đào trung đĄO
Thông Diễn Luận
Martin HeideggeR
(34)
Kỳ 1, Kỳ 2, Kỳ 3, Kỳ 4, Kỳ 5, Kỳ 6, Kỳ 7, Kỳ 8, Kỳ 9, Kỳ 10, Kỳ 11, Kỳ 12, Kỳ 13, Kỳ 14 Kỳ 15, Kỳ 16, Kỳ 17, Kỳ 18, Kỳ 19, Kỳ 20, Kỳ 21, Kỳ 22, Kỳ 23, Kỳ 24, Kỳ 25, Kỳ 26, Kỳ 27, Kỳ 28, Kỳ 29, Kỳ 30, Kỳ 31, Kỳ 32, Kỳ 33, Kỳ 34, Kỳ 35, Kỳ 36, Kỳ 37, Kỳ 38, , Kỳ 39, , Kỳ 40, Kỳ 41, Kỳ 42, Kỳ 43, Kỳ 44, Kỳ 45, Kỳ 46, Kỳ 47, Kỳ 48, Kỳ 49, Kỳ 50, Kỳ 51, Kỳ 52, Kỳ 53, Kỳ 54, Kỳ 55, Kỳ 56, Kỳ 57, Kỳ 58, Kỳ 59, Kỳ 60, Kỳ 61, Kỳ 62, Kỳ 63, Kỳ 64, Kỳ 65, Kỳ 66, Kỳ 67, Kỳ 68, Kỳ 69, Kỳ 70, Kỳ 71, Kỳ 72, Kỳ 73, Kỳ 74, Kỳ 75, Kỳ 76, Kỳ 77, Kỳ 78, Kỳ 79, Kỳ 80, Kỳ 81, Kỳ 82, Kỳ 83, Kỳ 84, Kỳ 85, Kỳ 86, Kỳ 87, Kỳ 88, Kỳ 89, Kỳ 90, Kỳ 91, Kỳ 92, Kỳ 93, Kỳ 94, Kỳ 95, Kỳ 96, Kỳ 97, Kỳ 98, Kỳ 99, Kỳ 100, Kỳ 101, Kỳ 102, Kỳ 103, Kỳ 104, Kỳ 105, Kỳ 106, Kỳ 107, Kỳ 108, Kỳ 109, Kỳ 110,
Nguyên
lư đệ nhất của Thông-diễn-luận triết
học của Heidegger.
Như chúng ta đă biết trong giai đoạn từ những năm 20s đến 30s Heidegger dùng chữ Thông diễn luận theo nghĩa rộng , “nghĩa rộng ở đây được hiểu là: theo sát tính chất rộng khắp xuất phát từ hữu nguyên ủy. Trong Hữu và Thời thông-diễn-luận không có nghĩa là lư thuyết của nghệ thuật diễn giải hay là chính sự diễn giải, nhưng là một thử nghiệm trước hết định nghĩa bản chất của diễn giải trên nền tảng thông diễn.” (Unterwegs zur Sprache). Giải thích lư do (ở thời điểm năm 1953) tại sao sau này không c̣n dùng từ Thông diễn luận nữa Heidegger phát biểu với vị khách người Nhật “Tôi đă bỏ điểm đứng trước đây không phải để chuyển sang một điểm đứng khác nhưng bởi v́ ngay cả điểm đứng trước đây cũng chỉ là một chạm dừng chân trên suốt lộ tŕnh. Yếu tố bền bỉ trong việc tư tưởng là chính con đường. Và những con đường tư tưởng chứa đựng nơi chúng cái phẩm tính ẩn mật khiến chúng ta có thể bước tới bước lui, và quả thực chỉ có con đường trở lui là sẽ dẫn chúng ta bước tới.” (WL:12) Trước đó, trong Hermeneutik der Faktizitȁt GA63 (1923) Heidegger cũng viết: “Phần tôi, tôi ngờ…rằng thông-diễn-luận hoàn toàn không phải là triết học, nhưng là một cái ǵ đó có tính chất khai mào hướng đạo thật đặc biệt (etwas recht Vorlȁufiges), sự khai hướng này chắc chắn có tính chất riêng biệt của nó: Vấn đề không phải là kết thúc sự khai hướng này càng nhanh càng tốt mà là kiên tŕ ở trong đó càng lâu càng tốt.” (GA63:20)
Ở giai đoạn Sein und Zeit triết lư được Heidegger quan niệm là hữu-thể-học hiện tượng luận phổ quát lấy khởi điểm từ thông diễn Hiện thể, thông diễn này hiểu như phân giải hiện sinh đă qui định sợi dây xuyên suốt cho mọi tra vấn triết học tại điểm nơi chính nó xuất hiện và đó cũng là nơi nó quay trở lại (zurrȕckschlȁgt).” (GA2:436:487). Năm 1966 trong quyển Zur Sache des Denkens [SD] (bản Anh ngữ On Time and Being của Joan Stambaugh) nơi bài thuyết tŕnh thứ tư “Chung cuộc của Triết lư và Nhiệm vụ của Tư tưởng” Heidegger cho biết: “Bản văn dưới đây thuộc về một phạm vi rộng lớn hơn. Nó là một nỗ lực được cam kết làm đi làm lại kể từ năm 1930 để định h́nh vấn đề Hữu và Thời một cách nguyên ủy hơn nữa. Điều này có nghĩa: đưa vấn đề về điểm khởi hành của câu hỏi trong Hữu và Thời tới một phê phán nội tại. Như thế vấn đề phải trở thành rơ rệt rằng trong chừng mực nào câu hỏi nền tảng của vấn đề tư tưởng là ǵ, vấn đề thiết yếu và liên tục thuộc về tư tưởng. Phù hợp với điều này, tên của nhiệm vụ của Hữu và Thời cũng sẽ thay đổi.”(SD:55) Chung cuộc của triết lư theo Heidegger là sự chấm dứt của những siêu-h́nh-học. Tư tưởng về cái chung cuộc của triết lư có nghĩa hướng về khởi đầu của vấn đề Hữu trong Hữu và Thời. Nhưng cả trong quyển GA63 lẫn trong Sein und Zeit (§7C) Heidegger đều không cho biết chính xác điểm khởi dầu (Ansatz) của câu hỏi trong Hữu và Thời là ǵ? Will McNeill trong bài viết về “Nguyên lư Đệ nhất/Tiên khởi của Thông-diễn luận” (Chương 22 trong tập Reading Heidegger from the Start do Theodore Kisiel và John van Buren biên soạn) nêu câu hỏi: Đâu là nơi chốn khởi đầu đó? Từ điểm khởi đầu nào mọi tra vấn triết lư xuất phát? Bằng cách nào cả khởi đầu lẫn chung cuộc của triết lư được ghi dấu trong phân tích Hiện thể? Và tại sao sự phân giải như phân giải thông diễn đó, lại được Heidegger cho là một thứ “khai hướng một cách rơ rệt”? Nói cách khác thông-diễn-luận có yếu tố cơ bản nào, tức là có nguyên lư tiên khởi nào.
Theo Heidegger, thông diễn là thao tác khởi đầu bằng việc tra vấn (die Fragestellung/questioning) của tư tưởng và những bước trong tiến tŕnh tra vấn được hướng dẫn bởi khởi đầu (Ansatz) và điểm khởi hành.
Để có câu trả lời cho vấn đề t́m hiểu nguyên lư đệ nhất/tiên khởi (First Principle) trong thông-diễn-luận của Heidegger chúng ta có thể t́m được hướng trả lời trong Phần Hai của quyển GA20 Prolegomena zur Geschichte des Zeitbegriffs/Khái luận về Lịch sử Khái niệm Thời gian (bản Anh ngữ History of the Concept of Time (CT) của Theodore Kisiel) Heidegger viết để thuyết giảng vào Mùa Hè năm 1925, và quyển này thường được coi như bản sơ thảo phần đầu của Sein und Zeit/Hữu và Thời xuất bản năm 1927. Cũng như Sein und Zeit quyển Geschichte des Zeitbegriffs không hoàn thành như dự tính của tác giả.
Trong phần Nhập đề Heidegger nói về: Bản chất và Lịch sử coi như những phạm vi của đối tượng cho các khoa học, Khai dẫn vào một hiện tượng luận về lịch sử và về thiên nhiên dưới sự hướng dẫn của lịch sử khái niệm thời gian, Đề cương bài giảng. Như ta thấy, tham vọng của Heidegger tiếp sau giáo tŕnh Hermeneutik der Faktizitȁt GA63 là tiếp tục biến cải hiện tượng luận của Husserl để thực hiện một hữu-thể-học phổ quát đặt cơ sở trên hiện tượng học thông diễn (hermeneutic phenomenology) .Trong phần nhập đề Heidegger bàn về “Ư nghĩa và Nhiệm vụ của Nghiên cứu Hiện tượng luận” gồm 3 chương với Chương 1 Sự xuất hiện và Đột phá khởi đầu của Nghiên cứu hiện tượng luận; Chương 2 Những Khám phá cơ bản của Hiện tượng luận, Nguyên lư của Hiện tượng luận và Minh giải cái tên của nguyên lư; Chương 3 Triển khai buổi đầu của Nghiên cứu trong và từ chính Hiện tượng luận. Mục đích của ba chương mở đầu này là để tŕnh bày quan niệm của Heidegger về hiện-tượng-luận khác với quan niệm của Husserl.
Phải sang đến Phần Chính với tựa đề “Phân tích Hiện tượng Thời gian và Nguồn cội Khái niệm Thời gian” chúng ta mới t́m thấy những chỉ dẫn cho câu hỏi đâu là nguyên lư đệ nhất/tiên khởi của thông diễn luận. Phần Chính này gồm có hai Phân mục (Division): Phân mục 1 “Mô tả chuẩn bị Phạm vi trong đó Hiện tượng Thời gian trở thành hiển lộ” và được chia ra bốn chương được đánh dấu từ §14 đến §31 và Phân mục 2 Tŕnh bày chính Thời gian chỉ gồm §§32, 33, 35 và 36. Một cách khái lược trong Chuơng 1 của Phân mục 1, Heidegger chỉ ra rằng câu hỏi/vấn đề Hữu chỉ thể xuất phát từ nhận thức hoàn cảnh lịch sử riêng biệt, hoàn cảnh này đă có sẵn đấy, trùng hợp một cách cao độ với chính Dasein trong chừng mực Dasein được định nghĩa như những khả tính tự phơi lộ: “Nền tàng duy nhất của khả tính của vấn đề/tra vấn Hữu một cách tổng quát là chính Hiện thể được coi như một khả hữu có tính chất phơi mở (Entdecktheit). Theo Petra Jaeger, người biên tập bản thảo quyển Prolegomena zur Geschichte des Zeitbegriffs, khi đọc bản ghi chép quyển này của Simon Moser để xuất bản thành sách Heidegger đă gạch bỏ chữ Entdecktheit (discoveredness/tính chất được khám phá) và thay vào bằnng chữ Erschossenheit (disclosedness/tính phơi mở) và viết vào bên lề “Tính phơi mở như vậy không phải trước tiên được mở ra từ tính khám phá nhưng đúng ra là cùng tạo nên tính chất khám phá. Tuy tính chất phơi mở có thể được chuyên tâm nghiên cứu chính bởi v́ nó là tính phơi mở – không bao giờ trôi nổi tự do – hữu của việc nghiên cứu.” Vậy chính Dasein là nơi chốn từ đó xuất phát câu hỏi/ vấn đề Hữu. Để định rơ hơn nơi chốn phát xuất câu hỏi về Hữu, Heidegger trong §§15-17 qui đinh nơi chốn này theo giải thích mở đầu về Dasein, và cho rằng việc đặt thành vấn đề (die Fragestellung) Hữu như sự phân tích Dasein là tiên khởi (vorgangig) hoặc là hướng dẫn (vorlȁufig). Trong §15 “Sự xuất lộ câu hỏi/vấn đề hữu từ một tiền-am-hiểu chưa định rơ (indeterminate preunderstanding) của Dasein – vấn đề hữu và nhận thức hữu” Heidegger cho rằng câu hỏi này phải được đặt ra, nghĩa là phải được nêu ra như một vấn đề để nghiên cứu, phải được biểu lộ/tŕnh bày ra, tuy nhiên đây không phải là một câu hỏi được đặt ra một cách mù quáng, khiên cưỡng và câu trả lời không phải là đoán ṃ vô mục đích và tùy tiện. “Biểu lộ/tŕnh bày câu hỏi về hữu có nghĩa khảo sát kỹ câu hỏi/vấn đề theo cách sự khảo sát này sẽ đạt tới cái chân trời chắc thực của một truy t́m vào hữu của những thực thể (chân trời của vấn đề) cùng với một đề cương con đường khảo sát và những bước/khâu của việc nghiên cứu t́m kiếm ra câu trả lời.” (CT:143). Vấn đề/câu hỏi về hữu là một câu hỏi định nghĩa, tức là hỏi về ư nghĩa của hữu và như thế hữu, cái sẽ được xác định, đă được hiểu là ǵ rồi, tức là ta đă có cả một sự am hiểu từ trước tuy chưa được xác định rơ ràng (unbestimmheit) về hữu, nhưng dù sao đi nữa đó cũng đă là sự am hiểu rồi. Tiền-am-hiểu này thuộc về Dasein được coi như một khả hữu, và khả hữu cực điểm của Dasein không ǵ khác hơn là cái chết, tức là sự chấm dứt của Dasein. Như thế có thể thấy Unbestimmheit/Tính chưa xác định chung cuộc thuộc về Thời. Nội dung của “tiền-“ trong tiền-am-hiểu hướng dẫn sự tra vấn/câu hỏi chỉ ra khả tính của của tra vấn nghĩa là tra vấn/câu hỏi đă có sẵn đó trước khi được đặt thành vấn đề, đă được hiểu – tuy chưa rơ ràng – từ trước theo cách sự am hiểu này có thể quay trở lại sự tra vấn/câu hỏi bất kỳ lúc nào để truy phục và lập lại theo cách đặt thành vấn đề. Sự truy phục/hồi (Wiederholung) này tạo nên phương pháp khảo sát như là diễn giải thông diễn luận.
(c̣n tiếp)
đào trung đạo