đào trung đąo
Thông Diễn Luận
Martin Heidegger
(65)
Kỳ
1, Kỳ 2, Kỳ
3, Kỳ 4, Kỳ
5, Kỳ 6, Kỳ
7, Kỳ 8, Kỳ
9, Kỳ 10, Kỳ
11, Kỳ 12, Kỳ
13, Kỳ 14 Kỳ
15,
Kỳ
16,
Kỳ
17,
Kỳ
18,
Kỳ
19,
Kỳ
20,
Kỳ
21,
Kỳ
22,
Kỳ
23,
Kỳ
24,
Kỳ
25,
Kỳ
26,
Kỳ
27,
Kỳ
28,
Kỳ
29,
Kỳ
30,
Kỳ
31,
Kỳ
32,
Kỳ
33,
Kỳ
34,
Kỳ
35,
Kỳ
36,
Kỳ
37,
Kỳ
38,
, Kỳ
39,
, Kỳ
40,
Kỳ
41,
Kỳ
42,
Kỳ
43,
Kỳ
44,
Kỳ
45,
Kỳ
46,
Kỳ
47,
Kỳ
48,
Kỳ
49,
Kỳ
50,
Kỳ
51,
Kỳ
52,
Kỳ
53,
Kỳ
54,
Kỳ
55,
Kỳ
56,
Kỳ 57, Kỳ 58, Kỳ
59, Kỳ
60, Kỳ
61, Kỳ
62, Kỳ
63, Kỳ
64, Kỳ
65,
Trong bài Sự Xây Dựng Ư nghĩa và Việc Biện minh Giá trị với tiểu đề Heidegger và Vấn đề triết học Siêu nghiệm (Transformation:177-223) Apel đưa ra phản biện việc Heidegger đă đồng nhất sự xây dựng ư nghĩa (Sinnkonstitution) với vấn đề giá trị khả chứng của ư nghĩa (Geltungsrechfertigung). Như ở một phần trên đă nói, Apel phê phán Heidegger từ Sein und Zeit qua quyển Kant und das Problem der Metaphysik khi giải đáp vấn đề những điều kiện “hữu thể luận nển tảng” về sự khả hữu của siêu h́nh học đă chỉ bàn tới một khía cạnh của những điều kiện siêu nghiệm của chân lư cho nên mới chỉ giải quyết một nửa dự án của Kant. Apel viết: “Đối với Heidegger (trong quyển Zur Sache des Denkens), do vậy chỉ c̣n là vấn đề xây dựng ư nghĩa của Hữu, soi chiếu và phơi mở, và được làm cho khả hữu nơi cái “tại” của “hiện-hữu” (ek-sistence) con người. Từ việc xây dựng ư nghĩa này Heidegger cuối cùng nói rằng đó chưa hẳn là chân lư, nhưng đúng ra là điều kiện của sự khả hữu của phán đoán đúng thật (vrais) (nghĩa là những phán đoán đúng-corrects) và phán đoán sai trái (faux).” (Transformation:181). Từ góc nh́n siêu nghiệm như thế Heidegger mới chỉ đi nửa đoạn đường và Apel muốn đi nốt đoạn đường c̣n lại tới một chuyển biến triết học siêu nghiệm. Nhắc lại luận án tiến sĩ viết năm 1948 “Dasein và nhận thức” về Heidegger để đưa ra một diễn giải tri thức luận cho triết học của Heidegger dưới nhăn quan của một nhân học về nhận thức được khởi hứng từ quan điểm của Erich Rothacker chống lại việc đối lập “nguyên lư của ư nghĩa” với “nguyên lư của ư thức” do Karl Reinhold đề nghị trong việc tiếp nối triết học của Kant. Apel cho rằng ta có thể tóm gọn nguyên lư này như sau: “…một ư thức thuần túy (hiểu theo Kant đó là: một ư thức siêu nghiệm được trang bị những khả năng như “trực giác thuần túy” và “tri năng thuần túy” hay ngay cả như một ư thức định hướng thuần túy theo nghĩa của Husserl) tuyệt đối không thể nào t́m thấy ư nghĩa (significance) trong thế giới; ư thức thuần túy này không thể xây dựng được một thế giới sống trải (monde vécu) nào như thế giới được tạo nên bởi những tương quan có ư nghĩa.
Trong viễn tượng tiến tới một triết học siêu nghiệm Apel duyệt xét khái niệm “tiền cấu trúc” như sự phơi mở đặc biệt của hữu-đă-luôn-tại/ở-trong-thế-giới (La “préstructure” de l’ouverture proper à l’être-toujours-déjà-dans-le-monde) của Heidegger như một trả lời cho vấn đề siêu nghiệm đặt trên những điều kiện khả hữu của việc xây dựng/thiết lập ư nghĩa của thế giới như Heidegger chỉ ra nằm trong “tiền-cấu-trúc” của In-der-Welt-Sein như tiên thiên dẫn tới một triết học siêu nghiệm được cải biến là không tránh khỏi. Như vậy “tiền-cấu-trúc” có hai kích thước thích đáng: Thứ nhất, quan hệ chủ thể-đối tượng của ư thức khách quan khoa học luôn luôn đă được ḥa nhập vào trong sự nối kết có tính cách cấu trúc ư nghĩa đă bao gồm trong In-der-Welt-Sein, sinh hữu thấy ḿnh trong ḷng thế giới không phải là trước đó đă được hiểu từ cái nh́n thận trọng của “có liên hệ tới sự quan tâm” như thể “một dụng cụ trong tầm tay” và đồng thời cũng đă được hiểu “như thể một sự vật nào đó” trước mọi dự đoán. Như vậy In-der-Welt-Sein của đời sống hàng ngày không phải trước hết là tập hợp những sự vật khách quan hiện diện trong đó, và lại càng không phải là “sự hiện hữu của những sự vật để chúng h́nh thành một toàn thể do những qui luật chi phối” như Kant đă phản ánh trong sự thiết lập thế giới của những khoa học thiên nhiên. Với Heidegger, thế giới đúng ra là cái “tại/nơi chốn” của am hiểu tự hướng “về” trong mối tương quan của sinh hữu với những sự vật. Nhưng nếu như ta coi đó là một giả định của Heidegger th́ những vấn đề tri thức luận triết học truyền thống đề nghị - nhất là triết học Hậu-Descartes – về khách quan tính thuần túy của sinh hữu hóa ra là những vấn đề giả (faux problèmes); Kế đến, khi ta đưa mối quan hệ chủ thể-đối tượng của ư thức khách quan khoa học và triết học vào thế giới sống trải th́ cái “đă ở đó/tại” của tiền cấu trúc của In-der-Welt-Sein lại không được làm cho hoàn toàn có thể thấy rơ được. Thật vậy, việc qui chiếu tới sự toàn hợp luôn luôn đă được giả thiết của ư thức khách quan trong thế giới sống trải cũng có thể được hiểu theo cái nghĩa hoàn toàn tĩnh và có hệ thống của một giả thiết cần có, và như vậy trên cơ sở của giả thuyết này ta có thể nói đến việc đào sâu hơn nữa vấn đề triết học siêu nghiệm về sự xây dựng/thiết lập ư nghĩa. Trong trường hợp này người ta tuyệt đối không thể cứu xét đến chiều kích của thời gian tính sinh thể (existentiale) trong triết học Heidegger như sự hiển lộ nơi “đă là” của “tiền cấu trúc” của In-der-Welt-Sein. Tại hữu/Dasein trong triết học Heidegger do đó tùy thuộc vào “giả định” của chính “tiền cấu trúc” của nó không chỉ theo nghĩa luận lư siêu nghiệm mà c̣n theo sự kiện Dasein “luôn luôn đă” “đi trước chính nó” trong thời gian, và theo cách này th́ Dasein không thể thu hồi cái “hữu bị ném vào” của nó như vậy trong một thế giới được định vị và bị điều kiện hóa theo lịch sử và nó cũng không thể thu hồi được sự “rơi xuống” (Verfallenheit) đă xảy ra trong thế giới. Nếu ta theo dơi đến cùng phân tích đă được Heidegger viết trong Phần Hai của Sein und Zeit về cấu trúc của thời tính đặc biệt của hữu-luôn-đă-trong-thế-giới th́ ta sẽ không thể không nhận ra rằng “thời tính” của Dasein hữu hạn và am hiểu/nhận thức ư nghĩa là khả hữu.
Trong tiểu mục “Tương quan giữa Sự Xây dựng/Thiết lập Ư nghĩa với Sự Biện chính Giá trị trong một Triết lư Siêu nghiệm được chuyển biến dưới nhăn giới của một Quan điểm Thực dụng về Ngôn ngữ” (Transformation:207) Apel làm một duyệt xét vấn đề này trong triết học Kant để dẫn tới vấn đề khác biệt giữa sự xây dựng ư nghĩa (Sinnkonstitution) với vấn đề giá trị khả chứng của ư nghĩa (Geltungsrechfertigung). Với Kant vấn đề về những điều kiện khả hữu của giá trị khách quan của nhận thức cũng là vấn đề về sự xây dựng/thiết lập siêu nghiệm về ư nghĩa của khách quan tính (Objektivität) hay của cái khách quan (Gegenständlichkeit), hay một cách chính xác hơn th́ Kant đă đưa vấn đề thứ nhất vào vấn đề thứ nh́. Và đấy là nền tảng của cuộc cách mạng Copernic trong triết học: chúng ta chỉ nhận thức được cái ǵ do chính chúng ta làm nên hay cái chúng ta có thể làm. Apel nhận xét: “Song le Kant chỉ có thể làm cho giải pháp này chấp nhận được Kant đă đem đến cho vấn đề về những điều kiện khả hữu của giá trị (validité) bởi Kant đă tự giới hạn, trong toàn thể việc đặt vấn đề của ḿnh, vào sự xây dựng/thiết lập của h́nh thái (forme de l’objectivité) của khách quan tính của nhận thức, với điều kiện sự xây dựng/thiết lập này là giả thiết của giá trị khách quan (validité objective)” (Transformation: 207). Sự tự giới hạn của Kant ở đây có nghĩa là giới hạn vấn đề trong khoa học thiên nhiên, đúng ra là trong khoa vật lư cổ điển.
Nếu ta bỏ qua không chỉ ra sự khác biệt giữa xây dựng ư nghĩa (Sinnkonstitution) với vấn đề giá trị khả chứng của ư nghĩa (Geltungsrechfertigung) nghĩa là giữa vấn đề làm sao biết được ư nghĩa được thiết lập như thế nào với vấn đề làm sao biện chính được ư nghĩa này th́ ta hoàn toàn không thể nào thấy được tại sao những chủ thể khác nhau, cùng đứng trên cơ sở của những tiêu chí khách quan, lại có thể đạt tới sự đồng ư liên-chủ-thể về giá trị của sự hiểu biết thế giới. Trong khuôn khổ quan niệm của Heidegger dường như diễn tŕnh biện chính này là một việc ngẫu nhiên trong một hoàn cảnh lịch sử cá biệt. Sự thu giảm này của Heidegger đưa đến việc “giải trừ siêu nghiệm hóa” (détranscendantaliser) và “lịch sử hóa” (historiser) vấn đề bán-siêu-nghiệm của sự thiết lập ư nghĩa trong thế giới sống trải. Apel chống lại quan điểm này và bảo lưu quan điểm cho rằng chỉ có diễn tŕnh biện chính giá trị là có thể đưa đến một diễn tŕnh liên chủ thể để tiến tới đồng thuận về giá trị khách quan của nhận thức về thế giới. Khi Heidegger nhấn mạnh tới tiền-am-hiểu hữu thể (précomprehension existentiale) và cho rằng tiền-am-hiểu hữu thể này là cơ sở của chân lư mệnh đề phát biểu th́ Heidegger đă từ chối không cho chân lư mệnh đề một đặc ân riêng biệt trong quan hệ với sự phơi mở tiền-khẳng-định (pré-prédicatif), và rằng chân lư mệnh đề phát biểu phụ thuộc vào một tổng hợp thông diễn căn để hơn, như vậy điều này có nghĩa là diễn tŕnh biện chính (justification) hay làm cho có giá trị (valorization) bị đặt dưới và bị tương đối hóa trong sự khai mở của sự kiện/tính hiện sinh.
(c̣n tiếp)
đào trung đąo
http://www.gio-o.com/DaoTrungDao.html
©gio-o.com 2012