đào trung  đẠO

Thông Din Lun

Martin Heidegger

(28)

 

 

Kỳ 1,  Kỳ 2,  Kỳ 3,  Kỳ 4,  Kỳ 5,  Kỳ 6, Kỳ 7, Kỳ 8, Kỳ 9, Kỳ 10, Kỳ 11, Kỳ 12, Kỳ 13, Kỳ 14 Kỳ 15, Kỳ 16, Kỳ 17, Kỳ 18, Kỳ 19, Kỳ 20, Kỳ 21, Kỳ 22, Kỳ 23, Kỳ 24, Kỳ 25, Kỳ 26, Kỳ 27, Kỳ 28, Kỳ 29, Kỳ 30, Kỳ 31, Kỳ 32, Kỳ 33, Kỳ 34, Kỳ 35, Kỳ 36, Kỳ 37, Kỳ 38, , Kỳ 39, , Kỳ 40, Kỳ 41, Kỳ 42, Kỳ 43, Kỳ 44, Kỳ 45, Kỳ 46, Kỳ 47, Kỳ 48, Kỳ 49, Kỳ 50, Kỳ 51, Kỳ 52, Kỳ 53, Kỳ 54, Kỳ 55, Kỳ 56, Kỳ 57, Kỳ 58, Kỳ 59, Kỳ 60, Kỳ 61, Kỳ 62, Kỳ 63,  Kỳ 64,  Kỳ 65Kỳ 66, Kỳ 67, Kỳ 68, Kỳ 69, Kỳ 70, Kỳ 71, Kỳ 72, Kỳ 73, Kỳ 74, Kỳ 75, Kỳ 76, Kỳ 77, Kỳ 78, Kỳ 79, Kỳ 80, Kỳ 81, Kỳ 82, Kỳ 83, Kỳ 84, Kỳ 85, Kỳ 86, Kỳ 87, Kỳ 88, Kỳ 89, Kỳ 90, Kỳ 91, Kỳ 92, Kỳ 93, Kỳ 94, Kỳ 95, Kỳ 96,  Kỳ 97, Kỳ 98,  Kỳ 99,  Kỳ 100,  Kỳ 101, Kỳ 102,  Kỳ 103, Kỳ 104, Kỳ 105,  Kỳ 106, Kỳ 107,  Kỳ 108, Kỳ 109, Kỳ 110, 

 

 

      Trước khi t́m hiểu chặng đường cuối tư tưởng về yếu tính ngôn ngữ của Heidegger trong ba bài thuyết tŕnh mang chung tựa đề Das Wesen der Sprache /Yếu tính của Ngôn ngữ  chúng tôi muốn quay lại tŕnh bày sơ lược quan điểm về cách t́m hiểu tư tưởng  Heidegger của Walter Biemel (triết gia Roumania, học tṛ của Heidegger, một trong những học giả thế giá về Martin Heidegger và Edmund Husserl từ giữa thế kỷ 20) trong bài “Dichtung und Spache bei Heidegger/Thi ca và Ngôn ngữ trong Heidegger (bản dịch Anh văn Poetry and Language in Heidegger của Joseph J. Kockelmans in trong On Heidegger and Language, Northwestern University Press, 1972). Bài thuyết tŕnh này Walter Biemel đă đọc trong cuộc hội luận quốc tế về quan niệm ngôn ngữ của Heidegger vào ba ngày 18-21 tháng Chín năm 1969 tại Pennsylvania State University. Theo Biemel diễn giải Heidegger gặp nhiều khó khăn và thông thường người ta có hai cách tiếp cận tư tưởng Heidegger. Cách thứ nhất là đọc Heidegger theo thói quen như khi đọc các triết gia khác, nhất là các triết gia cổ điển, nghĩa là chốt triết học của Heidegger vào một số chủ đề hay khái niệm quen thuộc, rồi sau đó đưa ra phê phán. Làm theo cách này sẽ đi đến kết luận là cơ sở tư tưởng của Heidegger không đứng vững. Nhưng ngay từ bước đầu khi muốn chốt tư tưởng Heidegger vào những chủ đề hay khái niệm quen thuộc của triết học cổ điển th́ người ta nhận ra là điều này bất khả, và làm như thế sẽ đưa đến hai hệ quả: hoặc cơ sở tư tưởng của Heidegger không đứng vững, hoặc cách thức tiếp cận này là không thể chấp nhận được, và thường người ta có khuynh hướng chấp nhận hệ quả thứ nhất bằng không hóa ra tự mâu thuẫn. Thật ra sự khó khăn tiếp cận này lớn hơn nhiều. Chính bởi v́ khi một triết gia có định ư  khảo sát truyền thống một cách cẩn trọng, nỗ lực đặt vấn đề với truyền thống, th́ việc dần dần từ bỏ ngôn ngữ triết học truyền thống là đương nhiên. Điều này thấy rơ ngay từ trong những giảng khóa thời trẻ của Heidegger và nhất là trong Sein und Zeit Heidegger đă dứt khoát phi bác cơ sở của triết học  nhị nguyên chủ thể-khách thể và mở con đường mới t́m hiểu con người như Dasein/Hiện thể. Nỗ lực vượt bỏ truyền thống của Heidegger cũng thấy trong quan niệm về hữu-thể-luận và hiện-tượng-luận (theo Heidegger hiện-tượng-luận của Husserl vẫn c̣n vướng trong nhị nguyên chủ thể-khách thể tuy Husserl đă “mở-đóng ngoặc […] siêu-h́nh-học truyền thống). V́ Heidegger quan niệm triết lư là một con đường nên khi tư tưởng diễn tiến ngôn ngữ cũng thay đổi theo. Chứng cớ trong những tác phẩm sau này ngay cả những khái niệm như hiện-tượng-luận, thong-diễn-luận, nền (Grund) cũng không c̣n được Heidegger nhắc tới nữa. Thế nên  nghiên cứu tư tưởng Heidegger đứng ở quan điểm triết học cổ điển là không thích hợp. Xa hơn nữa, nếu ta diễn giải/dịch triết lư của Heidegger bằng ngôn ngữ siêu h́nh học truyền thống, th́ hậu quả ta lại càng không thể hiểu Heidegger v́ quan điểm của Heidegger chính là “vượt bỏ siêu h́nh học truyền thống” đi đến sự chấm dứt, chung cuộc của triết học. Cách thứ nh́ tiếp cận tư tưởng Heidegger là làm một bước “nhảy vọt” và đứng trong vị trí đó như chữ Heidegger thường dùng. Nhưng khốn nỗi sau khi nhảy vọt vào người ta không biết những bước kế tiếp sẽ ra sao. Và nếu theo bước Heidegger th́ lại thấy con đường tư tưởng này khi th́ lui khi th́ tiến rất phức tạp cho nên chỉ c̣n cách lập lại lời của Heidegger. Như thế không thể gọi là diễn giải tư tưởng nữa mà chỉ c̣n là một sự sao chép. Ngoài ra, theo Biemel lại c̣n phải đặt câu hỏi có thật người diễn giải Heidegger đă diễn giải từ thái độ, quan điểm của Heidegger hay chẳng qua chỉ là tự ḿnh tin tưởng như vậy. Cách làm theo kiển này dựa trên một giả định đó là có thể đă coi ḿnh là Heidegger cho nên đă bỏ qua khâu phải kỳ khu từng bước đi trên con đường tư tưởng. Hậu quả là người diễn giải Heidegger dường như lại thông hiểu tư tưởng Heidegger hơn cả Heidegger! Làm vậy cũng đưa đến môt hậu quả khác là con đường tư tưởng đă bị chối bỏ. Nói cách khác, như vậy không phải là trung thành với Heidegger mà là phản-Heidegger, đă quên rằng Heidegger luôn nhắc nhở nên hiểu tư tưởng, triết lư của Heidegger như một con đường. Biemel đặt câu hỏi: Cả hai cách tiếp cận này đều bất khả vậy ta phải làm sao? Đặt câu hỏi xong Biemel thừa nhận rằng việc diễn giải Heidegger – cho đến thời điểm của bài viết Poesie und Dichtung – là bất khả v́ thực sự cho đến thời điểm này vẫn chưa có một ai là người song hành đối thoại với Heidegger. Biemel cũng thành thực nhận rằng “chúng ta vẫn là kẻ xa lạ đối với tư tưởng Heidegger,” và Biemel thử cố gắng nh́n ra tính chất xa lạ này khi bàn về quan niệm của Heidegger về thi ca và ngôn ngữ..

   Nhận định của Walter Biemel về việc diễn giải tư tưởng Heidegger mô tả khá chính xác thực trạng nghiên cứu Heidegger ở thời điểm những năm 60s. Những nhận xét kể trên của Biemel cho tới nay vẫn c̣n giá trị và đó cũng là lời cảnh báo những ai t́m hiểu Heidegger. Tuy nhiên điều khá ngạc nhiên là Biemel đă chỉ đi nửa con đường diễn giải, không đi trọn con đường thông diễn  Heidegger  như  cách Heidegger đă dùng để tiếp cận  và diễn giải những triết gia cổ điển và hiện đại cũng như thơ của Hőlderlin, Trakl, Rilke, và Stefan George. Biemel chỉ khiêm tốn làm một bài tập giải thích như một chuẩn bị cho việc diễn giải [Auslegung:Trong Sein und Zeit Heidegger dùng chữ này theo nghĩa “Sự phóng chiếu của am hiểu (understanding) tự nó có tính khả hữu – sự khả hữu tự triển khai (sich auszubilden). Sự triển khai của am hiểu này chúng tôi gọi là “sự diễn giải”… Diễn giải không phải là thủ đắc thông tin về cái được hiểu biết; đúng ra diễn giải là việc tiến hành những khả tính được phóng chiếu trong am hiểu”] (SuZ:148) . Rất nhiều thí dụ về “diễn giải” hiểu theo nghĩa này nơi Heidegger: chẳng hạn diễn giải Kant để soi chiếu cái ǵ không được nói ra trong tư tưởng Kant, diễn giải thơ Hőlderlin, Trakl, Rilke cũng theo ư định này.  Chúng tôi cho rằng chỉ dẫn của Biemel là hữu ích v́ sự phức tạp, khó khăn khi t́m hiểu Heidegger nhưng không phải là không thể vượt qua những khó khăn này được. Khó khăn phức tạp này có lẽ phần nào nằm ở chỗ những bước theo ṿng tṛn thông diễn của Heidegger tiến lui bất chợt và ngôn ngữ thông diễn cũng thay đổi ở những khúc quanh  khá bất ngờ, nhất là ở những tác phẩm sau “khúc ngoặt”.  

    Để dễ theo dơi tiếp quan niệm của Heidegger về ngôn ngữ ở giai đoạn cuối cùng một tóm gọn những giai đoạn trước xét ra là cần thiết: Ở giai đoạn Sein und Zeit (chương 5 giải thích về “Hữu tại” trong In-der-Welt-Sein §34 Hữu tại và diễn ngôn. Ngôn ngữ Heidegger quan niệm Dasein/Hiện thể như  λόγος, một trong ba thành tố của cấu trúc hiện thể (Existenzial). Hai thành tố kia là cảnh trạng (Befindlichkeit) và am hiểu nguyên ủy. Dasein/Hiện thể luôn luôn am hiểu thế giới và bản thân như những khả tính và khả năng này Heidegger gọi là diễn giải (Auslegung). Về thành tố λόγος trước hết Heidegger xác định như “sự bày tỏ/biểu lộ của tính khả tri”, tức là ư nghĩa (Sinn) của nó: “Tính khả tri của In-der-Welt-Sein – một khả tri đi kèm với cảnh trạng, tự bày tỏ trong λόγος” (SuZ:161). Ở giai đoạn SuZ khái niệm thế giới của Heidegger trước hết được hiểu thế giới là toàn thể ư nghĩa. Từ/chữ được sáng tạo để biểu lộ những ư nghĩa, từ/chữ cần có để bày tỏ ư nghĩa. Nhưng từ/chữ không tự thân hiện hữu để được cung cấp cho ư nghĩa mà Hữu của từ/chữ được biện minh bởi sự kiện chúng có thể làm ư nghĩa hiện rơ. “Chính trong λόγος mà sự biểu lộ ‘chỉ nghĩa’ của tính khả tri của In-der-Welt-Sein diễn ra” (SuZ:161). Điều cần lưu ư là không nên đồng nhất λόγος với ngôn ngữ v́ ngôn ngữ đon giản chỉ là cách trong đó và qua đó λόγος được biểu lộ, hiện ra trong thế giới, và trở thành một yếu tố của thế giới do đó có thể coi như một trong các sự vật t́m thấy trong thế giới. Heidegger phân biệt bốn thể thức của λόγος: “về cái ǵ” tức là nói về cái ǵ, “sự tuyên bố” tức là cái được nói ra trong lời nói,  sự truyền đạt hiểu theo nghĩa hẹp nghĩa là nói với người khác, và sự hiển lộ tức là cái được λόγος phơi trần, giải thoát. Càng về sau Heidegger càng chuyên chú vào thể thức sau cùng này dẫn tới việc liên hệ λόγος với chân lư. Cũng không nên quên rằng trong giai đoạn SuZ Heidegger đặt tầm quan trọng vào nghe hơn là nói và phê phán giới ngữ học đă quan niệm λόγος là sự phát ra tiếng (Aussage), coi ngôn ngữ như sự vật sẵn-trong-tầm-tay. Sang giai đoạn thứ hai quan niệm của Heidegger phát triển theo một hướng khác bắt đầu với bài thuyết tŕnh Der Ursprung der Kunstwerkes/Nguồn gốc của Công tŕnh Nghệ thuật năm 1935 (sau này được in trong tập Holzwege [HW/GA5] năm 1950). Heidegger quan niệm “Tất cả mọi nghệ thuật, coi như việc làm cho sự cố chân lư của hữu được hiện ra như thế đó, từ trong yếu tính là thi nghệ” [Ở đây chúng tôi dùng chữ thi-nghệ cho Poetry và Poesy là thi ca](GA5:59). Như vậy nghệ thuật là việc làm cho sự “phơi mở” diễn ra. Cũng nên nhớ Heidegger quan niệm chân lư là sự phơi mở: cả sự vật lẫn con người chỉ tới được chân lư khi cả hai bên cùng phơi mở, đặt ḿnh trong sự phơi mở. Phơi mở ở đây không được hiểu như việc đưa từ tối ra sáng mà như một môi trường trung gian (medium) làm cho một số nét nào đó của hữu được lộ hẳn ra từng lúc để hữu có thể tự tŕnh ra đúng theo sự phơi mở đă được hoàn thành. Chính v́ vậy sự phơi mở cũng thay đổi tùy thời, tùy nơi. Điều này làm cơ sở để giải thích được sự khác biệt của nghệ thuật từng thời đại, từng quốc gia. Heidegger viết: “Chính từ yếu tính thi nghệ của nghệ thuật cho nên mới có việc nghệ thuật dựng lên giữa các hữu một chỗ mở rộng trong cái tính chất phơi mở của nó mọi vật khác với thông thường.” (GA 5:59). Nhưng “việc hiện ra” nghĩa là việc tính chất phơi mở xảy ra không đơn giản chỉ là thành tựu của con người mà chính là Hữu trao gửi cho con người và tùy con người mở rộng để đón bắt hay khép kín từ chối. Như vậy càng rơ ra nghệ thuật là một khả tính của phơi mở, của gặp gỡ. Dĩ nhiên sự  phơi mở cũng thay đổi, và đó là sự thay đổi trong phóng chiếu “vén mở”/khai quang ẩn mật, quét sạch hết bóng tối che khuất. Sự thay đổi ở đây được hiểu như “phóng chiếu khai quang”, một  phóng chiếu trong đó cái được phóng chiếu chính là tính chất phơi mở. Heidegger sau này đặc biệt chỉ ra  tính chất của sự phóng chiếu này không phải là do con người mà là chính Hữu “tung ra”. Ngay như trong câu “Cái mà thi nghệ như một phóng chiếu khai quang mở ra trong cách thế của sự mở ẩn dấu (unconcealment) và những phóng chiếu vào kẽ hở của h́nh thức là sự mở ra để cho sự mở ẩn dấu xảy ra theo một cách nào đó sao cho trong đám vô số những hữu sự mở ra làm cho các hữu tỏa sáng và hiện rơ” (HW:60). Heidegger hiểu thi nghệ theo một nghĩa rất rộng như một điều kiện căn bản của mọi nghệ thuật, kể cả nghệ thuật ngôn ngữ (Sprach-kunst), và để tránh sự hiểu lầm thi nghệ là thi ca, và Heidegger dành cho nghệ thuật ngôn ngữ một vị trí ưu đăi trong các nghệ thuật v́ “ngôn ngữ trước hết và trên hết thảy đem hữu như hữu ra chỗ trống” (HW:60). Đặt/gọi tên hữu tức là phơi mở, và nói lên ở ngang tầm với phóng chiếu khai quang, v́ qua sự nói lên mở ẩn dấu đi vào hữu.

(c̣n tiếp)

đào trung  đẠO           

http://www.gio-o.com/DaoTrungDao.html

 

© gio-o.com 2011