ĐẶNG PHÙNG QUÂN

HUSSERL VÀ CHỦ NGHĨA (L)Ư TƯỞNG

TRONG THẾ GIỚI HIỆN ĐẠI

biên khảo triết học nhiều kỳ

kỳ 97

(tiếp theo)

Kỳ 1, Kỳ 2 , Kỳ 3 , Kỳ 4 , Kỳ 5 , Kỳ 6 , Kỳ 7 , Kỳ 8 , Kỳ 9 , Kỳ 10 , Kỳ 11 , Kỳ 12 , Kỳ 13 , Kỳ 14 , Kỳ 15 , Kỳ 16 , Kỳ 17 , Kỳ 18 , Kỳ 19 , Kỳ 20 , Kỳ 21 , Kỳ 22 , Kỳ 23 , Kỳ 24 , Kỳ 25 , Kỳ 26 , Kỳ 27 , Kỳ 28 , Kỳ 29 , Kỳ 30 , Kỳ 31 , Kỳ 32 , Kỳ 33 , Kỳ 34 , Kỳ 35 , Kỳ 36 , Kỳ 37 , Kỳ 38 , Kỳ 39 , Kỳ 40 , Kỳ 41 , Kỳ 42, Kỳ 43, Kỳ 44, Kỳ 45,  Kỳ 46, Kỳ 47, Kỳ 48, Kỳ 49, Kỳ 50, Kỳ 51, Kỳ 52, Kỳ 53, Kỳ 54, Kỳ 55, Kỳ 56, Kỳ 57, Kỳ 58, Kỳ 59, Kỳ 60, Kỳ 61, Kỳ 62, Kỳ 63, Kỳ 64, Kỳ 65, Kỳ 66, Kỳ 67, Kỳ 68, Kỳ 69, Kỳ 70,Kỳ 71, Kỳ 72, Kỳ 73, Kỳ 74, Kỳ 75, Kỳ 76, Kỳ 77, Kỳ 78, Kỳ 79, Kỳ 80, Kỳ 81, Kỳ 82, Kỳ 83, Kỳ 84, Kỳ 85, Kỳ 86, Kỳ 87, Kỳ 88, Kỳ 89, Kỳ 90, Kỳ 91, Kỳ 92, Kỳ 93, Kỳ 94, Kỳ 95, Kỳ 96, Kỳ 97,

 

 

Chương III

Luận lư học thuần túy hay hiện tượng luận siêu nghiệm

 

Quá độ từ luận lý học thuần tuý

 

Qua mấy ví dụ nêu trên, Husserl muốn dẫn đến vấn đề về bổ sung những hình thái chỉ thị ý nghĩa duy danh, vì ở toàn thể những thành phần và hình thái của chỉ thị ý nghĩa phải tương ứng với thành phần và hình thái của tri giác, nghĩa là giữa ý hướng chỉ thị ý nghĩa với trực quan bổ sung cho đối ngẫu nói trên. Cho nên ông xác định:

"Nguyên mẫu để lý giải tương quan giữa những hành vi chỉ thị ý nghĩa với trực quan là do mối tương quan của chính chỉ thị ý nghĩa với những tri giác tương ứng"[130]

Lấy một ví dụ đơn giản như sau: Người nào biết (thành phố) Saigon và do đó nắm được ý nghĩa của chính tên/danh từ Saigon sẽ nhận ra trong mỗi kinh nghiệm sống thực sự của ý nghĩa điều gì tương ứng đích xác với tri giác để khẳng định về sau. Nói đúng ra, điều đó không phải là môt phản đáp của tri giác như thể tri tưởng tương ứng, song là trong tri giác, thành phố này hiện diện đối với chúng ta, cũng như, theo những gì chúng ta vừa trình bày, danh từ riêng của Saigon, trong ý nghĩa riêng của nó, nhằm vào chính thành phố này "một cách trực tiếp" là nó. Tri giác đơn giản ở đây làm hiện ra, mà không cần cầu viện đến những hành động khác tạo ra cho nó, đối tượng mà ý hướng chỉ thị ý nghĩa nhắm đến, cũng như tri giác đã nhắm vào nó như vậy. Điều đó muốn nói rõ ra là ý hướng chỉ thị ý nghĩa tìm thấy trong tri giác hành vi mà nó đã hoàn tất một cách chính đáng.

Một vấn đề khác đặt ra, sau khi chúng ta đã nói đến ở trên về khái niệm trực quan, tri giác và tri tưởng là : mối quan hệ giữa khái niệm siêu khả giác và khái niệm khả giác của tri giác ra sao, đó là khu biệt giữa trực quan khả giác và trực quan phạm trù/minh định. Husserl khởi sự từ phân tích hiện tượng luận khu biệt giữa tri giác khả giác và tri giác phạm trù trong tiết § 46 :

"Phải đi tìm những đặc tính miêu tả sâu sắc hơn đem lại cho chúng ta vài tia sáng về những cấu thành khác biệt chủ yếu của những tri giác khả giác và phạm trù, nghĩa là của những trực quan khả giác và phạm trù nói chung".

Theo Husserl chỉ cần nêu ra một số điểm quan trọng nhất có thể cho phép ta định tính được những hành vi này trong những tương quan lẫn nhau của chúng.

"Từ mỗi tri giác này có nghĩa là lĩnh hội  chính đối tượng hay trực tiếp đối tượng của tri giác. Tuy nhiên những lĩnh hội này có một ý nghĩa và tính chất khu biệt tùy theo nó là tri giác theo nghĩa hẹp hay nghĩa rộng của từ ngữ, hoặc tùy theo tính khách quan lĩnh hội "trực tiếp" là đối tượng khả giác hay đối tượng phạm trù, có nghĩa là một đối tượng thực hay một đối tượng lý tưởng. Như vậy ta có thể xác định được những đối tượng khả giác hay thực/realen như thể những đối tượng ở mức độ thấp của một trực quan khả hữu, và những đối tượng phạm trù hay lý tưởng như thể những đối tượng ở mức độ cao cấp."[131]

Trong tiết § 45 Husserl đã minh định tri giác là "mọi hành vi bổ sung trên cách thức biểu tượng xác nhận chính sự vật", trực quan là "mọi hành vi bổ sung nói chung" và đối tượng là "giao thể ý hướng của nó".Trực quan là một khái niệm "luôn luôn định tính do khu biệt với những hành vi của bản chất loại suy, và chính ở đó tự giải rõ ràng, nghĩa là nhờ khu biệt với biểu tượng qua ảnh tượng  và truy niệm thuần ý nghĩa", trong tiết  § 49, xác định hình thành trực quan phạm trù qua :

"Chức năng của tư tưởng tổng hợp (chức năng tri thức) tác động trên [những biểu tượng], đem lại cho chúng một hình thái mới, mặc dầu với tính cách của chức năng phạm trù theo cách thức phạm trù; và do đó như thể nội dung khả giác của đối tượng hiện tượng vẫn không thay đổi. Đối tượng không xuất hiện với những xác định mới thực, nó ở đó như thể đối tượng đó, song theo một cách thức mới."

Trong chương cuối của phân đoạn hai về cảm giác và ngộ tính luận (Sinnlichkeit und Verstand) về những khái niệm khả giác và phạm trù (sinnliche Begriffe und Kategorien), Husserl khẳng định:

"Ở chính bản nhiên của sự vật, rốt cuộc cái gì là phạm trù đều dựa trên một trực quan khả giác, hơn nữa, một trực quan phạm trù,  cũng như một quan cảnh của ngộ tính, một tư tưởng theo nghĩa cao cấp nhất, không xây dựng trong cảm giác, là một điều phi lý."[132]

Khai phá trong phần luận lý hình thức này chỉ ra ở hệ thống phạm trù , hữu như thể thiết bị phạm trù phải đi tới siêu nghiệm, không gì khác hơn là ý nghĩa, chỉ thị ý nghĩa trên trực quan.

3/ Tác phẩm Kinh nghiệm và phán đoán chỉ xuất hiện vào năm 1948 khi Husserl đã qua đời là di cảo luận về thống nhất trực giác của trực quan tri giác và trực quan tri tưởng, là những vấn đề mở ra ở bộ Nghiên cứu luận lý 1900-01 chưa giải quyết.          

Theo Ludwig Landgrebe, người nhuận sắc và biên tập Kinh nghiệm và Phán đoán trong lời Tựa cho hay đây là tập hợp một số bản thảo khác nhau của Husserl, song vẫn mang tính thống nhất, và cũng không phải là bổ trợ cho những tác phẩm khác. Nhan đề quyển sách lấy từ tựa đề của một bản thảo Husserl viết năm 1929 về những vấn đề cơ bản của luận lý hiện tượng luận, và tiểu đề Những nghiên cứu về một phổ hệ của luận lý học dựa trên bản văn và ý tưởng trong một giáo trình bốn tiếng về "luận lý học phát sinh" khởi từ học kỳ Đông 1919-20.

Cũng trong lời tựa, Landgrebe giới thiệu "Husserl trong tác phẩm "Luận lý học hình thái và siêu nghiệm" đã nhằm mục đích chứng tỏ ý nghĩa nội tại, liệt cử và quan liên của mọi sự cho đến nay thuộc về những vấn đề luận lý, và hơn nữa thiết yếu của một khảo sát hiện tượng luận về toàn bộ vấn tính luận lý học. Một phần chính của nghiên cứu phân tích - miêu tả nhằm phục vụ cho việc xây dựng một nền tảng hiện tượng luận như thế chính là "Kinh nghiệm và Phán đoán".[133]

Kinh nghiệm nguyên ủy và trực quan là nền tảng cho nghiên cứu thế giới đời sống (đã đề cập trong chương II).

 

------------------------

[130] Husserl, Sdt. § 40 :

Das Prototyp für die Interpretation des Verhältnisses zwischen Bedeuten und Anschauen wäre also das Verhältnis der Eigenbedeutung zu den entsprechenden Wahrnehmungen.

[131] Husserl, Sdt . § 46 :

Es handelt sich also darum, tieferliegende deskriptive Charakteristiken zu suchen, die uns einige Einsicht in die wesentlich unterschiedene Konstitution der sinnlichen und kategorialen Wahrnehmungen, bzw. Anschauungen überhaupt eröffnen.

... Von jeder Wahrnehmung  heißt es, daß sie in ihren Gegenstand selbst oder direkt erfasse. Aber dieses direkte Erfassen hat einen verschiedenen Sinn und Charakter, je nachdem es sich um eine Wahrnehmung im engern oder eine solche im erweiterten Sinn handelt, bzw. je nachdem die "direkt" erfaßte Gegenständlichkeit ein sinnlicher oder ein kategorialer, anders ausgedrückt : je nachdem er ein realer oder idealer Gegenstand ist. Die sinnlichen oder realen Gegenstände werden wir nämlich als Gegenstände der untersten Stufe möglicher Anschauung charakterisieren können, die kategorialen oder idealen als die Gegenstände der höheren Stufen.

[132] Husserl, Sdt.

§ 45 : [Die wesentliche Gleichartigkeit der Erfüllungsfunktion und aller mit ihr gesetzlich zusammenhängenden idealen Beziehungen macht es eben unvermeidlich], jeden in der Weise der bestätigenden Selbstdarstellung erfüllenden Akt als Wahrnehmung, jeden erfüllenden Akt überhaupt als Anschauung und sein intentionales Korrelat als Gegenstand zu bezeichnen.

... [Offenbar charakterisiert sich dies als wirklich und selbst gegeben Erscheinen] ...überall durch seinen Unterschied von den wesentlich verwandten Akten und gewinnt nur dadurch seine volle Klarheit; nämlich durch den Unterschied vom bildlichen Vergegenwärtigen und vom rein signifikativen Darandenken".

§ 49 :  Die Funktion des synthetischen Denkens (die intellektive Funktion) tut ihnen etwas an, formt sie neu, obschon als kategoriale Funktion in kategorialer Weise; demnach so, daß hierdurch der sinnliche Gehalt des erscheinenden Gegenstandes ungeändert bleibt. Der Gegenstand erscheint nicht mit neuen realen Bestimmtheiten, er steht als dieser selbe, aber in neuer Weise da.

Achtes Kapitel : Die apriorischen Gesetze des eigentlichen und uneigentlichen Denkens (Chương VIII: Những quy luật tiên thiên của tư tưởng chính thực và không chính thực) :

§ 60 : Es liegt in der Natur der Sache, daß letztlich alles Kategoriale auf sinnlicher Anschauung beruht, ja daß eine kategoriale Anschauung, also eine Verstandeseinsicht, eine Denken im höchsten Sinne, ohne fundierende Sinnlichkeit ein Widersinn ist.

Bị chú : Ngoài Marvin Farber (1901-1980) theo học Husserl ở Freiburg trong những năm 1923-1924 phổ biến hiện tượng luận của Husserl ở Mỹ qua một số tác phẩm như The Foundation of Phenomenology 1943, The Aims of Phenomenology 1966, Phenomenology and Existence 1967, Basic Issues of Philosophy : Experience, Reality, and Human Values 1968, trong quyển đầu năm 1943, đề cập ở chương XIV về cảm giác và ngộ tính; có thể kể một vài tác giả khác như Jean-François Courtine trong tiểu luận L'Objet de la Logique (in trong Phénoménologie et Logique 1996), Jocelyn Benoist trong tiểu luận Les Recherches logiques de Husserl : Le catégorie, entre grammaire et intuition (in trong sách dẫn trên 1996), Jiro Watanabe trong tiểu luận Categorial Intuition and the Understanding of Being in Husserl and Heidegger (in trong Reading Heidegger. Commemorations 1993), Jean Patoċka trong tiểu luận The Husserlian Doctrine of Eidetic Intuition and its recent Critics (in trong Husserl, Expositions and Appraisals 1977)  có đề cập và thảo luận về vấn đề trực quan phạm trù.     

[133] Husserl, Erfahrung und Urteil : Untersuchungen zur Genealogie der Logik, von Ludwig Landgrebe (Herausgeber), Edmund Husserl (Autor):

Husserl hatte sich in seinem Werk "Formale und transzendentale Logik" das Ziel gesetzt, den inneren Sinn, die Gliederung und Zusammengehörigkeit all dessen nachzuweisen, was bislang an logischen Problemen behandelt worden war, und die Notwendigkeit einer phänomenologischen Durchleutung der geasamten logischen Problematik darzutun. Ein Hauptstück der analytisch-deskriptiven Untersuchungen, die einer solchen phänomenologischen Begründung der Logik dienen, ist "Erfahrung und Urteil".     

 

(c̣n tiếp)                                                                                           

Đặng Phùng Quân     
 

http://www.gio-o.com/DangPhungQuan.html

 

 © gio-o.com 2017