đào trung đąo
Thông Diễn Luận
Martin Heidegger
(102)
Kỳ 1, Kỳ 2, Kỳ 3, Kỳ 4, Kỳ 5, Kỳ 6, Kỳ 7, Kỳ 8, Kỳ 9, Kỳ 10, Kỳ 11, Kỳ 12, Kỳ 13, Kỳ 14 Kỳ 15, Kỳ 16, Kỳ 17, Kỳ 18, Kỳ 19, Kỳ 20, Kỳ 21, Kỳ 22, Kỳ 23, Kỳ 24, Kỳ 25, Kỳ 26, Kỳ 27, Kỳ 28, Kỳ 29, Kỳ 30, Kỳ 31, Kỳ 32, Kỳ 33, Kỳ 34, Kỳ 35, Kỳ 36, Kỳ 37, Kỳ 38, , Kỳ 39, , Kỳ 40, Kỳ 41, Kỳ 42, Kỳ 43, Kỳ 44, Kỳ 45, Kỳ 46, Kỳ 47, Kỳ 48, Kỳ 49, Kỳ 50, Kỳ 51, Kỳ 52, Kỳ 53, Kỳ 54, Kỳ 55, Kỳ 56, Kỳ 57, Kỳ 58, Kỳ 59, Kỳ 60, Kỳ 61, Kỳ 62, Kỳ 63, Kỳ 64, Kỳ 65, Kỳ 66, Kỳ 67, Kỳ 68, Kỳ 69, Kỳ 70, Kỳ 71, Kỳ 72, Kỳ 73, Kỳ 74, Kỳ 75, Kỳ 76, Kỳ 77, Kỳ 78, Kỳ 79, Kỳ 80, Kỳ 81, Kỳ 82, Kỳ 83, Kỳ 84, Kỳ 85, Kỳ 86, Kỳ 87, Kỳ 88, Kỳ 89, Kỳ 90, Kỳ 91, Kỳ 92, Kỳ 93, Kỳ 94, Kỳ 95, Kỳ 96, Kỳ 97, Kỳ 98, Kỳ 99, Kỳ 100, Kỳ 101, Kỳ 102,
Derrida trích dẫn những câu 16, 27, và 29 (1) trong Crépuscule des idoles/Hoàng hôn của những thần tượng để chỉ ra tính chất bất đồng nhất trong bản văn của Nietszche và phê phán Heidegger đă cố t́nh bỏ sót câu đáng chú ư của Nietszche “sie wird Weib” “Chân lư trở thành phụ nữ” “như thể người ta bỏ qua trang sách có một h́nh ảnh nhạy cảm trong quyển sách triết học, giống như người ta tháo bỏ một trang minh họa hay một h́nh dung dụ ngôn trong một quyển sách nghiêm túc. Để được nh́n mà không đọc hay để đọc mà không nh́n,”(2), Derrida mỉa mai. Derrida cho rằng khi viết những câu này “Nietszche không những không có ảo tưởng - mà c̣n phân tích vấn đề là đằng khác – là ḿnh thấu hiểu những hậu quả có tên gọi là phụ nữ, chân lư, thiến hoạn, “hay những hậu quả hữu thể luận về hiện diện hay khiếm diện. Nietszche đă cẩn trọng tránh việc phủ nhận vội vă bằng cách chỉ đưa ra diễn ngôn giản lược chống lại thiến hoạn cũng như chống lại hệ thống của thiến hoạn” (3), sử dụng cách “nói nhại kín đáo” (parodie discrète), “sách lược văn tự” (stratégie d’écriture), và “sự khác biệt hay viết chệch đi” (différence ou écart de plumes) : nói cho gọn đó chính là tính chất bất đồng nhất của bản văn Nietszche trong ba diễn giải về phụ nữ sau đây: 1. Phụ nữ bị kết án, khinh miệt v́ gian dối; 2. Phụ nữ bị kết án khi vừa là chân lư vừa là không-chân lư, chơi tṛ lợi dụng chân lư có lợi cho ḿnh; 3. Nhưng phụ nữ lại được nh́n nhận, bất kể hai phủ nhận nêu trên, như sức mạnh khẳng định, che dấu, nghệ sĩ ảo thuật tài t́nh và hoan lạc: phụ nữ tự xác định chứ không do đàn ông xác định, nơi phụ nữ thiến hoạn không có một vị trí. Derrida chỉ ra đồ họa âm hộ (graphique de l’hymen), cũng là pharmakon, của tính chất bất đồng nhất này trong bản văn của Nietszche, hymen/pharmakon đặt giới hạn cho thẩm quyền thông diễn hay việc hệ thống hóa tư tưởng Nietszche. Tính chất bất đồng nhất này cũng chỉ ra cái “lề” (marge) ở đó việc áp đặt ư nghĩa hay kư hiệu là bất khả. Tuy nhiên, theo Derrida, không cần thiết phải chọn lựa tính chất bất đồng nhất hay sách lược nói/viết nhại một cách thụ động, cũng không nên kết luận rằng Nietszche có khả năng làm chủ hoàn toàn trong cách viết, “quyền năng” của Nietszche là “không thể lay chuyển,” hay cách giăng bẫy của Nietszche là hoàn hảo, nhất là khi người ta muốn từ đó đi đến kết luận đó là một kiểu tính toán vô tận giống như cách tính toán của Thượng đế của Leibniz để phản phé thế thượng phong của thông diễn luận. Làm như vậy tức là lại coi nói/viết nhại, giả h́nh (parodie, simulacre) là một dụng cụ, một vũ khí phục vụ chân lư hay thiến hoạn, tái lập tôn giáo, như việc tôn sùng Nietszche hay như “chức thầy tế của những kẻ diễn giải nói/viết nhại” (prêtise de l’interprète es parodies, interprêtise).(4) Theo Derrida, nói/viết nhại luôn giả thiết có sự thơ ngây phần nào, diễn ra trong vô thức, và có vết tích của sự không làm chủ, mất mát tri thức. Không thể có nói/viết nhại hoàn toàn đựoc tính toán. Derrida nghi ngờ chính “Nietszche trong một cái chớp mắt, trong một khoảnh khắc đă đui mù, và với sự đui mù đều đặn, nhịp nhàng này người ta sẽ chẳng bao giời kết thúc, đă xảy ra trong bản văn. Nietszche đă hơi thất lạc trong đó. Khi nào có hymen, điều này có thể tự khẳng định, là có sự mất mát. Trong mặt căng của bản văn, Nietszche hơi lạc lối, giống như con nhện thấy ḿnh không lớn bằng cái mạng ḿnh nhả ra.”(5) Do đó, ít ra đối với Nietszche, không làm ǵ có một người phụ nữ, một chân lư tự nội của phụ nữ. Nietszche trong bản văn của ḿnh đă bày hàng một đám những bà mẹ, những thiếu nữ, những người chị người em, những bà gái già, những bà vợ, những bà quản gia, những gái mại dâm, những trinh nữ, những bà nội bà ngoại, những thiếu nữ cao sang hay ty tiện. V́ phụ nữ theo Nietszche vừa là chân lư vừa là không-chân lư nên Derrida đi đến kết luận: “Chính v́ lư do đó, không làm ǵ có một chân lư của Nietszche hay của bản văn của Nietszche.”(6) Chân lư nơi Nietszche luôn ở số nhiều, không có chân lư tự nội (vérité en soi). Tất cả những dẫn chứng Derrida đưa ra nhằm xác định sự bất quyết về ư nghĩa khi hủy tạo bản văn không riêng trong trường hợp Nietszche mà đối với mọi bản văn. Điều này cũng có nghĩa đề án thông diễn luận là không chính đáng. “Khi mà vấn đề phụ nữ “treo” sự đối nghịch có thể quyết định về đúng thực và không-đúng thực, thiết lập thể chế thời đại của những dấu ngoặc kép cho tất cả những khái niệm thuộc về hệ thống khả quyết triết lư, làm mất tư thế đề án thông diễn luận giả thiết có một ư nghĩa đúng của một bản văn, giải phóng việc đọc khỏi chân trời ư nghĩa của hữu hay chân lư của hữu, ra khỏi những giá trị của việc sản xuất của sản phẩm hay của sự hiện diện của vật hiện diện, cái mà nó tháo xích, đó chính là vấn đế cách viết như vấn đề về văn tự, vấn đề của một thao tác xuyên thủng mănh liệt hơn mọi nội dung, mọi chủ đề và mọi ư nghĩa. Mũi nhọn cây viết đi qua mặt bản viết, không chỉ xé rách để nh́n thấy hay để sản xuất chính sự vật, nhưng để tháo bỏ sự đối nghịch với chính ḿnh, một sự đối nghịch gấp nếp trên chính nó của cái được che phủ/bị lột ra, của chân lư như sản xuất, sự lột trần/phá bỏ sự che dấu của sản phẩm trong sự hiện diện.(7) Cách viết như một thao tác chọc thủng/opération éperonnante này vừa là cách viết/style vừa là những cách viết/styles của Nietszche. Tại sao? Câu trả lời không đơn giản rằng Nietszche không chỉ bênh vực một cách viết mà c̣n dung nạp những cách viết khác. Cách viết, trong bản văn của Nietszche, tiến tới như mũi nhọn vừa để công phá vừa để bảo vệ. Theo Derrida, cách viết chọc thủng/style éperonnant xuyên phá những quan niệm thông thường của chúng ta về thực tại được coi như sự hiện diện của cái được biểu thị (le signifíé).
Phần phản bác Heidegger quan trọng nhất trong Éperon phải chờ khi Derrida hủy tạo bản văn của Nietszche khi Nietszche phân tích sự khác biệt về giới tính, về “cuộc chiến không ngưng nghỉ giữa những giới tính,” về “sự căm thù sinh tử giữa hai giới tính” về “t́nh yêu”, về t́nh dục…Theo Derrida, những ư tưởng của Nietszche ở đây tất cả đều có mũi chỉ (vecteur) về diễn tŕnh hữu tư (procès de propriation). Chúng tôi coi đây là phần phản bác tư tưởng Heidegger quan trọng hàng đầu của Derrida v́ sau Sein und Zeit diễn giải Hữu từ phân tích Dasein/Tại thể Heidegger trong Beiträge zur Philosophie (Vom Ereignis) t́m con đường ngược lại đi t́m Hữu trong lịch sử Hữu thể luận qua diễn biến sở hữu hai chiều qua lại giữa Hữu và Tại hữu trong Ereignis.
__________________________________
(1) Trích dẫn từ bản song ngữ Pháp-Anh Spurs/Éperons trang 82-84: Câu 16: Unter Frauen. “Die Wahrheit? O Sie kennen die Wahrheit nicht! Ist sie nicht ein Attentat auf alle unsere pudeurs?” “Chân lư hả? Ồ! Ngươi không biết chân lư sao! Chẳng phải chân lư chỉ là một mưu toan ám sát những sự kín đáo thận trọng của chúng tôi sao?; Câu 27: “Man halt das Weib für tief – warum? Weil man nie bei ihm auf den Grund kommt. Das Weib ist noch nicht einmal flach.” “Người ta coi phụ nữ là sâu thẳm – sao vậy? bởi người ta chẳng bao giờ có thể tiến tới chỗ cùng tận nơi phụ nữ được. Phụ nữ lại cũng chẳng phải là nông.”; Câu 29: “Wie viel hatte ehemals das Gewissen zu beißen! Welche guten Zähne hatte es! – Und heute? Woran fehlt es? Frage eines Zahnarztes.” “Lương tâm đă phải gậm nhấm biết bao nhiêu trong quá khứ! Lương tâm có hàm răng sắc nhọn là dường nào! – Thế c̣n hôm nay th́ sao? Lương tâm thiếu cái ǵ nhỉ? Vấn đề về anh nha sĩ.”
(2) Sđd, 84: Tout les éléments du texte sont analysés, sans exceptions, sauf le devenir-femme de l’idée (sie wird Weib), qui se trouve donc délaissé, un peu comme on sauterait une image sensible dans un livre de philosophie, comme on arrachait aussi une page illustrée ou une réprésentation allégorique dans un livre sérieux. Ce qui permet de voir sans lire ou de lire sans voir.
(3) Sđd, 94: Nietszche ne se donnait pas l’illusion, l’analysait au contraire, de savoir ce qu’il en était des effets nommés femme, vérité, castration, ou des effets ontologiques de présence et d’absence.
(4) Sđd, 100.
(5) Sđd, Dans la toile du texte, Nietszche est un peu perdu, comme une araignée inégale à ce qui s’est produit à travers elle.
(6) Sđd, 102: Pour cette raison même, il n’y a pas une vérité de Nietszche ou du texte de Nietszche.
(7) Sđd, 106: Dès lors que la question de la femme suspend l’opposition décidable du vrai et du non-vrai, instaure le régime époqual de guillemets pour tous les concepts appartenant au système de cette décidabilité philosophique, disqualifie le projet herméneutique postulant le sens vrai d’un texte, libère la lecture de l’horizon du sens de l’être ou de la vérité de l’être, des valeurs de production du produit ou de présence du présent, ce qui se déchaîne, c’est la question du style comme question de l’écriture, la question d’une opération éperonnante plus puissante que tout contenu, toute thèse et tout sens. L’éperon stylé traverse le voile, ne le déchire pas seulement pour voir ou produire la chose même, mais défait l’opposition à soi, l’opposition pliée sur soi du voilé/dévoilé, la vérité comme production, dévoilement/dissimulation du produit en présence.
(c̣n tiếp)
đào trung đąo
http://www.gio-o.com/DaoTrungDao.html
©gio-o.com 2013