vọng xác định cái bàn thuần túy bằng những khái niệm thuộc về "hữu thể luận hình thức", như đối tượng, đặc tính, tương quan và trạng thái ở số nhiều - nghĩa là những khái niệm khác nhau liên quan đến bất cứ cái gì ? Liệu những cái này có là một cái gì khác những khái niệm "phạm trù" - nghĩa là: những khái niệm tích lũy được chỉ qua nhìn một cách trừu tượng vào những hình thái cú pháp, trong đó đối tượng nhận được ở những tầng lớp khác nhau trong những hành động cú pháp, những hành động của phán đoán ?

Husserl nhận xét, trong phân tích hình thức, đối tượng được nghĩ thuần túy như thể một đối tượng của những phán đoán khả hữu, và thuần túy như thể có những hình thái-phán đoán tích lũy được dồn về nó qua những hình thức-phán đoán này.

Ông cũng nhận xét là nếu có những kết quả quan trọng, như trong trường hợp của một tư tưởng với tính phổ cập tiên thiên, hiển nhiên là chọn lựa tự do những tạo thành cú pháp bị hạn chế, với điều kiện là những đối tượng khả dĩ hiện hữu trong chân lý và, tương ứng, những phán đoán khả dĩ là những chân lý. Những cú pháp-phán đoán, hình thành, do những quy luật tiên thiên điều khiển, vì những quy luật này đề ra những điều kiện cho chân lý khả hữu.. Dĩ nhiên hình thành trong những phán đoán (hình thành mà mọi khái niệm toán học theo cả hai nghĩa hẹp và hẹp nhất - như thể tập hợp, số cơ bản, cấp số, lượng, và phức số - cũng sinh ra, dầu trên cơ sở những hình thành-phán đoán ở tầng lớp cao nhất) là một hình thành thực hiện, không phải trên những đối tượng "siêu việt" , nhưng trên những đối tượng đã khách quan hóa trong chính phán đoán.[151]      Phân tích như ngay ở chương đầu phần I đã đề cập lý luận hình thức của khoa học là hữu thể luận hình thức, và trong quan niệm của Hussel, hữu thể luận là trực tiếp hướng về đối tượng sự vật, và luận lý hình thức là phân tích thuyết đề. Cho nên trong chương 5, là chương cuội của phần I, Husserl khai triển thuyết đề như một lý luận của những giác quan.                                                                                                                                                               

                                                                                                                                                                           

---------------------------------------------------------

[148] Husserl, Sdt. Ph. I, § 13 : each jugment-form ... is a generic universality.

Thus, for exemple, the form "Sp is q" is subordinate to the form "S is p"  and the form "(Sp)q is r" is subordinate in turn to "Sp is q". But each judgment-form also bears within itself a universality with a wholly different sense, since each takes in a multiplicity of possible forms as its "modifications", for example, the form "S is p" takes in the modification "if S is p", "then S is p" , and so forth, which can occur as component parts of whole judgment-forms.       

In every case we get back to primitive forms. Thus the form of the determining judgment, "S is p", (where p designates a determination,  and  S its substrate),  is a primitive form, from which one can derive particularizations and modifications. It is a primitive form : more precisely, it is primive within the highest genus of apophantic logic, "apophansis", if this genus is extended exclusively to predicative judgment-certainties, while judgment-modalities ... become included in its scope by undergoing a transmutation into judgment-certainties with an altered content : namely certainties about possibilities, probabilities, and the like.

....

c. Operation as the guiding concept in the investigation of forms :

Every opertive fashioning of one form out of others has its law.

Every law of operation thus bears within itself  a law of reiteration. Conformity to this law of reiterable operation extends throughout the whole province of judgments, and makes it possible to construct reiteratively the infinity of possible forms of judgments.         
[149] Husserl, Sdt, Ph. I, § 14 : Particularly in the case of argument-forms (complex proposition-forms in which valid and fallacious arguments proceed) it was evident that not all proposition-forms can be combined to make forms of genuine arguments, actually "consequent" arguments.   

[150] Husserl, Sdt, Ph. I, § 19 : Thus, a pure analytics, by virtue of its essence, is at the same time a fundamental part of a formal logic of truth.

[151] Husserl, Sdt,  Ph. I, § 38 : In formal analytics, the object is thought of purely as an object of  possible judgments, and purely as having the judgment-forms accruing to it through them; and, if that yields important results, precisely in the case of a thinking with apriori universality ... it does so because of the evidence that the free choice of syntactical fashionings is restricted, as long as the objects are possibly to exist in truth and, correlatively, the judgments are possibly to be truths. The judgment-syntaxes, as formative, are governed a priori by laws that set forth conditions for possible truth. Naturally the forming done in the judgment (a forming from which all mathematical concepts in both the narrower and the narrowest sense - such as set, cardinal number, series, quantity, and multiplicity - also originate, though on the basis of judgment-formations of the highest level) is a forming executed, not upon the "transcendent" objects, but upon the objects objectivated in the judgment itself.

 

(c̣n tiếp)                                                                                           

Đặng Phùng Quân     
 

http://www.gio-o.com/DangPhungQuan.html

 

 © gio-o.com 2017