ĐẶNG PHÙNG QUÂN

HUSSERL VÀ CHỦ NGHĨA (L)Ư TƯỞNG

TRONG THẾ GIỚI HIỆN ĐẠI 

biên khảo triết học nhiều kỳ

kỳ 21

(tiếp theo)

 

Kỳ 1, Kỳ 2 , Kỳ 3 , Kỳ 4 , Kỳ 5 , Kỳ 6 , Kỳ 7 , Kỳ 8 , Kỳ 9 , Kỳ 10 , Kỳ 11 , Kỳ 12 , Kỳ 13 , Kỳ 14 , Kỳ 15 , Kỳ 16 , Kỳ 17 , Kỳ 18 , Kỳ 19 , Kỳ 20 , Kỳ 21 ,

 

Chương I

Khởi sinh từ triết lý toán học

 

Về biểu tượng

Sau khi nhắc tới hỗn đồng giữa tâm lý học và luận lý học trong lý luận về số của Husserl, Frege thảo luận quan niệm tiên khởi của Husserl là mọi vật trở thành biểu tượng, những tham chiếu từ ngữ là biểu tượng, trong trường hợp từ "số" chẳng hạn, mục đích nhằm phô bầy biểu tượng thuộc nó và miêu tả khởi sinh và hợp thành của nó. Những đối tượng là biểu tượng, cho nên Husserl có vẻ đồng ý với quan điểm của J. St. Mill về đối tượng, dầu là thể chất hay tinh thần cũng ở vào trong tình trạng ý thức và trở thành phần tử của tình trạng này.[69]

Frege nhận xét: Khi mọi thứ đều là biểu tượng, ta có thể dễ dàng thay đổi đối tượng qua việc hoặc chú ý hay không chú ý chúng; quả thực không chú ý đến một đặc tính và nó biến đi, khi lần lượt chúng biến đi, ta nhận được những khái niệm gia tăng trừu tượng hơn, vì thế khái niệm cũng là biểu tượng, chỉ kém đầy đủ hơn đối tượng, vẫn mang những đặc tính của đối tượng không trừu tượng. Chẳng hạn, giả sử trước chúng ta là một con mèo đen và một con mèo trắng ngồi cạnh nhau; ta không để ý đến màu sắc của chúng, chúng trở nên không có màu sắc song vẫn ngồi cạnh nhau; không để ý đến tư thế của chúng: chúng không ngồi nữa tuy nhiên không giả định có tư thế khác, song mỗi con mèo vẫn ở chỗ của chúng; không để ý đến chỗ của chúng, chúng không có chỗ, song vẫn khác nhau, như vậy từ mỗi con mèo có thể rút ra một khái niệm chung của mèo. Tiếp tục quá trình như thế, từ mỗi đối tượng rốt cuộc rút ra một cái gì đó hoàn toàn không bị ràng buộc vào nội dung của nó, song cái rút ra từ một đối tượng vẫn khác với cái rút ra từ một đối tượng khác, dẫu khó nói như thế nào! Dẫu sao Husserl nói là "khái niệm của cái gì đó hình thành ở suy niệm trên hành vi tâm linh của biểu tượng" [70]. Theo Frege, trong khi đem một đối tượng vào một khái niệm thật sự là nhìn ra một tương giao đã nhận được trước đó, trong trường hợp hiện tại, những đối tượng chủ yếu được biến đổi qua quá trình này, như vậy những đối tượng từ cùng khái niệm trở nên tương tự như nhau.

Luận điểm chính trong phê phán của Frege là khác với biểu tượng trong lý luận dẫn trên của Husserl, những thành tố của một tư tưởng, và ngay cả chính những sự vật cũng phải phân biệt  với những biểu tượng trong tinh thần đi theo việc nắm giữ tư tưởng và con người có đối với những sự vật này. Khi phối hợp  dưới từ "biểu tượng", cả hai cái là chủ quan và khách quan, đã làm lu mờ đi biên giới giữa cả hai  theo cách là có khi là biểu tượng theo chính ý nghĩa của từ đã được xem như một cái gì khách quan, và có khi một cái gì khách quan được xem như biểu tượng. Cho nên ở trường hợp của tác giả [Husserl], tổng thể (dãy, phức số) khi thì hiện ra như một biểu tượng, khi thì là một cái gì khách quan. Liệu có thể gọi mặt trăng là một biểu tượng?     

Về định nghĩa

Qua cách thức tư duy có đặc tính tâm lý-luận lý như trên, có thể dễ dàng hiểu Husserl phán đoán về định nghĩa ra sao? Lấy ví dụ từ hình học sơ cấp trong định nghĩa thông thường như sau: "Một góc vuông là một góc bằng góc kề bên của nó", Husserl có lẽ sẽ luận điều đó như sau: "biểu tượng của một góc vuông là một biểu tượng đơn giản; cho nên phương thức nhằm định nghĩa nó thật hoàn toàn sai lầm. Trong biểu tượng của chúng ta về góc vuông, không có quan hệ nào vói góc kề bên của nó. Thật ra nói cho đúng là: những khái niệm "góc vuông" và "góc bằng góc kề bên của nó" có cùng trương độ; song khi nói chúng có cùng nội dung thì không đúng. Trương độ đã được xác định, thay vì nội dung. Nếu định nghĩa giả sử đúng, thì bất kỳ quyết đoán nào về cái gì là một góc vuông phải tham chiếu, không phải tới cặp cạnh bên cụ thể chúng ta có trước mắt, mà chỉ tới quan hệ của chúng với cặp khác. Tất cả những gì có thể chấp nhận là tương đẳng với góc kề cho ta một tiêu chuẩn ắt có và đủ cho một góc vuông".[71] Frege nghĩ cũng theo đường lối tương tự như vậy, Husserl phán đoán giá trị của định nghĩa đẳng số qua tương quan đơn nhất một-một: "Tiêu chuẩn đơn giản nhất của tương đẳng số rõ ràng ở sự kiện  đi tới cùng con số trong việc đếm những phức số đem ra so sánh."[72] Dĩ nhiên, trắc nghiệm đơn giản nhất về góc vuông là dùng thước đo góc; Husserl đã quên là phép đếm này dựa trên tương quan đơn nhất một-một, nghĩa là giữa những số từ 1 đến n và những đối tượng của dãy số. Mỗi một trong hai dãy số phải được đếm, điều này khó khăn hơn nếu như xét tương quan tương ứng với đối tượng của hai dãy mà không có những số là những trung gian.

Frege nhấn mạnh đến sự phân cách giữa nhà luận lý tâm lý học với nhà toán học ở chỗ nhà luận lý nói trên quan tâm đến ý nghĩa của từ ngữ và biểu tượng, và không phân biệt, trong khi nhà toán học quan tâm đến chính sự việc, tham chiếu tới từ ngữ (ông đã bàn đến trong tiểu luận Về ý nghĩa và tham chiếu [73]). Phản bác ở đây không phải về khái niệm nhưng về trương độ được xác định thực sự áp dụng cho mọi định nghĩa toán học. Đối với nhà toán học, định nghĩa một tiết diện hình nón như thể giao tuyến của mặt phẳng với bề mặt với hình nón thì không đúng hơn hay kém xác định mặt cong trong phương trình bậc hai của tọa độ Descartes. Bất kỳ chọn định nghĩa nào cũng hoàn toàn phụ thuộc vào thực dụng của hoàn cảnh, mặc dầu những biểu ngữ này không cùng ý nghĩa hay biểu tượng. Frege xác định không phải vì thế mà xem khái niệm và trương độ của nó là một hay đồng nhất, song sự trùng hợp của trương độ là tiêu chuẩn ắt có và đủ để giữa những khái niệm của tương giao tương ứng với đồng nhất/Gleichheit giữa những đối tượng.

Từ ngữ "Gleihheit" Frege sử dụng muốn nói "đồng nhất", không phải "tương đẳng" (như Husserl dùng), cho nên ông xác định những nhà luận lý tâm lý nói trên thiếu hiểu biết về đồng nhất và những định nghĩa. Cho nên khi Frege nói là đồng ý với Husserl khi cho giải thích của Leibniz là "eadem sunt, quorum unum potest substitui alteri salva veritate"[74] không đáng gọi là một định nghĩa, song những lý do của Frege khác với của Husserl. Theo ông, bất kỳ định nghĩa nào là một đồng nhất, tự đồng nhất không thể định nghĩa. Giải thích trên của Leibniz có thể gọi là một công lý/Axiom mang lại bản tính của tương quan đồng nhất. Cho nên ông không đồng ý với luận cứ của Husserl:"Chúng ta có thể nói đơn giản là bất cứ nội dung nào tương đẳng với nhau, nếu tương đẳng dựa trên những đặc tính khu biệt (trong hay ngoài) rõ ràng tạo thành tâm điểm lợi ích".[75]

Về những phát biểu số

Frege nói đến quan niệm của Husserl về phát biểu số liên hệ đến tập hợp (dãy số, phức số) của những đối tượng được đếm, cho nên một tập hợp có thể diễn tả bằng liên từ  "và". Theo đó, mọi phát biểu số có thể dưới dạng "A và B và C và... Q là n" hay có thể giản lược vào hình thái này. Tuy nhiên ông đặt vấn đề chúng ta có thể biết gì  qua mệnh đề "Berlin và Dresden và Munich là ba" - hay tương tự như vậy trong mệnh đề "Berlin và Dresden và Munich là một vật gì và một vật gì và một vật gì"? Điều đó không có nghĩa là Berlin thì khác với Dresden, Dresden khác với Munich, và Munich khác với Berlin; quả thực trong dạng thứ hai cũng không có gì đến khu biệt hay đồng nhất giữa Berlin và Dresden. Thật kỳ lạ là trong đời sống hàng ngày, hình thái xác nhận số này khó bao giờ xẩy ra, và khi xẩy ra cũng không nhằm là một phát biểu của số. Frege nhận xét thực sự chỉ có hai trường hợp: một là, với từ ngữ-số "hai", diễn tả khu biệt - "Rapeseed and rape are two/Rübsen und Raps sind zwei/hạt cải dầu là hai [sự việc khác nhau]"; hai là, với từ ngữ-số "một", diễn tả đồng nhất - "tôi và người cha là một". Ví dụ thứ hai thật tai hại; vì theo quan điểm của Husserl, phải gọi là "một vật gì và một vật gì" hay "là hai"! Thực sự chúng ta không hỏi "Có bao nhiêu là Caesar và Pompey và London và Edimburg?" hay "có bao nhiêu là Anh quốc và Ái nhĩ lan?"  và tôi muốn biết tác giả trả lời ra sao. Mặt khác chúng ta không hỏi, chẳng hạn, "Sao Hóa có bao nhiêu vệ tinh?" hay "Con số vệ tinh trên sao Hỏa là bao nhiêu?" và từ câu trả lời "Con số vệ tinh của sao Hỏa là hai" chúng ta biết được điều gì đó đáng giá khi hỏi. Cho nên chúng ta thấy cả hai trong hỏi cũng như trả lời chúng ta nhận được một từ ngữ, hay  một chỉ định phức tạp cho một khái niệm, thay vì là từ "và" mà tác giả yêu cầu. Làm thế nào tác giả thoát khỏi khó khăn? Ông nói số áp dụng cho trương độ của khái niệm, tập hợp: "Chỉ do một cách gián tiếp mà người ta có thể nói là khái niệm có đặc tính là con số... trở về trương độ"[76] Frege nhận xét,  điều này thực sự đã được nhìn nhận trong những gì ông chủ trương: trong phát biểu-số, một điều gì đó được xác nhận từ khái niệm. Ông sẽ không tranh luận về khẳng định áp dụng trực tiếp vào khái niệm hay gián tiếp vào trương độ, hay gián tiếp vào khái niệm và trực tiếp vào trương độ ra sao; hay đã cho cái này, thì cái kia nhận được. Song điều chắc chắn là không có chỉ định trực tiếp cho trương độ hay cho tập hợp, mà chỉ cho khái niệm. Nếu Husserl dùng "trương độ" cùng ý nghĩa với Frege, khó mà giữa tác giả với Frege khác nhau về tư kiến cũng như về ý nghĩa  của những khẳng định về số. Dĩ nhiên không thể, vì trương độ của một khái niệm không thể là tập hợp theo nghĩa của Husserl. Một khái niệm cho một đối tượng có một trương độ nhất định, cũng như một khái niệm không có đối tượng, cũng như một khái niệm có vô số những đối tượng một cách vô hạn. Với Husserl, không có tập hợp trong bất cứ trường hợp nào. Ý nghĩa của nhóm từ "trương độ của khái niệm những vệ tinh của sao Hỏa" thì không gì khác với nhóm từ "Deimos và Phobos"; và câu "con số của Deimos và Phobos là hai", nếu diễn tả không phải bất cứ tư tưởng nào, thì ít ra cũng diễn tà tư tưởng khác với câu "con số của những vệ tinh sao Hỏa là hai". Vì những câu của hình thái thứ nhất không bao giờ được dùng để tạo ra phát biểu số, Husserl không biết ý nghĩa của một phát biểu như vậy.       

            

-----------------------

[69] Sdt, tr.70:   Darauf giebt uns J. St. Mill in einer Note zu dem psychologischen Werke seines Vaters folgende verständliche und der Hauptsache nach ausreichende Antwort: "Any objects, whether physical or mental, are related, or are in a relation, to one another, in virtue of any complex state of consciousness. into which they both enter, even it be a no more complex state of consciousness than that of merely thinking  of them together. And they are related to each other in as many different ways, or in other words, they stand in as many distinct relations to one another, as there are specifically distinct states of consciousness of which they both form parts."

Hiezu seien einige Bemerkungen ergänzend hinzugefügt. Der Ausdruck Bewusstseinszustand (state of mind) ist hier nicht etwa als psychischer Act zu verstehen, sondern muss in dem weitesten Sinne genommen werden, derart, dass er in dem Umfange seiner Bedeutung geradezu mit 'Phaenomen' übereinstimmt.

[70] Sdt, tr. 86: (nguyên văn) Offenbar verdankt der Begriff den Etwas seine Entstehung der Reflexion auf den psychischen Act des Vorstellens, als dessen Inhalt eben jedes bestimmte Object gegeben ist.

[71] Trong nguyên văn Triết lý số học của Husserl, tr. 114: Alles was wir zugeben können ist: dass sie ein für alle Fälle giltiges, in logischem Sinne notwendiges und hinreichendes Kriterium für den Bestand der Gleichheit aufstellt. (Tất cả những gì có thể chấp nhận là nó [định nghĩa] thiết lập sự hiện hữu của tương đẳng một tiêu chuẩn có giá trị trong mọi trường hợp, ắt có và đủ theo ý nghĩa luận lý.)

[72] Sdt, tr. 115: das einfachste Kriterium für die Gleichheit der Zahl eben das Ergebniss derselben Zahl bei der Abzählung der Vergleichsmengen.

[73] Frege, Über Sinn und Bedeutung in Zeitschrift für Philosophie und philosophische Kritik,1892 in lại trong Funktion, Begriff, Bedeutung, 5 logische Studien, 6. Auflage (hrsg.von G. Patzig) 1986.

[74] "mọi sự vật đồng nhất với nhau, ớ đó cái này có thể thay thế cái kia mà không mất đi sự thật",

Tranh biện giữa hai nhà tư tưởng ở đây là một vấn đề: trước hết, trong tác phẩm Những cơ sở số học, Frege dẫn định nghĩa của Leibniz và xác nhận xem như định nghĩa của chính ông về đồng nhất, dầu Leibniz dùng từ " giống nhau" hay ông dùng từ "đồng nhất" cũng không có gì quan trọng: "Diese Erklärung eigne ich mir für die Gleichheit an. Ob man wie Leibniz "dasselbe" sagt oder "gleich", ist unerheblich." Frege, Die Grundlagen der Arithmetik.

Trong Triết lý số học, Husserl dẫn một định nghĩa của triết gia toán học Hermann Grassmann*: Có thể nói hai sự vật bằng nhau nếu như trong mọi phát biểu, cái này có thể thế chỗ cho cái kia. Leibniz cũng đã đưa ra cùng định nghĩa chủ yếu như thế: "Eadem sunt, quorum unum potest substitui alteri salva veritate" mà Frege coi như cơ sở kiến trúc khái niệm số của ông.( Hier die Definition des genannten philosophischen Mathematikers : „Gleich heissen zwei Dinge, wenn man in jeder Aussage statt des einen das andere setzen kann". Im Wesentlichen dieselbe Definition hat schon Leibniz aufgestellt: "Eadem sunt, quorum unum potest substitui alteni salva veritate", welche Frege seinem Aufbau des Zahlbegriffs zu Grunde gelegt hat). Husserl xác định không bị thuyết phục về giá trị của định nghĩa này.

* Bị chú: H. Grassmann, Lehrbuch d. Arithmetik, 1861.

[75] Husserl, Sdt, tr. 108:  Schlechthin sagen wir von irgend welchen Inhalten, sie seien einander gIeich , wenn Gleichheit in den (inneren oder äusseren) Merkmalen besteht, die gerade den Mittelpunkt des Interesses bilden.

[76] Husserl, Sdt, tr. 189: Nur indirect kann man allenfalls sagen, der Begriff hat die Eigenschaft, dass seinem Umfange die Zahl... zukommt.

 

 (c̣n tiếp)

Đặng Phùng Quân
 

http://www.gio-o.com/DangPhungQuan.html

 

© gio-o.com 2015