đào trung đąo

Thông Din Lun

Martin Heidegger

(62)

Kỳ 1,  Kỳ 2,  Kỳ 3,  Kỳ 4,  Kỳ 5,  Kỳ 6, Kỳ 7, Kỳ 8, Kỳ 9, Kỳ 10, Kỳ 11, Kỳ 12, Kỳ 13, Kỳ 14 Kỳ 15, Kỳ 16, Kỳ 17, Kỳ 18, Kỳ 19, Kỳ 20, Kỳ 21, Kỳ 22, Kỳ 23, Kỳ 24, Kỳ 25, Kỳ 26, Kỳ 27, Kỳ 28, Kỳ 29, Kỳ 30, Kỳ 31, Kỳ 32, Kỳ 33, Kỳ 34, Kỳ 35, Kỳ 36, Kỳ 37, Kỳ 38, , Kỳ 39, , Kỳ 40, Kỳ 41, Kỳ 42, Kỳ 43, Kỳ 44, Kỳ 45, Kỳ 46, Kỳ 47, Kỳ 48, Kỳ 49, Kỳ 50, Kỳ 51, Kỳ 52, Kỳ 53, Kỳ 54, Kỳ 55, Kỳ 56, Kỳ 57, Kỳ 58, Kỳ 59, Kỳ 60, Kỳ 61, Kỳ 62,  

 

Để dễ theo dơi nhận định của Apel về Heidegger chúng ta không theo trật tự thời gian của những bài viết mà bắt đầu bằng bài “Xậy dựng Ư nghĩa và Biện chính Giá trị: Heidegger  và vấn đề triết học siêu nghiệm” viết năm 1989. Để mở đầu Apel duyệt xét ảnh hưởng của Heidegger tính cho đến thời điểm của bài viết với câu hỏi trước hết là: “trên thực tế, ta có thể đặt sức mạnh ảnh hưởng hôm nay của Heidegger ở đâu?” (Transformation:177). Trước hết, theo Apel, ảnh hưởng này không giống như ở thời điểm năm 1945 khi người ta bị quyến rũ bởi một “triết học hiện sinh” được tŕnh bày trong Sein und Zeit. Vào giai đoạn này ảnh hưởng cũng không nằm ở dự án về một “hữu thể luận nền tảng” như chính Heidegger ngay từ đầu đă cảnh báo về sự ngộ nhận nếu như hiểu rằng đó là một dự án hiện sinh. Đúng ra Apel cho rằng “Cái tạo nên ảnh hưởng [của Heidegger] thật ra là sự khẩn  thiết của một “giải cấu” toàn bộ siêu h́nh học Tây phương, một giải cấu đă được nêu ra trong Sein und Zeit, nhưng giải cấu này sau “bước ngoặt” lại quay sang đối nghịch với quan niệm về “hữu thể luận nền tảng”; giải cấu này là một phản tư về sự vượt qua hiểu theo nghĩa “vượt lên trên” giản đồ hữu-luận lư (onto-logique) , giản đồ này từ lâu dă được giả định trong tư tưởng Tây phương kể từ Plato ...” Việc trở về qua giải cấu những khởi đầu của triết học cổ Hy Lạp trước Plato bằng cách dựng lại một cách có phê phán và phá bỏ mọi h́nh thức quen thuộc của tư tưởng đặc trưng của siêu h́nh học và của khoa học để tái chiếm không gian của một “tư tưởng khởi nguyên” có thể cung cấp những giả định cho một tư tưởng hậu-siêu-h́nh và hậu-kỹ-thuật để tiến tới “sự soi sáng hữu” coi như khả tính. Theo Apel, chính công tŕnh Destruktion/giải cấu của Heidegger đă mở đường cho tư tưởng hậu siêu h́nh học (postmétaphysique) và cả hậu triết học (posphilosophique) và trong mức độ cũng là hậu duy lư (postrationnelle) [chứ không là ngoại lư (irrationnelle) theo Heidegger] đă gây được sự quyến rũ trong hai thập niên cuối thế kỷ 20. Chúng ta có thể thấy được ảnh hưởng này trong “chủ thuyết hậu hiện đại” Pháp và Ư với đại diện tiêu biểu là Jean-Francois Lyotard và Gianni Vattimo cũng như trong chủ thuyết tân-thực dụng (néopragmatisme) Mỹ với đại diện là Richard Rorty.  Ảnh hưởng của Heidegger trong hai thập niên mới đây phát huy qua sự giao thoa với những chuyển biến triết học ở lục đại Âu-châu và ở những xứ dùng Anh ngữ trước đó có liên hệ tới ảnh hưởng có tính chất lịch sử của tác phẩm Sein und Zeit. Nh́n toàn bộ người ta có thể xem như những bề mặt của một sự xoay hướng (tournant) của triết học ngả sang một thông diễn luận về ngôn ngữ hay một kư hiệu học (sémiotique) và một quan điểm thực dụng (pragmatique). Trước hết là giao thoa giữa thông diễn luận về Tại thể/Dasein với “triết học về ngôn ngữ thông thường/Ordinary language philosophy” của Gilbert Ryle và nhất là với triết học về những tṛ chơi ngôn ngữ của Ludwig Wittgenstein. Thứ đến là giao thoa giữa thông diễn luận của Heidegger và Gadamer với lư thuyết “hậu-thực-nghiệm” được tŕnh bày bởi Thomas Kuhn và những đại biểu của “triết lư khoa học mới”/New Philosophy of Science. Sau hết là giao thoa giữa “thuyết hậu hiện đại” với thuyết tân-thực-dụng (néopragmatisme) của Richard Rorty.

   Nhưng câu hỏi Apel đặt ra về những sự giao thoa này là: những ảnh hưởng có tính lịch sử kể trên có thể t́m chỗ dựa ở đâu, nói khác đi những ảnh hưởng này đă đặt cơ sở trên dạng thức tư tưởng nào của triết học Heidegger? Apel cho rằng thuyết hâu hiện đại Pháp-Ư cũng như thuyết tân-thực-dụng hậu-Wittgenstein (neopragmatisme postwittgensteinien) trước hết dựa trên chiều hướng hủy-siêu-nghiệm (détranscendantaliser) và lịch-sử-hóa (historiser) vấn đề bán-siêu-nghiệm (quasi transcendental) của sự xây dựng ư nghĩa (constitution du sens)  trong thế giới nghiệm sinh. Chiều hướng này nằm trong quan niệm của Heidegger về chân lư như a-letheia nghĩa là “soi sáng” ư nghĩa có trước phán đoán đúng-sai được tŕnh bày trong Sein und Zeit qua phân tích thông diễn tại thể “tiền-cấu-trúc” của mọi am hiểu về thế giới. Trong triết học Heidegger cấu  trúc của “sự khác biệt hữu-hữu thể luận” (ontico-ontologique) tương hệ với “biến cố” “soi sáng” được coi như điều kiện khả hữu của việc xây dựng ư nghĩa ngôn ngữ. Nơi Derrida cấu trúc này được liên hợp với sự biệt phân song song giữa cái chỉ hiệu và cái được chỉ hiệu. Nhưng tại sao ta có thể cho rằng phân tích của Heidegger về cái “luôn luôn đă là” của sự “phơi mở” của “hữu tại thế” (être-dans-le-monde) lại nêu ra một vấn đề bán-siêu nghiệm và đồng thời lại cũng đặt vấn đề này vào sự “hủy siêu nghiệm hóa” (détranscendantalisation) hiểu theo nghĩa của một sự lịch sử hóa (historisation)? Trước khi đưa ra phản biện Heidegger về vấn đề những điều kiện khả hữu của sự am hiểu/lănh hội thế giới và cũng là vấn đề xây dựng ư nghĩa thế giới Apel cho rằng Heidegger đă dẫn khởi “một sự chuyển biến thông diễn luận và hiện tượng luận triết học siêu nghiệm…theo nghĩa đó là một sự mở rộng và một giải đáp mới cho câu hỏi về những điều kiện khả hữu của sụ am hiểu thế giới và, trong giới hạn này, về sự xây dựng ư nghĩa thế giới.” (Transformation:181). Cũng cần nhắc lại là Apel đă đọc Heidegger để viết luận án tiến sĩ từ những năm cuối thập niên 40s thế kỷ trước, nhất là quyển Zur Sache des Denkens cho nên suốt lộ tŕnh theo dơi tư tưởng cho đến bước ngoặt và ảnh hưởng của Heidegger ở những thập niên sau đó Apel đă đi đến kết luận: “sự tái xây dựng và câu trả lời mới chính Heidegger đă gợi ra trong Sein und Zeit, và trên hết thảy là ở quyển sách thứ nhất ông viết về Kant [Kant und das Problem der Metaphysik] , cho rằng vấn đề Kant đặt ra như một vấn đề về những điều kiện “hữu thể luận nền tảng” về sự khả hữu của siêu h́nh học, trong toàn thể đă chỉ đề cập tới một khía cạnh của những điều kiện siêu nghiệm của chân lư: những điều kiện hữu thể học nền tảng này nói cách khác mới chỉ đề cập tới có một nửa dự án của Kant mà thôi. Đối với Heidegger, từ dự án này luôn luôn chỉ có việc xây dựng ư nghĩa của hữu, chiếu sáng và phơi mở, và được làm cho khả hữu trong “tại” của “hiện thể” (ek-sistence) con người. Từ sự xây dựng ư nghĩa này Heidegger cuối cùng nói rằng sự xây dựng này chưa hản là chân lư, nhưng đúng ra là điều kiện khả hữu của những phán đoán đúng và sai.” (Transformation 181).  Theo Apel, dù cho cách lập ra câu hỏi này có thể được hiểu như một sự xây dựng lại vấn đề siêu nghiệm của Kant nhưng thật ra Kant không hề trực tiếp đặt vấn đề những điều kiện khả hữu của phán đoán sai hay đúng, thật ra Kant đă chỉ đặt câu hỏi về những điều kiện khả hữu của “khách quan tính”, và theo Kant, khách quan tính chỉ để làm cho nhận thức có thể trở nên có thể đúng mà thôi. Và cũng theo Kant, câu hỏi (và câu trả lời nếu có) về những điều kiện khả hữu của sự xây dựng một đối tượng, nghĩa là sự xây dựng ư nghĩa của khách quan tính, là một với câu hỏi (và câu trả lời nếu có) về những điều kiện khả hữu của giá trị liên chủ thể (validité intersubjective) của một nhận thức đúng. Apel cho rằng Heidegger đă không duy tŕ được sự đồng nhất này, một sự đồng nhất có tính cách quyết định cho việc tiếp cận quyển Phê b́nh Lư trí thuần túy, giữa hai khía cạnh của vấn đề siêu nghiệm về những điều kiện khả hữu của sự am hiểu thế giới; ít ra th́ Heidegger cũng đă không thể duy tŕ sự đồng nhất này theo nghĩa thật hiển nhiên đối với Kant về nền tảng khả hữu cho một giá trị liên chủ thể phổ quát một cách thật đơn giản (đối với mọi ư thức nói chung). V́ Heidegger trong Sein und Zeit đă đưa ra “dự phóng bị ném vào” của “hiện-thể-tại-thế” luôn luôn “đă có đó” vừa mở ra vừa khép lại và “luôn luôn là của tôi” hay “của anh” nên rơ ràng là câu trả lời cho câu hỏi về sự xây dựng ư nghĩa như thể là ngẫu nhiên, riêng biệt và có sử tính một cách triệt để. Do đó, điều đó thầm gợi ra rằng câu trả lời này hẳn cũng phải dẫn tới câu trả lời tương ứng với câu hỏi về giá trị thực sự liên chủ thể trong mức độ, theo Heidegger, chân lư khả hữu của một phán đoán luôn luôn đă phụ thuộc vào sự chiếu sáng và phơi mở lại có trước đó về ư nghĩa của hiện thể. Nói một cách tóm tắt, chính sự chuyển biến triết học siêu nghiêm do Heidegger đề xướng dường như hẳn phải dẫn tới sự “hủy siêu nghiệm” triết học như Rorty đă giả thiết. Nhưng câu hỏi đăt ra là: Có hẳn là không thể và không cần đặt ra mối tương quan giữa, dưới một h́nh thức khác, một mặt là câu hỏi (và có thể câu trả lời) về giá trị liên chủ thể của sự am hiểu của chúng ta về thế giới và, ở mặt kia, là câu hỏi về sự xây dựng ư nghĩa thế giới? Bằng cách đặt lại câu hỏi như thế th́ câu trả lời cho câu hỏi thứ nhất, vốn đă là sự biện minh cho chính giá trị của nó, tất nhiên phải dẫn tới sự tái-siêu-nghiệm (retranscendantalisation) triết học, và bằng một cách nào đó, sao cho sự nhấn mạnh đến giá trị phổ quát của những phán đoán đúng làm sao cho thích hợp với sử tính của mọi xây dựng ư nghĩa vừa soi chiếu vừa phủ chụp.

(c̣n tiếp)  

đào trung đąo

 

http://www.gio-o.com/DaoTrungDao.html

 

©gio-o.com 2012