ĐẶNG PHÙNG QUÂN

HUSSERL VÀ CHỦ NGHĨA (L)Ư TƯỞNG

TRONG THẾ GIỚI HIỆN ĐẠI 

biên khảo triết học nhiều kỳ

kỳ 28

 (tiếp theo)

 

Kỳ 1, Kỳ 2 , Kỳ 3 , Kỳ 4 , Kỳ 5 , Kỳ 6 , Kỳ 7 , Kỳ 8 , Kỳ 9 , Kỳ 10 , Kỳ 11 , Kỳ 12 , Kỳ 13 , Kỳ 14 , Kỳ 15 , Kỳ 16 , Kỳ 17 , Kỳ 18 , Kỳ 19 , Kỳ 20 , Kỳ 21 , Kỳ 22 , Kỳ 23 , Kỳ 24 , Kỳ 25 , Kỳ 26 , Kỳ 27 , Kỳ 28 ,   

 

Chương II

Thiên-địa-không:nguyên ủy h́nh học

 

Nói đến nguyên ủy của hình học rốt cuộc chính là trở về với những khởi đầu nguyên ủy của hình học, nghĩa là những "nhà sáng lập đầu tiên/proto-fondateurs", tất nhiên nói đến một truyền thống.Tồn tại của con người chứng tỏ ở trong vô vàn truyền thống, bởi  khởi từ truyền thống mà có thế giới văn hóa ở đó trong toàn thể, dưới mọi hình thái. Những hình thái này theo Husserl không hẳn sinh ra thuần túy theo nhân quả, và truyền thống rõ ràng khởi sinh trong không gian con người, từ một hoạt động của con người, nghĩa là trong một khởi sinh tinh thần - dầu là chúng ta không biết gì về do lai xác định hay cơ trí khai triển ra sao. Song Husserl xác định, tuy vậy trong cái bất tri/non-savoir này luôn luôn  và cơ bản có một tri thức tiềm ẩn cũng gợi lên minh thị, mà hiển nhiên không thể chối cãi. Tri thức này khởi sự với những chân lý biểu diện tự tại: như vậy truyền thống sinh ra từ tác phẩm của con người; con người và chúng nhân tự nhiều quá khứ tồn tại mà trong đó những nhà sáng tạo đầu tiên, khởi từ có những vật liệu có sẵn trước, những vật liệu thô sơ và những vật liệu đã do tinh thần thẩm tra, đem lại hình thái đến chỗ mới. Thế là từ chỗ chân lý biểu diện, đi tới chỗ thâm viễn. [8]. Theo tính khái quát này, có thể nói là hình thái khái quát của nó tiến tới chỗ áp dụng vào những trường hợp đặc thù và xác định một cách cá biệt, miễn là người ta chỉ có thể xác định cá nhân dựa vào việc khả dĩ nắm bắt được do bao nhiếp (par subsomption).  

Như vậy hình học hiện diện, như nói đến ở trên khởi từ truyền thống, như một đắc thủ toàn diện của những sản xuất tinh thần, trong quá trình phát triển, mở rộng từ những đắc thủ mới thành những hành vi tinh thần mới. Husserl hình dung nguyên ủy hình học diễn ra theo một vận động như sau: từ những hình thái có trước và di chuyển, cấu tạo ra nguyên ủy hình học, rõ ràng là sinh ra từ đắc thủ đầu tiên, từ những hoạt động sáng tạo đầu tiên. Phương thức hiện hữu của nó khá kiên trì, nghĩa là không những vận động không ngừng từ đắc thủ này qua đắc thủ khác, song còn là một tổng hợp liên tục trong đó mọi đắc thủ kiên định với giá trị của chúng, tạo thành một tổng thể, để trong mỗi đắc thủ hiện tại đắc thủ toàn diện là tiền đề toàn diện cho những đắc thủ ở giai đoạn tiếp theo. Hình học thiết yếu thuộc loại vận động này với một chân trời tương lai hình học cùng kiểu cách; như vậy vận hành hình học ỡ mỗi nhà hình học có ý thức (nghĩa là có tri thức tiềm tàng vững vàng) tham gia vào trong một tiến hành liên tục và một tiến bộ của nhận thức đang phát triển ở chân trời này. [9]

Husserl nghĩ là mọi khoa học diễn tiến như vậy. Khoa học, đặc biệt là hình học, mang một ý nghĩa hiện hữu như thế, phải có một khởi đầu lịch sử, và chính ý nghĩa này phải có một nguyên ủy trong một hành vi sản xuất, trước tiên là như  dự án và sau đó là trong một thành công hoàn tất.

Song một hoàn thành như vậy hiển nhiên diễn ra như trong mọi  phát kiến, nghĩa là mọi sản xuất tinh thần tới chỗ hoàn tất khởi từ một dự án đầu tiên, lần thứ nhất, trong sự hiển nhiên của thành công hiện tại  Tuy nhiên, nếu ta xét toán học có phương thức hiện hữu của một vận động liên tục và sinh động khởi từ đắc thủ, làm những tiền đề cho những đắc thủ mới mà ý nghĩa hiện hữu hợp nhất ý nghĩa hiện hữu của mỗi tiền đề, rõ ràng là ý nghĩa toàn diện của hình học, như thể khoa học phát triển, từ khởi đầu không phải đã ở đó như một dự án và tiến hành trong một vận động viên mãn. Ở giai đoạn mở đầu, một hình thành ý nghĩa (Sinnbildung) sơ khai hơn khởi sự thế nào một cách tất yếu lần thứ nhất trong sự hiển nhiên thực hiện thành công. Song ngôn ngữ như vậy quả là trùng phức: Hiển nhiên tuyệt đối không muốn nói gì khác hơn là nắm bắt  một hiện hữu trong ý thức hiện thể của nó (Selbst-da), thật độc đáo và cá nhân. khi thành công, thực hiện một dự án  là hiển nhiên đối với chủ thể tích cực; trong hiển nhiên, cái được thực hiện tự nguyên ủy hiện diện là chính nó.[10]

Tuy đưa ra khái niệm hiển nhiên ở đây như một biện luận cho cái được thực hiện nói trên, song lại dẫn đến vấn đề về hiện hữu hình học:

Trước hết hiện hữu hình học không là một hiện hữu tâm linh, không phải là hiện hữu của cái gì cá nhân trong lãnh vực cá nhân của ý thức. Nó là hiện hữu của một hiện thể, một cách khách quan, cho "mọi-người", nghĩa là với nhà hình học thực hoặc sẽ là, hay với bất kỳ người nào hiểu biết hình học.

Nói đúng ra, ngay từ sáng lập đầu tiên hình học, nó đã có một hiện hữu siêu-thời gian và khả đắc với mọi người, trước hết là với mọi nhà toán học thực hay sẽ là ở mọi dân tộc, mọi thế kỷ, một cách đặc thù và dưới mọi hình thái đặc thù của nó. Rồi mọi hình thái lại sinh ra trên nền tảng những hình thái đã cho lập tức chứng thực cùng khách thể tính này, nghĩa là khách thể tính "(l)ý tưởng"). Husserl khẳng định, điều này chung cho tất cả  những loại sản phẩm tinh thần của thế giới văn hóa, không chỉ bao gồm mọi hình thành khoa học và chính những khoa học, còn cả những hình thành văn nghệ. Những tác phẩm của loại này không như những công cụ (búa, kìm) hoặc những tác phẩm kiến trúc và những sản phẩm cùng loại, nghĩa là có khả năng tái sản xuất ra nhiều bản giống nhau. Chẳng hạn, định lý Pythagore, cũng như  tất cả khoa hình học chỉ hiện hữu một lần, luôn cả có thể diễn tả bằng bất kỳ ngôn ngữ nào. Khoa hình học vẫn thế, về mặt đồng nhất trong "ngôn ngữ nguyên thủy" của Euclide cũng như trong mọi "bản dịch".[11]

Tuy nhiên, phải chú ý đến sự khác biệt giữa dự án và thực hiện nói đến ở phần trên là diễn ra trong chủ thể tính của nhà phát kiến, đặc biệt là trong lãnh vực tinh thần của ông mang ý nghĩa hiện tại nguyên ủy trong toàn bộ nội dung. Khoa hình học như nói đến ở trên vẫn là nó trong mỗi ngôn ngữ, từ phát biểu bằng lời hay ghi ra bằng văn tự tự nguyên ủy, diễn tả trên phương thức khả giác trong vô số những biểu hiện bằng lời hay ghi ra bằng viết. Những biểu hiện khả giác  có tính cá biệt không-thời gian trong thế giới như mọi sự biến hữu hình hay như những gì bị hợp vào như thế trong vật thể; song với hình thái tinh thần thì không đúng như thế, đã nói đến ở trên là "khách thể tính (l)ý tưởng" (ideale Gegenständlichkeit).

Những hình thái của khách thể tính này có một hiện hữu khách quan trong thế giới, song phải dựa vào cách xếp tằng kép  của những lặp lại này và sau cùng là theo những hợp vào khả giác.Cũng chính ngôn ngữ, trong mọi minh ký bằng từ ngữ, những mệnh đề, diễn từ đã được kiến lập từng phần, như ta thấy trong hành cử ngữ pháp, khởi từ những khách thể tính (l)ý tưởng: chẳng hạn, từ ngữ sư tử/Löwe chỉ xẩy đến một lần trong Đức ngữ, nó là cái đồng nhất trong vô số biểu ngữ đối với bất kỳ ai nhắm nói đến nó. Song những tính (l)ý tưởng của những từ ngữ và những mệnh đề hình học, những lý luận - được xem như thuần túy là những hình thành ngữ học -  không là những lý tưởng trong hình học cấu thành cái gì được phát biểu và thừa nhận như thể chân lý: những đối tượng, những hiện-trạng-sự-vật hình học lý tưởng, v.v... Trong mọi phát biểu, đối tượng chủ đề, cái mà người ta nói (tức là ý nghĩa của nó), phân biệt với việc phát biểu, trong chính nó, không là và cũng không bao giờ là chủ đề trong khi phát biểu nó. Như vậy ở đây, chủ đề rõ ràng nhằm vào những khách thể tính (l)ý tưởng và những cái gì khác với những tính lý tưởng ở dưới dạng khái niệm của ngôn ngữ.

Chính những khách thể tính (l)ý tưởng và thuộc chủ đề của hình học ở đây liên quan đến vấn đề của chúng ta: làm thế nào tính (l)ý tưởng hình học (cũng như của mọi khoa học) có thể đến được khách thể tính lý tưởng của nó, khởi từ nó hiện ra nguyên ủy ở trong-con người mà trong đó tính (l)ý tưởng trình ra như thể hình thành trong không gian ý thức của trung tâm con người phát kiến đầu tiên?

Chúng ta có thể thấy trước điều này: đó là do trung gian của ngôn ngữ, có thể nói, tạo cho nó tấm thân ngữ học; song làm thế nào, khởi đi từ một hình thành thuần túy ở trong-chủ thể, hóa thân ngữ học tạo ra cái khách quan, chẳng hạn như thể khái niệm hay sự trạng hình học, quả thực hiện diện, khả tri đôi với mọi người, bây giờ và mãi mãi, đã được thừa nhận trong biểu hiện ngữ học như thể diễn ngôn hình học, như thể mệnh đề hình học trong ý nghĩa hình học lý tưởng của nó được? [12] Đó là vấn đề.

--------------------------------

[8] Husserl, Sdt:  La géométrie toute prête... est une tradition. C'est au milieu d'un nombre infini de tradition que se meut notre existence humaine. C'est en tant qu'issu de la tradition que le monde de la culture est là, dans sa totalité et sous toutes ses formes. En tant que telles, ces formes n'ont pas été engendrées de façon purement causale, et nous savons toujours déjà que la tradition est précisément tradition, engendrée dans notre espace d'humanité à partir d'une activité humaine, donc en une genèse spirituelle  -  même si, engénéral, nous ne savons rien ou à peu près rien de la provenance déterminée et de la spiritualité qui, en fait, a ici opéré. Et pourtant dans ce non-savoir se tient toujours et essentiellement un savoir implicite, savoir qui appelle donc aussi son explicitation, mais savoir dont l'évidence est irrécusable.. Il commence avec des vérités de surface qui vont de soi: ainsi, tout traditional est né d'une production humaine; par suite, des hommes et des humanités passées ont existé, auxquels ont appartenu  les premiers créateurs qui, à partir des matériaux prédisponibles, matériaux bruts et matériaux déjà informés par l'esprit, donnaient forme au neuf, etc. Mais depuis la vérité de surface, on est conduit vers les profondeurs.

[9] Husserl, Sdt: Nous savons à partir de ses formes antérieures et transmises, en tant qu'elles constituent son origine... que manifestement la géométrie doit donc être née à partir d'un premier acquis, d'activités créatrices premières. Nous comprenons ainsi son mode d'être persistant: il ne sagit pas seulement d'un mouvement procédant sans cesse d'acquis en acquis, mais d'une synthèse continuelle en laquelle tous les acquis persistant dans leur valeur, forment tous une totalité, de telle sorte qu'en chaque présent l'acquis total est... prémisse totale pour les acquis de l'étape suivante. La géométrie est nécessairement dans ce type de mouvance avec un horizon  d'avenir géométrique de même style; c'est ainsi qu'elle a cours auprès de chaque géomètre, chacun ayant la conscience (c'est-à-dire le savoir constant et implicite) d'être engagé dans une progression continue et dans un progrès de connaissance en tant qu'il opère dans cet horizon.

[10] Husserl, Sdt: Évidence ne veut absolument rien dire d'autre que la saisie d'un étant dans la conscience de son être-là, de façon originale et en personne. En tant qu'elle réussit, l'effectuation d'un projet est évidence pour le sujet actif; en elle, l'effectué est présent originaliter en tant que lui-même.

[11] Husserl, Sdt: l'existence géométrie n'est pas existence psychique, elle n'est pas existence de quelque chose de personnel dans la sphère personnelle de la conscience; elle est existence d'un être-là, objectivement, pour "tout-le-monde" (pour le géomètre réel et possible ou pour quiconque comprend la géométrie).Bien mieux, elle a depuis sa proto-fondation une existence spécifiquement supra-temporelle et accessible... à tous les hommes et en premier lieu aux mathématiciens réels et possibles de tous les peuples, de tous les siècles, et ce sous toutes ses formes particulières. Et toutes les formes produites à nouveau par quiconque sur le fondement des formes prédonnées endossent aussitôt la même objectivité. Il s'agit là... d'une objectivité "idéale". Elle est propre à toute une classe de produits spirituels du monde de la culture auquel appartiennent non seulement toutes les formations scientifiques et les sciences elles-mêmes, mais aussi, par exemple, les formations de l'art littéraire. Les œuvres de cette class n'offrent point, comme les outils (marteau, tenailles), ou comme les œuvres d'architecture et les produits du même genre, une possibilité de réédition en plusieurs exemplaires semblables enter eux. Le théorème de Pythagore, toute la géométrie n'existent qu'une seule fois, si souvent et même en quelque langue qu'ils puissent être exprimés. La géométrie  est identiquement la même dans la "langue originale" d'Euclide  et dans toutes les  "traductions".

[12] Husserl, Sdt: C'est justement aux objectivités idéales et thématiques de la géométrie que se rapporte maintenant notre problème: comment l'idéalité géométrique (aussi bien que celle de toutes les sciences) en vient-elle à son objectivité idéale à partir de son surgissement originaire intra-personnel dans lequel elle se présente comme formation dans l'espace de conscience de l'âme du premier inventeur? Nous le voyons par avance: c'est par la médiation du langage qui lui procure, pour ainsi dire. sa chair linguistique; mais comment, à partir d'une formation purement intra-subjective, l'incarnation linguistique produit-elle l'objectif, ce qui, par exemple comme concept ou état-de choses géométriques, est effectivement présent, intelligible pour tout le monde, maintenant et pour toujours, étant déjà accrédité dans son expression linguistique comme discours géométrique, comme proposition géométrique dans son sens géométrique

idéal?

 

(c̣n tiếp)

Đặng Phùng Quân
 

http://www.gio-o.com/DangPhungQuan.html

 

© gio-o.com 2015