đào trung đąo
Thông Diễn Luận
Martin Heidegger
(68)
Kỳ 1, Kỳ 2, Kỳ 3, Kỳ 4, Kỳ 5, Kỳ 6, Kỳ 7, Kỳ 8, Kỳ 9, Kỳ 10, Kỳ 11, Kỳ 12, Kỳ 13, Kỳ 14 Kỳ 15, Kỳ 16, Kỳ 17, Kỳ 18, Kỳ 19, Kỳ 20, Kỳ 21, Kỳ 22, Kỳ 23, Kỳ 24, Kỳ 25, Kỳ 26, Kỳ 27, Kỳ 28, Kỳ 29, Kỳ 30, Kỳ 31, Kỳ 32, Kỳ 33, Kỳ 34, Kỳ 35, Kỳ 36, Kỳ 37, Kỳ 38, , Kỳ 39, , Kỳ 40, Kỳ 41, Kỳ 42, Kỳ 43, Kỳ 44, Kỳ 45, Kỳ 46, Kỳ 47, Kỳ 48, Kỳ 49, Kỳ 50, Kỳ 51, Kỳ 52, Kỳ 53, Kỳ 54, Kỳ 55, Kỳ 56, Kỳ 57, Kỳ 58, Kỳ 59, Kỳ 60, Kỳ 61, Kỳ 62, Kỳ 63, Kỳ 64, Kỳ 65, Kỳ 66, Kỳ 67, Kỳ 68,
Từ 1928 Marcuse nỗ lực xây dựng một “triết lư cụ thể” như một tổng hợp Sein und Zeit/Hữu và Thời của Heidegger với Bản thảo Kinh tế và Triết học và Hệ tư tưởng Đức của Marx. Marcuse đặc biệt tâm đắc về phân tích Dasein/Tại thể của Heidegger nhưng chỉ lọc ra phần phân tích tại thể công chính và bất công chính và coi đó là tương quan cụ thể cả Marx cũng như triết học phái Tân-Kant đă bỏ qua không đề cập. Qua nối kết những điểm giữa hữu thể luận hiện thể với duy vật lịch sử Marcuse cho rằng “triết lư cụ thể” nhằm chống lại triết học hậu-Descartes truyền thống gịng chính quá đề cao vai tṛ của chủ thể, đặt lư thuyết trên thực hành. “Triết lư cụ thể” phế bỏ nhị nguyên chủ thể-khách thể và thuyết duy ngă trung tâm (egocentrism) v́ theo Heidegger Dasein/Tại thể nhất thiết là Cộng thể (Mitsein) và thế giới của Dasein/Tại thể là Thế giới-Cộng sinh (Mitwelt). Marcuse cũng nh́n ra sự tương đồng giữa quan niệm về sử tính của Heidegger với duy vật lịch sử của Marx v́ Hữu và cấu trúc của hữu là một chuyển động làm/trong lịch sử và theo Marx hiện sinh thiết yếu có tính chất lịch sử. Dù Heidegger cho rằng tính chất bị ném vào trong (throwness) của hữu-trong-thế-giới nhưng Dasein/Tại thể nắm lấy những khả hữu trong dự phóng để hiện hữu một cách công chính (authentic), tính chất công chính này đạt được qua quyết định đối mặt với hiện hữu kiện tính. Ngoài ra Marcuse cũng cho rằng nơi Heidegger “Dasein/Tại thể sinh mệnh” (fateful Dasein) đă hiện hữu trong Mitsein và v́ vậy chuyển vận lịch sử của nó cũng “cùng trong lịch sử” với tha nhân. Từ nh́n nhận sự kiện “bị ném vào” (throwness) của Dasein/Tại thể do Heidegger mô tả trong Sein und Zeit Marcuse phối hợp tư tưởng Marx-trẻ đi đến kết luận con người “tự nắm lấy sinh mệnh lịch sử của ḿnh”, triết lư Heidegger chỉ ra điều con người trực tiếp đối diện với hoàn cảnh lịch sử, những qui định cụ thể của lịch sử và những khả tính của hành động. Marcuse kết luận một “triết lư cụ thể” phải: thứ nhất, khởi từ phân tích hoàn cảnh xă hội-lịch sử thời đại; thứ nh́, phải thay đổi phương pháp bằng cách xuyên suốt những khoa học lịch sử (lịch sử, xă hội học, kinh tế học) để nắm bắt những kết quả của những khoa học này và đưa vào phân tích cụ thể những dạng thức kiện tính của việc hiện hữu; thứ ba, Marcuse cho rằng Heidegger đă cố t́nh làm ngơ trước những truy cứu có tính cách tại thể (ontic) này nên đă không chỉ ra ngả tiếp cận chúng. Theo Marcuse, về chủ đề này Dilthey đi xa hơn Heidegger và Marx lại c̣n đi xa hơn hết trong việc hiểu rằng “chính từ bản chất Dasein luôn luôn là cụ thể trong một hoàn cảnh lịch sử nhất định thế nên Dasein được qui định bởi những hoàn cảnh vật chất có thể phân biệt rơ; thứ tư, từ nhận định vừa nêu Marcuse phủ nhận hướng phân tích đi t́m ư nghĩa của hữu và thế giới trong hữu thể luận hiện thể của Heidegger, phê phán Heidegger đă làm cho chúng ta không lưu ư tới những khác biệt về xă hội, kinh tế, và văn hóa của Dasein. Marcuse cho rằng Dasein thiết yếu bị qui định bởi thế giới Cùng và Chung cụ thể (Mitwelt, Umwelt). Nói khác đi, có sự khác nhau về ư nghĩa của những thế giới khác nhau trong những nền văn hóa khác nhau (tư sản, nông dân, công nhân); thứ năm, Marcuse cho rằng quan niệm về Dasein của Heidegger là một “Dasein bị cô lập”, Marcuse hướng về thực tiễn nên mở rộng quan niệm về Dasein, đưa vào phân tích về Dasein những yếu tố như giai cấp, cộng đồng, và xă hội trong những điều kiện sống chia xẻ. Trở lại với ư niệm hiện hữu “công chính” Marcuse cho rằng “dự phóng công chính” phải là công cộng chứ không thể là riêng tư, “Triết lư cụ thể trở thành công cộng trong việc trở thành lịch sử.” Gesammelte Schriften I, 404); và sau hết, Marcuse đề ra mục tiêu thực tiễn của “Triết lư cụ thể” là một thực hành chính trị nhằm biến đổi xă hội với mục đích dọn đường cho một thực tại mới được coi như hiện thực toàn thể hữu con người. Theo Marcuse, câu hỏi làm thế nào để có thể hiện hữu một cách công chính chỉ có thể t́m được giải đáp trong việc cứu xét toàn bộ hoàn cảnh sống cụ thể hiện tại để đưa tới hành động biến đổi, sinh mệnh con người hôm nay phải phá bỏ sự áp chế của quá khứ được Marx cũng như Lukács phân tích trong ư niệm vật hóa (reification).
Trong giai đoạn đầu trước khi di dân sang Mỹ chúng ta thấy Marcuse rất trăn trở về ư niệm lịch sử, “sử tính” nhằm đặt cơ sở cho duy vật lịch sử nên đă đi từ Hegel qua Marx trẻ, từ Heidegger qua Dilthey và Lukácz rồi lại trở lại với Hegel và Marx trẻ. Marcuse muốn triển khai một lư thuyết về sử tính toàn diện hơn. Marcuse rời bỏ Heidegger khi đọc Vom Wesen des Grundes/Yếu tính của Nền tảng và Kant und das Problem der Metaphysik (cả hai được xuất bản năm 1929) v́ Marcuse nghi ngờ con đường tư tưởng của Heidegger không thực sự hướng đến một lịch sử của sử tính. Trước khi di dân qua Mỹ, trong thời gian sống lưu vong ở Thụy sĩ, Marcuse viết bài điểm sách của Karl Jaspers “Philosophie des Scheiterns: Karl Jaspers Werk/Triết học của Thất bại: Tác phẩm của Karl Jaspers” vào năm 1933 – đây cũng là thời điểm Marcuse tách khỏi ảnh hưởng của Heidegger bước sang giai đoạn hai - tuy Marcuse ngả sang triết lư hiện sinh của Jaspers hơn v́ ư nghĩa đạo đức trong tư tưởng Jaspers nhưng vẫn cho rằng chung cuộc Jaspers cũng thất bại trong việc tra hỏi những vấn đề cụ thể của hiện sinh hôm nay v́ tất cả những điều triết học hiện sinh nói về lịch sử đều trừu tượng và không ăn nhập ǵ với hoàn cảnh lịch sử vật chất hiện tại con người đang sống hôm nay v́ vậy không chỉ ra được những hành động khả thi để biến đổi hoàn cảnh lịch sử. Marcuse trở lại với phê phán kinh tế chính trị của Marx trẻ diễn giải về yếu tính con người và sự thực hiện trong lịch sử yếu tính này trong lao động dựa trên ư niệm Vergegenständlichtung của Hegel như sự xuất ngoại sức mạnh thiết yếu của con người. Cũng trong khoảng thời gian này trong bài “Über die philosophischen Grundlagen des wirtschaftswissenschaftlichen Arbeitsbegriffs” bàn về nền tảng của lao động Marcuse cho rằng “lao động là một ư niệm hữu thể học, có nghĩa đó là một ư niệm nắm bắt chính Hữu của Dasein/Tại thể như nó là.” Như vậy ta thấy hơi hướng Heidegger vẫn c̣n phảng phất trong lư giải lao động theo Hegel và Marx. Khi đă đến Mỹ, nhất là khi đọc bài diễn văn nhậm chức viện trưởng Rektoratsrede của Heidegger năm 1934 th́ Marcuse cắt đứt hẳn với Heidegger và quay ttrở về với quan niệm về sứ mạng phê b́nh của triết học cũng như khái niệm về lư trí và trách nhiệm của Kant, cho rằng một lư thuyết duy lư về xă hội thiết ỵếu có tính chất phê b́nh và trở lại diễn giải Hegel theo một cách thức mới trong quyển Lư trí và Cách mạng viết năm 1941. Thành quả của công tŕnh của Marcuse một thời đặt những nền tảng cho Lư thuyết Phê b́nh và “chủ thuyết Marx Tây phương” nhưng từ thập niên 60 thế kỷ trước ảnh hưởng của Marcuse đă nhạt dần và đi vào quên lăng dù cho những đệ tử của Marcuse như Douglas Kellner cố gắng phục hồi bằng cách tái bản những tác phẩm hay nhất của Marcuse nhưng kết quả không khả quan.
Ngày nay đọc lại những điều Marcuse hiểu và thu tập từ Heidegger vào giai đoạn thứ nhất cũng như những phê phán của Marcuse về Heidegger trong giai đoạn thứ hai chúng ta thấy Marcuse đă đọc/hiểu/diễn giải Heidegger theo một cách rất “b́nh dân” như kiểu nói của Maurice Merleau-Ponty (Notes de cours 1959-1961, nxb Gallimard, Collection Biblitheque de Philosophie 1996, trang.92) cho nên Marcuse đă vội từ bỏ con đường tư tưởng của Heidegger cũng như Habermas sau này khi đọc những sách vở của Heidegger viết sau năm 1934 đă ngộ nhận khi cho rằng Heidegger đă “thay đổi” quan điểm triết học.
(c̣n tiếp)
đào trung đąo
http://www.gio-o.com/DaoTrungDao.html
©gio-o.com 2012